Sáng 30.10 sau khi đưa Hoàng Như Phước đến nơi an nghỉ, nhóm thân hữu Dalat gồm Lê Ngọc Sử (LH-LVC), VC Trương Văn Lào (LH-HTK) – Sang cùng đi với cháu Long (con của bạn Nguyễn Văn Cam) về SG, trên đường đi thật bất ngờ do Long chuyển hướng sang thị xã Giá Rai nên bọn này được ghé thăm nhà Bạn Nguyễn Văn Thế (T-HTK).
Đưa tang bạn Hoàng Như Phước xong, nhóm thân hữu Dalat ghé thăm bạn Nguyễn Văn Thế (T-HTK):
Trái qua: vợ chồng Sang – Lào, Nguyễn Văn Thế, Lê Ngọc SửSử, Thế, Lào.Sử, Thế, Lào và Long (con trai bạn Nguyễn Văn Cam)Nguyễn văn Thế, vợ bạn Thế – ngồi xe lăn đã lâu, bạn Thế phải chăm sóc hàng ngày nên không thể đi xa dự các Hội khóa vừa rồi – vợ chồng Sang – Lào.
Đa số người Việt Nam biết Huế không chỉ vì Huế có nhiều cảnh đẹp, có nhiều di tích lịch sử như đền đài, lăng tẩm, thành quách cổ kính mà còn vì những bài thơ trữ tình của các thi nhân nổi tiếng, những câu hò êm ái đượm tình quê hương và nhất là những bản tân nhạc ca tụng xứ Huế thơ mộng đã được phổ biến đến khắp mọi miền trên đất nước.
Có những người chưa bao giờ đặt chân đến Huế nhưng qua các bài hát lại thuộc lòng tên những danh lam thắng cảnh của đất cố đô như sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ, đài Nam Giao, thôn Vĩ Dạ, v..v… Huế là cái nôi văn hóa của miền Trung, là nguồn cảm hứng của các văn nhân, nghệ sĩ, là nơi dừng chân của các tao nhân mặc khách . Người ta biết đến Huế nhiều nhưng ít ai biết đất cố đô đã sản sinh ra bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác tài hoa . Khi người Pháp đặt chân lên đất nước VN họ mang theo vào cả nền âm nhạc Tây phương và đem truyền bá trong dân chúng . Những nhạc sĩ của đất Thần Kinh cũng dần dần làm quen với ký âm pháp phương Tây và từ đó các nhạc sĩ sáng tác tân nhạc đầu tiên ra đời.
1 – NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN THƯƠNG
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương (1919 – 2002)
Người nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc VN ở cố đô Huế là nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Ông sinh ngày 22 – 05 – 1919 và mất ngày 06 – 12 – 2002 tại Saigon, hưởng thọ 84 tuổi. Ông sinh ra trong một gia đình yêu thích âm nhạc. Năm lên 9 tuổi, ông bắt đầu học đàn nguyệt sau đó qua sách vở của người Pháp ông tự học ký âm pháp. Năm 1936, ông tốt nghiệp bậc trung, học tại trường Khải Định Huế và cũng năm này, ông sáng tác bản nhạc đầu tay “Tiếng sông Hương” là bài tân nhạc đầu tiên của xứ Huế. Lúc ấy ông mới 17 tuổi nhưng tên của ông đã bắt đầu đi vào làng âm nhạc VN. Năm 1939 ông lại cho ra đời bản “Đêm đông” là một kiệt tác của tân nhạc VN thời bấy giờ. Bài hát với nét nhạc trữ tình êm ái tiềm ẩn một nỗi buồn man mác, lời ca trau chuốt, mượt mà, đã đi vào lòng người VN qua bao thế hệ. Nữ ca sĩ Bạch Yến là người hát bài “Đêm đông” hay nhất. Bài ca này, lúc đầu được viết theo thể điệu Tango, nhưng khi Bạch Yến trình diễn thì chuyển qua Slow Rock nghe hay hơn. Trong thập niên 60, cô cũng đã trình bày nhạc phẩm này trong sô Ed Sullivan của Mỹ. Năm 1942 nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác thêm ca khúc “Bướm hoa” cũng được nhiều người ưa thích nhưng không bằng “Đêm đông”.
Sau đó, ông theo kháng chiến tập kết ra Bắc. Ở ngoài Bắc trong thời gian chống Pháp, ông viết bản “Bình Trị Thiên khói lửa”, soạn nhạc cho các điệu múa của các vở kịch “Chim gâu”, “Tấm Cám”, “Múa ô”, “Chàm rông”. Nhạc phẩm “Bài ca trên núi” ông viết cho phim “Vợ chồng A Phủ”.
Sau một thời gian tu nghiệp tại CHDC, Đức, ông trở về nước làm giám đốc Nhạc viện Hà Nội và tiếp tục sáng tác. Ông có những tác phẩm về khí nhạc như “Lý hoài nam”, “Buôn làng vào hội”, “Quê hương”. Trong thời gian ở Đức ông có sáng tác khí nhạc như “Ngày hội non sông”, “Rhapsodie 2”, “Trở về đất mẹ”. Bản giao hưởng “Đồng khởi” của ông được trình diễn ở Leipzig (CHDC Đức) năm 1971.
Cho dù các tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương có uyên bác đến đâu đi nữa rất ít người biết đến .
Đa số người VN chỉ biết đến ông qua nhạc phẩm “Đêm đông ” mà thôi .
Đêm đông xa trông cố hương buồn lòng chinh phu Đêm đông bên sông ngẩn ngơ kìa ai mong chồng Đêm đông thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư Đêm đông ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng Đêm đông ta lê bước chân phong trần tha hương Có ai thấu tình cô lữ đem đông không nhà .
Hoàn cảnh đưa đẩy nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác bài ca bất hủ này đã được chính tác giã kể lại cho nhạc sĩ Trương Quang Lục như sau:
“Sau khi đỗ Thành Chung ở Huế tôi ra Hà Nội học để thi Tú Tài. Dịp Tết Nguyên đán năm 1939, không có đủ tiền để về quê ăn Tết, đêm giao thừa tôi đi lang thang khắp phố phường Hà Nội dưới trời mưa phùn lạnh buốt, không một bóng người qua lại trên đường. Qua ga Hàng Cỏ nghe tiếng còi vang lên trong đêm khuya càng thêm nhớ nhà da diết. Dọc phố Khâm Thiên một vài căn nhà vẫn còn sáng đèn. Nghe tiếng chân qua đường, một cô gái bước ra nhìn, thất vọng quay vào soi gương treo cạnh cửa, đưa tay vuốt mái tóc. Trời đã khuya, tôi trở về phòng trọ, gió lùa qua khe cửa rít lên từng hồi suốt đêm. Tôi trăn trở không ngủ được, nghĩ đến cuộc đời bất hạnh của những người nghèo khổ, tha hương trong đêm đông lạnh lẽo. Và bài hát “Đêm đông” ra đời trong đêm ấy.
2 – NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA
Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (1914 – 1997)
Ông sinh năm 1914 tại làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị và mất năm 1997 tại Saigon, hưởng thọ 83 tuổi. Tuy sinh ra tại Quảng Trị nhưng suốt cuộc đời và sự nghiệp của ông đã gắn liền với cố đô Huế.
Với bút hiệu Đạo Tâm, ngoài tân nhạc ra ông là một nhà nghiên cứu, một nhạc sư cổ nhạc VN. Ông biết sử dụng nhiều loại nhạc khí cổ truyền khác nhau, là người có công phát triển và bảo tồn nền cổ nhạc miền Trung. Năm lên 8 tuổi ông bắt đầu học đàn. Năm 16 tuổi ông đã hòa nhạc cổ thu vào dĩa Beka của Đức.
Năm 1932 ông áp dụng ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc VN ở Huế. Công trình của ông rất được nhiều người tán thưởng. Năm 1938 ông đậu thủ khoa đàn nhị. Tháng 8 năm 1945, sau khi Việt Minh lên nắm chính quyền, ông về quê Quảng Trị. Nhưng cuộc đời của ông chỉ có duyên nợ với đất Thần Kinh, nên năm 1950, ông trở lại Huế. Cũng năm này ông thành lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng quốc nhạc VN, bảo tồn nhiều loại nhạc khí cổ truyền, tàng trữ sách vở về âm nhạc cũng như những tài liệu thu thanh quí giá. Chỉ cần vào cửa Thượng Tứ, rẽ trái khoảng một trăm thước ta sẽ thấy Viện Tỳ Bà của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Ông được triều đình Huế tặng thưởng huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng chức Hàn lâm viện Đãi chiếu. Sau 1954, ông vào Nam, dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, làm khoa trưởng lý thuyết các trường đại học Vạn Hạnh, Saigon, Huế. Sau đó, ông trở về làm giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế. Sau biến cố Tết Mậu Thân (1968) Viện Tỳ Bà bị tàn phá, gia đình ông dời vào Saigon. Sau năm 1975, gia đình ông thành lập một cơ sở nhỏ chuyên sản xuất các loại đàn cổ rất tinh vi ở quận Phú Nhuận, đồng thời ông cùng người con gái lớn là nhạc sĩ Tuệ Quang mở lớp dạy đàn tranh, học sinh theo học rất đông. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba là người có công truyền bá cái tinh hoa của nền quốc nhạc về nhiều phương diện như trình diễn, khảo cứu, cổ động và giáo dục. Ông đã đào tạo được nhiều học trò nổi tiếng trong ngành cổ nhạc như Phạm Thúy Hoan (Saigon), Phương Oanh (Paris), Quỳnh Hạnh (Paris).
Tác phẩm ông để lại cho hậu thế cũng khá nhiều . Về tân nhạc gồm có các nhạc phẩm như : “Quảng đường mai (1940)”, “ Xuân xuân (1947)”, “Lửa rừng đêm (1947)” , “Thu khói lửa (1950)”, “Tiếng hát quân Nam (1950)”, “Ánh dương trời Nam (1951)”. Về các tác phẩm nghiên cứu và giáo dục gồm có : “Tự học đàn nguyệt (1940)”, “Vài thiên kiến về âm nhạc (1950)”, “Bản đàn tranh (1951)”, Nhạc pháp quốc học (1960)”, “Đàn tỳ bà (1962)”, “Đàn độc huyền (1962)” “Đàn nhị huyền (1962)”, “Bài ca Huế (1962)”, “Phương pháp học đàn tranh (1962)”, “Dân ca VN (1961)”. Năm 1966, thu thanh tài liệu nhạc Huế (nhạc Cung đình và nhạc Phật giáo) cùng với Ca Huế cho cơ quan UNESCO vào dĩa 33 vòng đặt tên là VIETNAM 1. Năm 1971, thu thanh VIETNAM 2 do ông cung cấp tài liệu, với sự trợ giúp của nhạc sĩ Trần Văn Khê. Năm 1998, cả hai dĩa VN1 và VN2 được hãng đĩa Rounder Records ở Mỹ tái bản dưới hình thức CD.
3 – NHẠC SĨ VĂN GIẢNG
Nhạc sĩ Văn Giảng
Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 05 năm 1924 tại Huế, trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Ông nội của ông là một nhạc sĩ cổ nhạc. Lúc còn nhỏ ông học đàn mandoline. Khi lên trung học thấy người ta đàn guitare ông rất thích. Có giai thoại kể rằng, thuở đó, trong khu phố của ông có một người biết đàn guitare, ông đến xin học; nhưng ông thầy này ra điều kiện là phải mua tặng cho ông ta một cây đàn guitare mới. Nhà nghèo làm sao có tiền mua đàn để tặng, ông phải đành ở nhà tự học.. Nhưng sau môt thời gian, tài nghệ sử dụng đàn guitare cùng kiến thức về âm của ông đã vượt qua ông thầy, và chính ông này lại đến nhờ ông chỉ bảo thêm. Năm 1949, ông sáng tác bài “Thúc quân”, một bản nhạc hùng rất được nhiều người ưa thích. Cùng năm này, ông cho ra đời bài “Ai về sông Tương” với bút hiệu Thông Đạt. Nhạc phẩm này được thính gìả cả nước tiếp đón một cách nồng nhiệt qua các đài phát thanh, riêng đài Pháp Á chọn làm bài hát hay nhất trong năm 1949, và được tái bản 6 lần không kể những lần in tại hải ngoại sau 1975. Hiện nay, nhạc phẩm này được đánh giá là một trong 10 bài hát hay nhất trong âm nhạc VN. Có một giai thoại khác về nhạc sĩ Văn Giảng với bài “Ai về sông Tương” như sau : “Trong các thập niên 40, 50 ở Huế có nhà xuất bản Tinh Hoa nổi tiếng, chuyên xuất bản các nhạc phẩm của các nhạc sĩ trong nước. Một hôm, ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà xuất bản, nói với nhạc sĩ Văn Giảng đại khái rằng, ông chỉ biết làm nhạc hùng chứ không biết làm nhạc trữ tình như các nhạc sĩ khác; vì trước đó, Văn Giảng chỉ sáng tác nhạc hùng mà thôi. Ông im lặng không nói gì cả. Về nhà, ông lặng lẽ sáng tác bài “Ai về sông Tương” và gởi đến các đài phát thanh trong nước. Ông Tăng Duyệt nghe bài hát hay quá muốn xuất bản nhưng không biết Thông Đạt là ai. Một hôm nhạc sĩ Đỗ Kim Bãng và nhà văn Lữ Hồ đến nhà Văn Giảng chơi , thấy bản thảo của bài hát này và nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này liền lái xe chạy đến nhà nhạc sĩ thương lượng ký hợp đồng xuất bản. Thời đó, các thanh niên đều thuộc bài này và thường hay hát nghêu ngao:
“ Ai có về bên bến sông Tương, nhắn người duyên dáng tôi thương, sao đành nỡ dứt tơ vương…”
Trong hai thập niên 50-60, ông là giáo sư âm nhạc tại các trường trung học ở Huế như Quốc Học, Hàm Nghi, Trường đào tạo giáo viên tiểu học và trưởng ban nhạc đài phát thanh Huế. Trong thời gian này ông cho xuất bản tập nhạc “Hát mà học” gồm 10 bài hát dành cho thiếu nhi. Ông được học bổng du học ngành nhạc tại Hawai và Bloomington.
Năm 1956 ông thành lập ban hoà tấu Việt Thanh gồm các nhạc cụ cổ truyền như tỳ, nhị, độc huyền, nguyệt , sáo, vv… và ông sáng tác cho ban này bản hòa tấu “ Ai đưa con sáo sang sông” dài 60 phút. Ngoài ra ông còn cho xuất bản sách “Kỹ thuật hòa âm” dày 350 trang .
Năm 1969, ông vào Nam, dạy tại trường QGAN Saigon và soạn hòa âm cho hai hãng dĩa Asia và Sóng nhạc. Ông được Bộ Văn Hóa cử làm Trưởng phòng học vụ Nha Mỹ thuật, đảm trách học vụ các trường âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật.
Năm 1970, ông được Huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống VNCH với bản “Ngũ tấu khúc” (Quintet for flute and strings). Ông còn được đề cử làm giám đốc nghệ thuật điều hành Đoàn văn nghệ VN gồm 100 nghệ sĩ tân, cổ nhạc và vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, cùng ban vũ cổ truyền do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đảm trách, tham dự Hội Chợ Quốc Tế ở Osaka Nhật Bản.
Ngoài tên Văn Giảng với các bài ca hùng tráng như “Thúc quân”, “Lục quân VN” ( bài hát này dược các quân trường ở miền Nam chọn làm bài ca nhịp bước cho các tân binh mới nhập ngũ ) , “Đêm Mê Linh ” , “ Quân hành ca ”, “ Qua đèo ”, “ Nhảy lửa ” , ông còn có bút hiệu Thông Đạt với các nhạc phẩm trữ tình như “ Ai về sông Tương ” , “Đôi mắt huyền ”, “ Hoa cài mái tóc ”, “ Thương tà áo bay ” , “ Tình em biển rộng sông dài ” , “ Xin đừng bỏ nhau ” , “ Xin đừng chờ em nữa ” , “ Năm nay em mấy tuổi ” và bút hiệu Nguyên Thông với các ca khúc Phật giáo như “ Từ Đàm quê hương tôi ” , “ Mừng Đản sanh ” , “ Ca Tỳ La Vệ ” , “ Vô thường ” , “ Hoa cài áo lam ” , “ Bao la vô tận ” ,” Bờ mê bến giác ” , “ Buông xả ” ,” Dòng sinh diệt ”, “Đời sống Đức Phật ” ,” Giả hợp ” , “ Hãy tự giác ” , “ Mong tỉnh ngộ ” , “ Tâm bệnh ” , “ Tìm đâu xa ” , “ Vũ khí chơn tâm ” .
Sau 1975 ông kẹt lại ở Saigon và có mở lớp dạy nhạc tại đường Phạm Văn Hai , gần chợ Ông Tạ , quận Tân Bình . Năm 1981 ông vượt biên đến đươc Natuna của Nam Dương và để cám ơn hòn đảo đã cho ông dừng chân trên đường đi tìm tự do ông sáng tác bản “ Natuna người tình đầu ”. Hiện giờ ông đang định cư tại Thành phố Foolscray , bang Victoria , nước Úc . Ông là một nhạc sĩ có tài , nhạc phẩm của ông phong phú, đa dạng . Ông đã đóng góp nhiều cho nền âm nhạc VN nhưng không hiểu tại sao các Trung Tâm sản xuất DVD ca nhạc lại nỡ quên đi không làm DVD về sư nghiệp âm nhạc của ông .
4 – NHẠC SĨ ƯNG LANG
Người nhạc sĩ đầu tiên của đất Thần Kinh mang dòng máu hoàng tộc là Ưng Lang. Ông tên thật là Nguyễn Phước Ưng Lang , sinh năm 1919 tại Huế . Ông chuyên về Hạ uy cầm (guitare hawaienne) một loại đàn rất thông dụng thời bấy giờ. Ông là tác giả những nhạc phẩm như “ Chiều về thôn Vỹ ” , “ Nhạc lòng ” , “ Chiều tiễn biệt ” và nhất là ca khúc “ Mưa rơi ” viết chung với Châu Kỳ đã đưa tên tuổi ông đến với những người yêu nhạc VN . Tác phẩm “ Mưa rơi ” là kết quả của mối tình đầu đau thương của tác giả . Sau khi tốt nghiệp Trường Công chánh Huế ông được bổ nhiệm về Sở Lục Lộ tỉnh Nghệ An đặt ngay tại thị xã Vinh . Lúc ấy ông 21 tuổi . Ông được gia đình bà chị có cửa hàng buôn bán tại Vinh cho một căn phòng để ở . Phòng ông có cửa sổ nhìn sang dãy nhà đối diện bên kia đường . Chiều chiều sau khi đi làm về ông thường mở cửa sổ cho mát và lấy đàn ra lả lướt vái bài cho đỡ buồn . Không ngờ tiếng đàn Hạ Uy cầm du dương của ông lại lọt đến tai của các nghệ sĩ của thị xã . Họ mời ông gia nhập “ Ban Nhạc Mang Hưng ” mà đa số nhạc sĩ là người Việt gốc Hoa . Nhưng đối với ông tiếng đàn lọt vào tai các nhạc sĩ của thị xã không quan trọng bằng lọt vào tim của một hoa khôi sống với cha mẹ trong căn nhà đối diện với nhà chị ông . Ta hãy nghe nhạc sĩ Lê hoàng Long nói về giai nhân , người yêu đầu tiên của nhạc sĩ Ưng Lang như sau : “ Ưng Lang đưọc biết mỹ danh người đẹp là Ch.L. tuổi vừa đôi chín . Từ đó , hàng ngày khi màn đêm buông xuống , Ưng Lang lại lấy đàn ra nắn phím buông tơ . Tiếng đàn Hạ Uy cầm réo rắt , ngân nga vọng sang tận bên kia đường rồi vang trong nhà người đẹp . Ngày nào như ngày ấy , đúng giờ là tiếng đàn lại nỉ non , thánh thót khiến mỹ nhân nhẹ nhàng thướt tha , uyển chuyển , lúc ẩn, lúc hiện sau tấm màn cửa đong đưa như đang uốn lượn trong vũ khúc trước làn gió nhẹ . Tay nắn phím , tay buông tơ nhưng mắt Ưng Lang vẫn kín đáo nhìn nên thấy cảnh đẹp như Hằng Nga trong vũ khúc Nghê Thường. Tức cảnh sinh tình , tiếng đàn Ưng Lang lại càng thêm thánh thót và nghe thấy buồn man mác hơn . Nếu ai nhìn thấy được cảnh ấy , khách quan cũng nhận định giai nhân và nghệ sĩ tình trong như đã , mặt ngoài còn e . Ưng Lang mừng thầm cho rằng đây là mối lương duyên tiền định nên ngày ngày chải chuốt từ y phục đến tiếng đàn”. Sau đó hai người yêu nhau bằng một mối tình thật đằm thắm và thơ mộng . Họ cùng thề non hẹn biển sống với nhau đến hết cuộc đời . Nhưng có ai biết được chữ ngờ . Đôi tình nhân đâu biết cuộc tình nồng thắm của họ sẽ phải tan vỡ vì chiến tranh . Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp và ra lệnh cho tất cả các công chức phải trở về nguyên quán . Ưng Lang cũng không thoát khỏi cái lệnh quái ác ấy nên phải khăn gói trở về làm việc tại Sở Công Chánh Thừa Thiên . Buổi tiễn đưa đôi tình nhân bịn rịn chia tay lòng đau như cắt . Về đến quê nhà lại gặp cảnh mưa rơi rả rich suốt ngày , bầu trời u ám , nỗi buồn càng thêm da diết . Trong hoàn cảnh đó Ưng Lang sang tác nhạc phẩm “ Mưa rơi ” và bài hát này đã trở thành ca khúc vượt thời gian :
Mưa rơi , chiều nay vắng người Bên thềm gió lơi , mơ bóng ngàn khơi Mưa rơi , màn đêm xuống rồi Mây sầu khắp nơi , thương nhớ đầy vơi Mưa rơi , đìu hiu giữa trời Đêm dài vắng ai , thương nhớ nào nguôi .
Sau ngày chia tay hai người thường xuyên viết thư cho nhau và chờ ngày sum họp . Nhưng tháng 8 năm 1945 chiến tranh nổ ra , không biết gia đình của Ch.L. trôi giạt phương trời nào và từ đó đôi tình nhân mất hẳn liên lạc . Vài năm sau Ưng Lang lập gia đình , sống và làm việc tại Huế . Trước 1975 ông là giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế . Mãi đến 20 năm sau ông mới được tin Ch.L. ,người yêu cũ , đã chết trong chiến tranh .
5 – NHẠC SĨ CHÂU KỲ
Nhạc sĩ Châu Kỳ sinh ngày 05 – 11 – 1923 tại làng Dưởng Mong , tỉnh Thừa Thiên trong một gia đình sống bằng nghề cổ ca nên ông rất am hiểu về cổ nhạc miền Trung . Học xong chương trình tiểu học tại trường Tiểu học Dưởng Mong , ông lên Huế học tại trường Pháp Việt . Ông có giọng hát rất hay nên bạn bè rất thích nghe ông hát . Thấy ông hay hát những bài do Tino Rossi ca trong các dĩa của Pháp nên ông đưọc sư huynh Pétrus Thiều dạy cho nhạc lý Tây phương . Khởi đầu ông học đàn mandoline. Câu chuyện vui ông kể trên sân khấu Thúy Nga là mối tình đầu lãng mạn của lứa tuổi dậy thì thiếu suy nghĩ khi ông muốn dùng tiếng đàn mandoline để chinh phục trái tim người đẹp Kim Anh , con gái của vị thượng thư , để rồi bị giai nhân từ trên lầu tạt nước xuống khiến ông phải ôm đàn chạy trốn . Nhưng thế sự thăng trầm , cuộc đời dâu biển , mười mấy năm sau ông gặp lại người đẹp tại Saigon trong cảnh nghèo khổ , xác xơ trong khi ông đang là một ca, nhạc sĩ nổi tiếng . Sự gặp gỡ mang nhiều kịch tính này làm ông ngậm ngùi nghĩ đến những đổi thay của đời người và ông viết nên nhạc phẩm “ Giọt lệ đài trang ” .
Lúc ông còn theo học bậc trung học thì chị của ông là Châu Thị Minh thành lập đoàn ca kịch Huế lấy tên là Hồng Thu . Đoàn rất cần ca sĩ trẻ nên bà chị tha thiết yêu cầu ông giúp . Vì gia đình nghèo ông do dự không biết nên tiếp tục học hay là đi giúp chị . Cuối cùng ông bỏ học đi theo chị , trước là để giúp chị trong lúc khó khăn , sau là có tiền giúp cha mẹ . Từ đó ông theo đoàn đi lưu diễn khắp nơi. Thoạt đầu đoàn sang Lào trình diễn tại Savannakhet đến Thakhet rồi thủ đô Vạn Tượng. Sau khi gặt hái đưọc kết quả tốt đẹp ở Lào, đoàn làm một vòng lưu diễn các tỉnh VN. Đoàn ra Bắc xong trở lại Huế rồi vào Nha Trang. Tại đây, trong số khán giả thường trực, có một nữ sinh tuyệt đẹp, con nhà tử tế được nhiều chàng trai trong tỉnh theo đuổi, cô vẫn dửng dưng như không. Nhưng khi thấy chàng ca sĩ Châu Kỳ đẹp trai với giọng hát trầm ấm, quyến rũ, tim cô rung động rồi si mê chàng ca sĩ. Châu Kỳ cũng ngất ngây trước vẻ đẹp của cô nữ sinh lãng mạn và hai người yêu nhau.. Nhưng thuở ấy, cái thành kiến “xướng ca vô loại vẫn bám rễ trong đa số gia đình VN nên cha mẹ của Đoàn Thị Sum, tên cô nữ sinh , cấm không cho cô gặp Châu Kỳ nữa. Thất vọng vì tình, cô uống thuốc độc tự tử và chết ngày 10-12-1942. Ông quá đau khổ muốn chết theo người yêu, nhưng các nghệ sĩ trong đoàn ra sức an ủi, can ngăn, nhắc cho ông biết còn bổn phận đối với cha mẹ và gia đình, nên ông mới khuây khỏa phần nào. Do đó, ta mới biết được chút ít tại sao những bản tình ca của ông hồi đó đều là nhạc buồn như “Khúc ly ca”, “ Xin làm người tình cô đơn”, v.v… Nghe tin Huế bị bão lụt, ông trở về Huế thăm gia đình. Nhưng khi về đến quê mẹ Thanh Hà, ông thấy quang cảnh xác xơ, ruộng đồng bị tàn phá, ngôi nhà cũ đã bị san bằng và mẹ ông bị lũ lụt cuốn trôi đi mất. Hoàn cảnh khổ đau này khiến ông viết lên bài “Trở về”, bài hát tiêu biểu cho sự nghiệp âm nhạc của Châu Kỳ :
Về đây buồn trông cánh chim bay Về đây buồn nghe gió heo may Về đây đâu còn phút sum vầy Đâu còn thắm niềm say Lạnh lùng ngắm trời mây…
Năm 1947, ông vào Saigon hát cho đài phát thanh Pháp Á trong ban “Thần Kinh” của nhạc sĩ Mạnh Phát với các ca sĩ thời đó như Minh Diệu, Minh Tần, Mộc Lan, Linh Sơn, Phan Đức… và ban “Tiếng Thùy Dương” do chính ông làm trưởng ban. Trong thời gian này ông và ca sĩ Mộc Lan yêu nhau và trở nên vợ chồng. Cặp danh ca Mộc Lan – Châu Kỳ rất nổi tiếng thường xuất hiện trong các chương trình đại nhạc hội và chương trình phụ diễn tân nhạc tại các rạp chiếu bóng.
Cuối năm 1949, cặp ca sĩ Châu Kỳ – Mộc Lan được ông Thái Văn Kiểm, lúc ấy là Giám đốc Thông tin Huế, mời về hát cho Đài phát thanh Huế. Tình nghệ sĩ thường hay mong manh, năm 1952 cặp vợ chồng Châu Kỳ – Mộc Lan chia tay nhau. Ông buồn bã một mình trở lại Saigon. Đây cũng là thời gian buồn khổ khác của Châu Kỳ và ông đã viết lên những bản nhạc buồn như “Từ giã kinh thành”, “Mưa rơi” (viết chung với Ưng Lang) và ông định cư tại Saigon cho đến ngày nay. Ông tiếp tục hát cho các Đài phát thanh Quốc Gia, Pháp Á và đi trình diễn trong các đại nhạc hội khắp nơi trong nuớc. Sau đó, ông bị động viên và phục vụ trong đoàn Văn nghệ quân đội.
Năm 1955, Châu Kỳ kết hôn với Kha Thị Đàng, một cô gái miền Nam. Hôn lễ được cử hành tại nhà hàng Trương Ký ở Chợ Lớn. Trong số khách tham dự có rất nhiều ca, nhạc sĩ như Phạm Duy, Phạm Dình Chương, Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc, Dương Thiệu Tước, Trần Văn Trạch, Thu Hồ, Văn Phụng, Châu Hà, Hoàng Trọng, Thẩm Oánh… Đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc và có bốn người con, ba trai, một gái . Tất cả đều lập gia đình.
Ngoài những bản nhạc nêu trên, Châu Kỳ còn có những nhạc phẩm sau : Khi ánh trăng vàng lên khơi, Chiều trên đồi thông, Cố đô yêu dấu, Đừng nói xa nhau, Em không buồn nữa chị ơi, Khuya nay anh đi rồi, Lá vàng khóc lá xanh rơi, Miền Trung thương nhớ, Giữa lòng đất mẹ, Tôi chưa có mùa xuân, Đón xuân này nhớ xuân xưa, Sao chưa thấy hồi âm, Cánh nhạn hồi âm, Con đường xưa em đi, Cuối đường kỷ niệm, Nước mắt quê hương, Em sắp về chưa, Vào mộng cùng em, Được tin em lấy chồng…
Sau 1975, ông bán căn nhà cũ và chiếc xe Vespa dọn qua Tân Qui, Nhà Bè trong căn nhà ọp ẹp với chiếc xe đạp cũ. Tại đây, ông đã sáng tác bài “Bóng mát Tân Qui” lời ca Của Kiên Giang , “Một mình với ghi-ta”, “Giọt đàn với giọt lệ”, “Bỏ phố lên rừng” , “Đôi dép ngược”…
6 – NHẠC SĨ LÊ MỘNG BẢO
Nhạc sĩ Lê Mộng Bảo sinh năm 1923 tại Huế, trong một gia đình nho giáo gốc Minh Hương. Năm 1940 lúc lên 17 tuổi, ông đã bắt đầu sống tự lập. Ông ra Bắc làm việc cho tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ông học chữ Hán với cụ Phan Bội Châu, học nhạc với nhạc sĩ Đặng Thế Phong và Nguyễn Văn Thương.
Năm 1944, ông trở về Huế và làm việc tại Sở Bưu điện Huế.
Năm 1945, ông thôi việc và mở một tiệm bán sách trên đường Trần Hưng Đạo. Ông xuất bản nhạc phẩm “Quảng dường mai” của Nguyễn Hữu Ba và từ đó, ông đi luôn vào ngành xuất bản âm nhạc. Vì công việc làm ăn nên ông thường hay đi Hà Nội, do đó ông quen biết nhiều nhạc sĩ sống ở miền Bắc như Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Phúc, v.v… Trong thời gian này, theo phong trào chống Pháp ông sáng tác bản nhạc đầu tay “Không làm nô lệ”.
Năm 1948 ông cộng tác với nhà xuất bản Tinh Hoa của ông Tăng Duyệt, và chính ông đã giúp ông Tăng Duyệt phát triển thành nhà xuất bản nhạc phẩm uy tín nhất VN.
Năm 1952, ông Tăng Duyệt cử ông vào Saigon lập chi nhánh nhà xuất bản Tinh Hoa 2 để xuất bản những nhạc phẩm của các nhạc sĩ miền Nam.
Năm 1956, nhà xuất bản Tinh Hoa Huế ngưng hoạt động, vì tình hình chính trị thay đổi. Tại Saigon, một mình Lê Mộng Bảo khai trương nhà xuất bản lấy tên là Tinh Hoa Miền Nam. Ông có tài kinh doanh nên ngoài việc xuất bản ông còn phân phối nhạc phẩm đến tận các nhà sách và các nhà dù bán nhạc trên các lề đường Saigon. Nhà xuất bản nhạc phẩm của ông là nhà xuất bản VN đầu tiên có tên trong danh mục các nhà xuất bản nhạc quốc tế “Worldwide music trade directory”.
Ông có nhiều nhạc phẩm sáng tác như “Đổi thay”, “Mùa ve sầu”, “Phận nghèo”, “Thân phận”, “Bọt bèo”, “Xa anh rồi”, “Không hiểu tại sao”, “Sao lừa dối em”. Ông có sáng tác chung với các nhạc sĩ khác như Văn Phụng, Mạnh Phát, Tô Kiều Ngân, Phạm Mạnh Cương… Ông cũng có bài tân cổ giao duyên “Thân phận” soạn chung với soạn giả cải lương Quế Chi. Bản này được thu thanh vào dĩa, qua giọng ca của Minh Vương và Thanh Kim Huệ.
Ông cùng các nhạc sĩ Lê Thương, Nguyễn Hữu Ba, Phạm Duy, Xuân Phát… thành lập Hội nhạc sĩ VN.
Năm 1973, ông cùng với nhac sĩ Văn Giảng, các ca sĩ Mộc Lan, Kim Tước phụ trách lớp nhạc lý tại Viện khoa học giáo dục. Ông cùng với nhạc sĩ Song Ngọc phụ trách chương trình “Hoa tình thương” trên Đài truyền hình VN và đi lưu diễn tại các tiền đồn xa xôi. Ông cũng là chuyên viên báo chí, thời Hoàng Đức Nhã làm Bộ trưởng Thông tin và Dân vận. Ông phụ trách tờ báo “Lẽ sống” ở Saigon.
Sau 1975, ông đi học tập cải tạo đến 1981. Năm 1993 ông sang Hoa Kỳ theo diện HO và đang định cư tại Cali.
7 – NHẠC SĨ LÊ MỘNG NGUYÊN
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sinh năm 1930 tại Huế, trong một gia đình trí thức và yêu văn học, nghệ thuật.
Ông có người anh tên Lê Mộng Hoàng, là một ca sĩ có giọng ca Ténor nổi tiếng trong thập niên 40 của Đài phát thanh Huế. Nhưng ông anh thích làm diễn viên điện ảnh hơn làm ca sĩ. Sau khi du học ở Pháp về ngành điện ảnh, ông trở về VN đạo diễn phim “Bụi đời” và Lê Mộng Nguyên viết nhạc cho phim.
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sáng tác nhạc hồi còn rất trẻ, nhưng mãi đến năm 1948 ông mới cho ra mắt nhạc phẩm “Mừng Khánh Đản” nhân dịp khánh thành chùa Từ Đàm Huế, “Vó ngựa giang hồ”, “Mùa lúa mới”, “Trường ca quân tiến”…
Khi ông 19 tuổi ông yêu tha thiết một cô gái Huế tên M. và chính người đẹp này là nguồn cảm hứng để ông viết bài “Trăng mờ bên suối” (1949). Sáng tác xong, ông gởi ngay cho nhạc sĩ Thu Hồ, lúc ấy đang là một ca sĩ nổi danh của đài phát thanh Pháp Á, mặc dù trước đó hai người chưa hề quen biết nhau. Thu Hồ đã thu thanh bản nhạc này với ban nhạc Trần Văn Lý. Từ Huế, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên nghe giọng hát cũa Thu Hồ trình bày nhạc phẩm của mình, với cái radio của người hàng xóm tên Lê Văn Hy, qua làn sóng điện của đài Pháp Á. Từ đó ông tiếp tục gởi thêm những bài khác cho Thu Hồ, và hai người trở nên đôi bạn thân cho đến cuối cuộc đời.
Năm 1950, ông sang Pháp du học về ngành luật. Sau khi đỗ tiến sĩ ông dạy tại Đại học Paris về Luật hiến pháp, Khoa học Chính trị và kinh tế.
Năm 1996, ông về hưu và được bầu vào Hàn Lâm Viện Khoa học hải ngoại Pháp.
1949 – Trăng mờ bên suối, Một chiều thương nhớ, Trọng Thủy Mỵ Châu, Chiều thu Mưa Huế.
1950 – Hoàng Hoa Thôn, Nhớ Huế, Bài thơ Huế, Cô gái Huế, Về chơi thôn Vỹ Dạ, Đôi mắt nhung, Mơ Đà Lạt, Ly hương.
1951 – Bên dòng sông Seine, Xuân tha hương , Lá thư cho mẹ, Trời Âu.
1957 – Bụi đời Người đã trở về. 1980 – Xuân về nhớ mãi quê hương . 1988 – Chiều vàng trên chợ Đông Ba . 1991 – Quê tôi . 1992 – Kiếp giang hồ.
8 – NHẠC SĨ THU HỒ
Nhạc sĩ Thu Hồ tên thật là Hồ Thu sinh ngày 14-10-1919 tại làng Tân Mỹ (gần Thuận An), tỉnh Thừa Thiên. Ông có khiếu về âm nhạc và thơ lúc mới 12 tuổi. Ông là ca sĩ đầu tiên đưa những bài hát VN đầu tiên đến với thính giả, là gạch nối giữa những bài hát Pháp lời Việt do cô Kim Thoa, Thanh Tùng, Tư Chơi khởi xướng và các bài hát hoàn toàn VN. Thời gian theo học tại trường trung học Pellerin, ông ở trọ tại nhà ông bác của nhạc sĩ Trần Văn Lý và được nhạc sĩ truyền dạy cho nhạc lý Tây phương. Ông rất thích hát những bài mà Tino Rossi hay hát. Ông cũng là ca sĩ đầu tiên hát trước công chúng tại Hội Chợ Huế bài “La chanson du gondolier”.
Năm 1943 ông làm trưởng ga xe lửa Dầu Giây. Xa quê , xa gia đình, ông nhớ nhà, rồi nhớ đến hai câu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” khiến ông nhớ đến mẹ và viết nên bài “Quê mẹ”. Tuy là tác phẩm đầu tay, nhưng lại là bài hát tiêu biểu trong sự nghiệp âm nhạc của ông.
Năm 1947 ông tham gia vào ban “Thần Kinh nhạc đoàn ” với ban nhạc của nhạc sĩ Trần Văn Lý và các ca sĩ như Châu Kỳ, Mộc Lan, Minh Diệu, Minh Tần, Kim Nguyên, Mạnh Phát, Thu Thu, Vĩnh Lợi, vv …
Năm 1948 đài Pháp Á mở thêm chương trình tân nhạc VN và mời ông cộng tác. Từ đó, tiếng hát cũng như tên tuổi của ông đã vang đi khắp nước. Ngoài đài Pháp Á, sau này đổi tên thành Đài phát thanh Saigon ông còn hát cho đài Quân Đội. Thu Hồ không chỉ là ca sĩ mà còn là nhà soạn kịch và diễn viên sân khấu. Ông đã soạn trên một trăm vở kịch và cũng là diễn viên trong các vở kịch như “Hai chàng một áo”, “Thầy lang bất đắc dĩ”, vv… Thẩm Thúy Hằng đã mua những kịch bản của ông để diễn trên Đài truyền hình.
Năm 1954 ông đi quân dịch, làm Trưởng ban tuyên truyền lưu động Đệ I Quân khu đi ủy lạo binh sĩ ở các tiền đồn biên giới. Trong dịp này ông làm bài “Khúc ca Đồng Tháp”.
Năm 1957, mãn hạn quân dịch, ông gia nhập ban văn nghệ “Vì dân” của Tổng nha Cảnh sát Quốc gia.
Từ 1959 đến 1970, ông là giáo sư âm nhạc các trường trung học ở Saigon như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bá Tòng, Thiên Phước, Thánh Thomas… Ông là thành viên của SACEM, hội âm nhạc của Pháp, trụ sở đặt tại Paris.
Thu Hồ còn là nhà thơ được nhiều người mến mộ. Ông cho ra mắt tập thơ mang tên “Ánh bình minh” năm 1965.
Sau năm 1975, ông kẹt lại ở Saigon. Năm 1990, Mỹ Hà con gái lớn của ông và chồng là tài tử điện ảnh Trần Quang bảo lãnh gia đình ông sang Hoa Kỳ. Ông sống tại Santa Ana với người con thứ là ca sĩ Mỹ Huyền cho đến cuối đời.
Năm 1993 ông và nhà thơ luật sư Ðỗ Đức Hậu được Hội Thi sĩ quốc tế (International Society Of Poets) bầu là “Đại sứ thi ca hòa bình” trong hội nghị thi ca họp tại Hoa Thịnh Đốn.
Để đánh dấu nhạc phẩm “Quê mẹ” tròn 50 tuổi, một đêm ca nhạc mang tên “Đêm quê mẹ” được tổ chức tại vũ trường Ritz tối 14-10-1993 tại Anaheim. Trong dịp này ông cho ra mắt tuyển tập nhạc “Hoa bốn mùa” gồm 22 bản nhạc ưng ý nhất của ông như “Quê mẹ”, “Tiếng sáo chiều quê”, “Sầu ly biệt”, “Nhớ nhau”, “Tím cả rừng chiều”, “Cô nữ sinh Đồng Khánh”, “Tà áo Trưng Vương”, “Mái tóc em gái Gia Long”, “Trăng huyền diệu” vv…
Một tuần trước khi ông từ giã cõi đời, các bạn bè đã tổ chức một đêm dạ vũ tương trợ dành cho ông tại Vũ trường Ritz. Theo ý nguyện của ông các bạn trích ra $567 góp vào quỹ tượng đài Chiến sĩ tự do.
Ông mất ngày 19-05-2000, hưỏng thọ 81 tuổi.
9 – NHẠC SĨ NGÔ GANH
Nhạc sĩ Ngô Ganh chuyên về đàn Piano. Ông không để lại gì nhiều về sự nghiệp âm nhạc của ông, chỉ vỏn vẹn vài ba bài nhạc như “Con chim non”, “Chu Văn An”, “Trần Quốc Toản”, “Mưa dầm”, “Hương Bình”, “Hương Giang dưới trăng”… Người dân xứ Huế chỉ biết ông là một nhà giáo và nhất là lối sống bình dân, giản dị, hoạt bát, lạc quan mang tính khôi hài của ông. “Thầy Ganh đi mô rứa hè ?” Đó là câu chào hỏi chân tình mà người dân Huế dành cho ông. Mọi người đều gọi ông là “thầy Ganh” vì ông là giáo sư âm nhạc trường Đồng Khánh và Khải Định, hai trường Trung học lớn tiêu biểu cho đất Thần Kinh thời bấy giờ. Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm ông giữ chức Giám đốc Đài phát thanh Huế. Ông là người có công thành lập một đội ngũ nhạc sĩ tân và cổ nhạc cho đài.
Ông còn là nhà hoạt động chính trị kín đáo. Ban đầu ông gia nhập những tổ chức theo khuynh hướng của cụ Phan Bội Châu. Một thời ông là hội viên của nhóm Tinh Thần do Bác sĩ Nguyễn Tăng Nguyên lãnh đạo. Khi ông Trần Văn Lý lên nắm chánh quyền thì nhạc sĩ Ngô Ganh có mặt trong danh sách đảng Cần lao Cách mạng, ở Huế do ông Nguyễn Chí Kỉnh lãnh đạo (không phải đảng Cần lao Nhân vị của ông Ngô Đình Nhu). Hai nhóm Nguyễn Tăng Nguyên và Nguyễn Chí Kỉnh đã bí mật quyên góp tiền bạc giúp ông Ngô Đình Diệm trên đường bôn ba hải ngoại.
Người dân xứ Huế sống thân mật với Nhạc sĩ Ngô Ganh vì ông không ham danh lợi và nhất là cái lối sống khác người của ông. Lối sống này đã ảnh hưởng đến những người sống cận kề ông. Ta hãy nghe ông Tôn Thất Lan, học trò cũ của Nhạc sĩ Ngô Ganh nói về cách sống và làm việc của ông :
“Tôi kẻ những dòng nhạc và viết lên đấy những nốt đen, trắng, tròn… đầu tiên lên bảng đen bằng phấn trắng vào năm 1950, lúc tôi theo học lớp Nhất (lớp 5 bây giờ) trường Thượng Tứ, Huế. Thầy dạy nhạc của chúng tôi bấy giờ là nhạc sĩ Ngô Ganh. Đầu thầy cắt ngắn, đã len lỏi nhiều đốm trắng, bạc. Thầy vui tươi, hoạt bát và rất hóm hỉnh. Đó là phong cách rất “lạ lùng” của thầy cô giáo thời đó. Dạy và học là hai việc làm song song tuyệt đối nghiêm chỉnh, không hề có chút đùa nghịch hay dí dỏm nào. Thầy, trò nhìn ngắm nhau bằng những đôi mắt “đứng tròng” trong thế người thẳng đứng. Trong không khí khá nặng nề u uất đó – ảnh hưởng còn vang vọng lại của một quan niệm phong kiến xa xưa, sự xuất hiện linh hoạt, đầy ấn tượng của thầy Ganh quả là một sự kiện lạ lùng làm tất cả những cậu bé phải “làm mặt nghiêm” chúng tôi ngỡ ngàng và vô cùng… sung sướng. Một vài chúng tôi mơ hồ cảm nhận rằng đời thật sự là hồn nhiên, là vui tuơi mà sao chúng tôi lại bị bắt phải quên nụ cười !
…Trên bục giảng, thầy Ganh không giảng mà hát, vừa đi vừa làm điệu bộ…. Sau thời gian “quen biết” ngắn ngủi, thầy trò xa nhau và chúng tôi cũng quên mất thầy. Rồi sau đó nghe thầy làm Quản đốc Đài phát thanh Huế. Ở đây, thầy lại cũng rất dí dỏm, thầy dùng chữ “deux couleurs” (hai màu) để phê bình một giọng ca không rõ ràng tự nhiên, khi khan khan khi the thé. Đặc biệt là thầy có minh họa rất tài tình và độc đáo “36 nụ cười”, trong đó có nụ cười “rửa đọi”, nụ cười “mở nút chai”, nụ cười “Xé áo” thật độc đáo mà ai nghe cũng cười.
Có nhiều giai thoại về thầy Ganh, hay đúng hơn về tính hay diễu cợt, châm biếm mà nhiều người không quên. Lối đặt tên của thầy thật ngẳng đời làm người nghe – những người trong cuộc – rất khó chịu, bị “chơi” mà không nói được. Thầy nuôi hai con chó, một con mang tên “Ỷ thế” , một con “Ba láp” (bậy bạ). Khi có những người khách là quan viên chức không được mời… , thầy thường kêu hai con chó ra la rầy “Đồ ỷ thế” (cậy quyền), “Đồ ba láp”.
Nhà thầy có hai người giúp việc đều mang tên rất đẹp, rất khuê các như Tuyết Mai, Kim Ngọc, hay đại loại như thế trong khi con gái của thầy thì lại mang những tên rất bình dị, dân dã như Xoài, Mít, Ổi… khách rất đỗi ngạc nhiên khi được giới thiệu con gái và người giúp việc của thầy, tình thế thật tréo cẳng ngỗng…
Món quà thầy Ngô Ganh biếu cho các thế hệ mai sau là một lối sống bình dị, lạc quan, một phong cách tự nhiên hài hước giúp cho mọi người vào thập niên 40, 50 quên đi, bỏ đi một quan niệm sai lầm của xã hội phong kiến, trong đó người nghệ sĩ – người làm đẹp cuộc đời – là “xướng ca vô loại”. Đáng buồn và đáng giận thay!”
Ông mất năm 1980 trong cảnh nghèo khổ, trong sự quên lãng của nhiều người.
10 – NHẠC SĨ ĐỖ KIM BẢNG
Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng gốc Quảng Nam, sinh năm 1932 tại Huế. Ông là bạn đồng khoá với nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương từ trường trung học Khải Định cho đến trường Cao đẳng Sư phạm và Đại học Văn khoa Hà Nội. Ông học đàn với nhạc sĩ Lê Quang Nhạc, học lóm nhạc lý Tây phương với nhạc sĩ Văn Giảng và học thêm cổ nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Những năm học trung học ông tham gia sinh hoạt văn nghệ trong trường và trong Gia đình Phật tử với các bạn như Phạm Mạnh Cương, Hồ Đăng Tín, Hoàng Nguyên, Kiêm Đạt, Diên Nghị, Tạ Ký (thơ), Minh Tuyền (nhiếp ảnh), Lữ Hồ (văn học)…
Năm 1949, ông sáng tác ca khúc “Mục Kiền Liên” và trình bày trong mùa Vu Lan tại Huế.
Năm 1951, ông làm bài “Mùa thi” được ban hợp ca Thăng Long dựng thành nhạc cảnh và trình diễn nơi ở trong nước.
“Hôm nay mùa thi , bao nhiêu người đi Xe rộn ràng, lớp ồn ào, niềm vui vấn vương.. Thi ơi là thi, sinh mi làm chi , “bay” nghẹn ngào, “bám” ồn ào, buồn vui vì mi” .
Sau đó được ban Gió Nam của nghệ sĩ Trần Văn Trạch cùng ban Thăng Long trình diễn “Mùa thi” tại Hà Nội năm 1954. Ban Thăng Long đã làm bài hát này nổi tiếng và đưa tên tuổi ông đến giới hâm mộ nhạc VN.
Năm 1953, ông ra Hà Nội học tại Đại học Văn khoa và Cao đẳng Sư phạm. Trong thời gian này ông học thêm âm nhạc với nhạc sĩ Hùng Lân. Cuối năm 1954, ông di cư vào Saigon .
Năm 1955, ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư Phạm, được bộ Giáo dục biệt phái sang bộ Quốc phòng và dạy tại trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt từ 1955 đến 1960. Trong thời gian này ông sáng tác bản “Khúc hát ngày mai” được ban Thăng Long trình bày trên đài phát thanh Saigon và đài Quân đội.
Năm 1960 về lại bộ Giáo dục ông dạy tại trường Trần Lục rồi Nguyễn Du. Trong năm này ông cho ra đời bài “Mưa đêm ngoại ô” và năm 1963 bài “Bước chân chiều Chủ nhật” do Thanh Thúy hát.
Năm 1965 ông nhập ngũ khóa 21 trường Võ bị Thủ Đức. Ra trường với cấp bậc chuẩn úy, ông làm việc dưới quyền của thi sĩ Tô Kiều Ngân, lúc ấy là đại úy Trưởng phòng và thi sĩ Tô Thùy Yên, trung úy phụ tá Trưởng phòng của Phòng Văn nghệ Cục Tâm lý chiến. Tại đây ông cùng làm việc với các nhạc sĩ khác như Lam Phương, Duy Khánh, Trầm Tử Thiêng, Song Ngọc, Phạm Minh Cảnh, Anh Việt Thu, vv… Cùng phục vụ trong Cục Tâm lý chiến ông cũng đã gặp và quen biết các nhạc sĩ cùng các văn, nghệ sĩ như Trần Trịnh, Trần Thiện Thanh, Mai Trung Tỉnh, Tường Linh, Du Tử Lê, Phạm Lê Phương, Tạ Tỵ….Cũng trong thời gian này ông viết bản trường ca “Những người đi giữ quê hương” được Ban hợp ca Quân đội trình bày tại rạp Thống Nhất nhân ngày Quân lực VNCH năm 1969, dưới sự điều khiển của nhạc sĩ Vũ Minh Tuynh và Ngô Mạnh Thu .
Năm 1969 ông được biệt phái về lại bộ Giáo dục và tiếp tục dạy học cho đến tháng 4-1975. Sau đó, ông đi học tập cải tạo đến năm 1978.
Năm 1980, ông vượt biên rồi được định cư tại Hoa Kỳ. Ông đi học lại nghề cũ và dạy học ở Boston cho đến 1999 thì về hưu. Trong thời gian ở Mỹ ông phổ nhạc bài thơ “Tháng ba đi hành quân” của Trần Hoài Thư.
Ngoài những nhạc phẩm nêu trên ông còn những sáng tác khác như : Mưa đêm ngoại ô, Sương đêm, Vòng tay giữ trọn ân tình, Vui dựng gia đình, Xin dìu nhau đến tình yêu.
11 – NHẠC SĨ HOÀNG NGUYÊN
Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc sinh ngày 03-01-1932 tại Quảng Trị, nhưng lớn lên và học hành tại Huế. Ông mất ngày 21-08-1973 tại Saigon trong một tai nạn xe cộ lúc ông 41 tuổi là lúc tài năng sáng tác đang lên.
Ông học trung học tại trường Quốc Học Huế, đậu Cử nhân Anh văn tại Đại học Saigon, dạy anh văn và âm nhạc tại Đà Lạt, Vĩnh Long, Saigon.
Ông phụ trách ban nhạc đại hòa tấu “Hương thời gian” trên Đài truyền hình VN và chương trình “Tiếng thời gian” trên Đài phát thanh Saigon.
Ông có nhiều kỷ niệm với Đà Lạt và hai nhạc phẩm nói về miền cao nguyên này là “Ai lên xứ hoa đào”, “Bài thơ hoa đào” trở thành tác phẩm tiêu biểu của ông. Hai tác phẩm này hiện nay được nữ ca sĩ Ánh Tuyết trình bày rất thành công, đã làm rung động những tâm hồn yêu nhạc.. Nhạc đã hay mà lời lại như thơ.
Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi Nghe hơi gió len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi Thông reo bên suối vắng lời dặt dìu như tiếng tơ Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ Nghe tâm tư mơ ước chuyện Đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa …
Về xứ Huế, ông đã để lại cho đất Thần Kinh nhạc phẩm “Tà áo tím”, một bài hát trữ tình lãng mạn, êm đềm, thơ mộng và đã được ca sĩ Hà Thanh ru vào lòng người :
Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang Tôi gặp một tà áo tím nhẹ thấp thoáng trong nắng vương Màu áo tím sao luyến thương, màu áo tím sao vấn vương Rồi lòng bâng khuâng theo màu áo ấy, màu áo tím hôm nào Tình quyến luyến ban đầu, chập chờn tâm tư màu áo thoáng chiêm bao…
Những ca khúc khác của Hoàng Nguyên gồm có : Anh đi mai về, Anh đi về đâu, Bài Tango riêng cho em, Cho người tình lỡ, Đường nào em đi, Đường nào lên Thiên thai, Duyên nước tình trăng, Em chờ anh trở lại, Lá rụng ven sông, Lời dặn dò, Sao em không đến, Thuở ấy yêu nhau.
12 – NHẠC SĨ NHỊ HÀ
Nhạc sĩ Nhị Hà tên thật là Lê Quang Mại, sinh ngày 24-08- 1935 tại Quảng Bình, nhưng lớn lên tại Huế và học trường trung học Khải Định. Sau khi đỗ Tú tài 2, ông vào Saigon. Sáng tác của ông không nhiều, nhưng mọi người đều biết tên ông qua nhạc phẩm “Mẹ tôi”, và nhất là từ khi ca sĩ Như Quỳnh hát bài này trên sân khấu Thúy Nga.
Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày Mẹ tôi đau buồn nặng trĩu đôi vai Bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại Cầu mong con mình có một ngày mai…
Nhạc phẩm thứ hai của Nhị Hà được nhiều người biết đến lá bài “Trở về thôn cũ” nói lên cảnh quê hương điêu tàn đổ nát vì sự tàn phá của chiến tranh trong thời chống Pháp :
Nhưng sao hôm nay tôi trở lại quê xưa Tuy con sông xưa vẫn êm đềm uốn quanh Còn đâu đồng xanh, còn đâu gia đình Còn đâu bóng hình mẹ già mến yêu…
Ngoài hai tác phẩm tiêu biểu trên, ông còn sáng tác các bài như : Đừng trách người đi, Lá thư xuân, Nhớ một mùa hoa…
13 – NHẠC SĨ LÊ CAO PHAN
Nếu không có bài hát “Phật giáo Việt Nam” được dùng làm bài ca chính thức cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, thì rất ít người VN biết đến nhạc sĩ Lê Cao Phan.
Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc, Nam, Trung từ đây Một lòng chúng ta tiến lên vì Đài Sen…
Trước đây, ông chỉ sáng tác những ca khúc vui tươi dành cho thiếu nhi, cho học sinh, nên thường những ai làm nghề nhà giáo mới biết đến ông. Các bài hát vui của ông dành cho thiếu nhi gồm có : Bài ca tình bạn, Ca múa học vui, Hai chú gà con, Nhi đồng múa ca, Ra chơi, Tập tầm vông, Tiếng còi đánh thức, Vui đi học.
14 – NHẠC SĨ LÊ QUANG NHẠC
Hiện nay người ta chỉ biết nhạc sĩ Lê Quang Nhạc là người Huế. Ông là giáo sư âm nhạc của vài trường trung học ở cố đô, đồng thời là nhạc sĩ dương cầm trong ban nhạc của Đài phát thanh Huế trong thập niên 50. Tác phẩm duy nhất của ông còn lại đến bây giờ là nhạc phẩm “Xa quê”.
15 – NHẠC SĨ PHẠM MẠNH CƯƠNG
Nói đến nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương , người yêu nhạc nhớ đến “Thu ca”, một trong những ca khúc được thu thanh nhiều nhất từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là nhạc hiệu quen thuộc của những chương trình ca nhạc của ông tại các Đài phát thanh và truyền hình Saigon trước năm 1975.
Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sinh quán tại Huế, tỉnh Thừa Thiên. Ông theo học bậc trung học tại trường Khải Định, đỗ Tú tài 2 năm 1953. Sau đó, ông ra Hà Nội tiếp tục việc học, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm và Cử nhân Văn khoa 1955.
Từ 1955 đến 1958, ông là giáo sư tại trường trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.
Từ 1958 đến 1975, ông là giáo sư môn triết và môn văn tại trường trung học công lập Pétrus Ký và các trường tư thục lớn ở Saigon như Văn Học, Nguyễn Văn Khuê, Bồ Đề, Hưng Đạo, Văn Lang, Lê Bảo Tịnh, Huỳnh Thị Ngà, Thượng Hiền…
Từ 1960 đến 1975, ông vừa dạy học vừa hoạt động âm nhạc. Ông là trưởng ban các chương trình “Hoa thời đại” của Đài Phát thanh Saigon, “Tiếng hát hậu phương”, “Nghệ sĩ và chiến sĩ” của Đài Tiếng nói Quân đội, “Chương trình Phạm Mạnh Cương” của Đài truyền hình. Ông còn là giám đốc trung tâm “Tú Quỳnh”, một trung tâm băng nhạc quy mô đầu tiên tại Saigon.
Năm 1980, ông rời Việt Nam và định cư tại thành phố Montreal, tỉnh Quebec, Canada. Ông tiếp tục hoạt động văn nghệ : thành lập ban nhạc Phạm Mạnh Cương với hai người con là nhạc sĩ Phạm Mạnh Quỳnh và Phạm Lê Diễm Phúc. Đồng thời ông là chủ biên nguyệt san Thẩm Mỹ từ năm 1994 đến nay.
Một số nhạc phẩm nổi tiếng của ông đã xuất bản và thu thanh tại VN trước 1975 : Thung lũng hồng, Mắt lệ cho người tình, Tóc em chưa úa nắng hè, Thương hoài ngàn năm, Tình yêu đã mất, Giã từ cố đô, Về thăm cố đô, Loài hoa không vỡ, Tháng bảy mưa ngâu, Sầu ly biệt, Nhạc khúc mừng xuân, Thu về trong mắt em…
Tháng 04-2003, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đã được trung tâm Thúy Nga mời xuất hiện trên băng Vidéo “Paris By Night 70”, chủ đề “Thu ca” cùng với hai nhạc sĩ Lê Dinh và Trường Sa.
16 – NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sinh ngày 28-02-1939 tại Lạc Giao (cao nguyên miền Trung) trong một gia đình trung lưu gốc Thừa Thiên. Ông lớn lên tại Huế và đỗ Tú tài ban triết học ở trường Chasseloup Laubat Saigon. Ông tự học nhạc, học sáng tác không qua một trường lớp nào cả. Trong thập niên 60, nhạc của ông xuất hiện như một ngôi sao sáng trong vòm trời âm nhạc VN. “Ướt mi” là tác phẩm đầu tay được sáng tác năm 1958 . Ông mất ngày 01-04-2001 tại Saigon.
Tác phẩm âm nhạc của ông có trên 600 ca khúc, với nội dung gồm 3 khuynh hướng : tình yêu, quê hương (mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến) và thân phận. Nhạc của ông có nhiều cái hay cái lạ, không cầu kỳ, không ngoại lai, không ồn ào, luôn luôn giữ được bản sắc dân tộc. Nhạc của ông không bài nào giống bài nào, cũng không tương tự với một nhạc phẩm nào của người khác. Mỗi bài hát của T.C.Sơn có một nét độc đáo riêng. Ngay cả lời ca trong nhạc T.C.S. cũng có một sắc thái riêng, không giống với các nhạc sĩ khác. Lời ca của TCS không sống sượng theo lối tả chân, không văn chương theo lối mòn sáo rỗng hay rập khuôn theo những qui ước có sẵn. TCS có lối sử dụng ngôn ngữ một cách khéo léo, mới lạ để diễn tả một thứ tình cảm lâng lâng, mơ hồ, phải nhờ cảm tính người ta mới hiểu được. Ví dụ TCS nói đến tình yêu đôi lứa mà không dùng đến chữ “yêu” vì đã có bàn tay, mái tóc, đôi mắt… nói hộ cho rồi :
Mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ Đưòng dài hun hút cho mắt thêm sâu…
(DIỄM XƯA)
Lùa nắng cho buồn vào tóc em Bàn tay xanh xao đón ưu phiền Ngày xưa sao lá thu không vàng Và nắng chưa vào trong mắt em…
(NẮNG THỦY TINH)
Mỗi bài ca là một bài thơ. Ngoài chất thơ ra trong nhạc TCS còn mang chút triết lý về thân phận con người, hạnh phúc, khổ đau, lẽ vô thường của kiếp sống :
Bao nhiêu năm làm kiếp con người Chợt một chiều tóc trắng như vôi Lá úa trên cao rụng đầy Cho trăm năm vào chết một ngày…
(CÁT BỤI)
Có điều gì gần như niềm tuyệt vọng Sông bao lần sông đã ra đi Những ngàn năm trôi đến bây giờ Sông ra đi hay mới bước về …
(GẦN NHƯ NIỀM TUYỆT VỌNG)
Ôi tiếng buồn rơi đều Nhìn lại mình đời đả xanh rêu…
(TÌNH XA)
TCS đã từ giã cõi đời, ông đã trở về với “Cát bụi”, “Một cõi đi về” của kiếp con người vì ông cũng chỉ là một “Đóa hoa vô thường”. Đường trần ông đã đi qua, “Dấu chân địa đàng” ông để lại là một gia tài âm nhạc tuyệt vời gồm có các tuyển tập :
1967 – Ca khúc Trịnh Công Sơn – Tình Khúc Trịnh Công Sơn – Ca khúc da vàng
1968 – Kinh Việt Nam
1969 – Ca khúc da vàng 2 – Ta phải thấy mặt trời ..
1972 – Như cánh vạc bay – Cỏ xót xa đưa – Khói trời mênh mông – Tự tình khúc – Phụ khúc da vàng.
1973 – Lời đất đá cũ – Nhân danh việt Nam.
1989 – Một cõi đi về .
1991 – Em còn nhớ hay em đã quên – Cho con.
1992 – Lời của dòng sông – Khói trời mênh mông 2.
1993 – Bên đời hiu quạnh – Trong nỗi đau tình cờ – Thuở ấy mưa hồng.
1995 – Những bài ca không năm tháng.
1999 – Tuyển tập ca khúc Trịnh Công Sơn 1, 2, 3, 4, 5, 6.
Ngoài các nhạc sĩ chào đời ở Huế hoặc lớn lên và học hành tại Huế, còn có những nhạc sĩ tuy không sinh ra ở Huế nhưng có một thời gian sống hoặc làm việc ở đây, rất nặng lòng với đất cố đô và đã sáng tác nhiều ca khúc bất hủ dành cho xứ Huế. Trong số nhạc sĩ này ta có Duy Khánh, Hoàng Thi Thơ, Dương Thiệu Tước, v.v…
17 – NHẠC SĨ DUY KHÁNH
Nhạc sĩ Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp, sinh năm 1936 tại làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông thuộc dòng họ quan phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường triều Nguyễn. Tuy không sống ở Huế nhưng Quảng Trị rất gần với cố đô, nên ông thường lui tới với các bạn bè ở đây. Ông rất nặng tình với xứ Huế và là người nhạc sĩ có nhiều nhạc phẩm nói về quê hương miền Trung của ông như : Ai ra xứ Huế, Sầu cố đô, Nén hương yêu, Sao không thấy anh về, Thương về miền Trung, Bao giờ em quên, Biết trả lời sao, Lối về đất mẹ, Huế đẹp Huế thơ.
Những ngày cuối đời, ông sống tại Hoa Kỳ và cho xuất bản hai tập nhạc gồm những nhạc phẩm được sáng tác từ trước đến nay. Tập 1 mang tựa đề “Huế đẹp và thơ”, tập 2 “Nỗi niềm riêng”.
Ngày 10-01-2003, một buổi dạ vũ mang tên “Tạ tình tiếng hát và dòng nhạc Duy Khánh” được tổ chức tại vũ trường Majestic, thành phố Huntington Beach, quận hạt Orange County, để nhớ công lao của ông đã đóng góp cho nền âm nhạc VN.
18 – NHẠC SĨ HOÀNG THI THƠ
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh ngày 01 – 07 – 1928 tại làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông học trung học tại Huế. Ông theo kháng chiến một thời gian, sau đó vào Saigon lập nghiệp và sinh hoạt âm nhạc cho đến 1975. Sự đóng góp to tát của ông cho nền âm nhạc VN mọi người đều biết. Vì quê ở miền Trung, nên nhạc của ông cũng mang âm hưởng tiếng hò giọng hát miền Trung. Riêng về xứ Huế, ông có những nhạc phẩm như “Chiều cố đô”, Tâm tình gửi Huế, ”…
Năm 1975, khi biến cố 30-04 xảy ra, lúc đó, ông đang hướng dẫn đoàn văn nghệ VN trình diễn ở Nhật. Sau đó ông định cư tại Hoa Kỳ và mất ngày 23 – 09 – 2001 tại Glendale , Nam Cali , thọ 74 tuổi .
19 – NHẠC SĨ DƯƠNG THIỆU TƯỚC
Ông là nhạc sĩ gốc miền Bắc nhưng nổi danh qua hai bản nhạc miền Trung : ‘Tiếng xưa” và “Đêm tàn Bến Ngự”. Ông sinh ngày 15 – 05 – 1915 tại làng Vân Đình , huyện Sơn Lãng , phủ Ứng Hòa , tỉnh Hà Đông, trong một gia đình nho học truyền thống. Năm 1930 ông gia nhập nhóm Myosotis, là nhóm nhạc sĩ đầu tiên khởi xướng tân nhạc VN. Ông chủ trương viết “nhạc Tây theo điệu ta”.
Trong thời gian ông và vợ, là ca sĩ Minh Trang, vào Huế thăm bạn bè đồng thời nghiên cứu về dân ca Huế và cổ nhạc miền Trung, ông đã dùng ký âm pháp Tây phương ghi lại một cách chính xác những câu hò, điệu hát của địa phương như hò mái đẩy, ca Huế, nhạc cung đình…
Cái âm hưởng buồn mênh mông của cổ nhạc Huế bắt nguồn từ tiếng hát ai oán của người dân Chàm mất nước đã ảnh hưởng đến người nhạc sĩ miền Bắc, và ông đã sáng tác bản “Tiếng xưa”. Rồi trong một đêm trăng ông cùng các bạn nghệ sĩ tổ chức đi thuyền ca hát trên sông Hương, một thú vui tao nhã của các văn nhân, nghệ sĩ lúc bấy giờ. Đêm về khuya, mọi người đều đã an giấc trong khoang thuyền. Không ngủ được, ông ra mũi thuyền ngồi ngắm trăng. Giữa cảnh im lặng trời nước mênh mông, nhìn những con đò cập bến sát bên nhau khiến ông bâng khuâng, cảm hứng dạt dào, ông liền lấy sổ tay ra ghi chép và viết nên nhạc phẩm “Đêm tàn Bến Ngự”. Hai ca khúc bất hủ này trở thành tác phẩm tiêu biểu ông. .
P/S: Bài viết này được gửi cho đài RFA đăng nhiều kỳ, tác giả ký tên Nguyễn Văn Chánh, sau đó một số báo hải ngoại đăng lại, tron nước có trang khamphahue.com.vn đăng nguyên văn. Admin nhận được bài này qua email của Phan Nữ Lan do một người bạn của Nữ Lan chuyển. Hỏi về tác giả Nguyễn Văn Chánh thì người bạn của Nữ Lan cũng không biết. Theo văn phong và mình đã đọc một số bài viết trên website và đặc san kỷ niệm 70 năm Trường Lycée Blaise Pascal của thầy Nguyễn Văn Chánh – cựu GS Pháp văn trường Quốc Học Huế và dạy sinh ngữ căn bản cho SV ĐH Huế, thầy Chánh người Đà Nẵng nhưng làm rể Huế (anh em cọc chèo với BS Lê Văn Bàng), thầy Chánh mở hiệu sang băng nhạc Sóng nhạc đầu tiên ở Huế, thời kỳ băng Akai, nên am hiểu nhiều về âm nhạc. Hiện nay thầy Chánh cũng định cư tại Montréal Canada. Nên mình nghĩ bài viết này là của Thầy Nguyễn Văn Chánh. Các bạn cho biết ý kiến nhé!
Nghi phạm bị bắt giữ liên quan đến vụ trộm trang sức hoàng gia tại bảo tàng Louvre ở Paris
Bài viết của SAMUEL PETREQUIN và NICOLAS GARRIGA
Cập nhật 8:04 AM PDT, ngày 26 tháng 10 năm 2025
PARIS (AP) — Các nghi phạm đã bị bắt giữ liên quan đến vụ trộm trang sức hoàng gia tại bảo tàng Louvre ở Paris, công tố viên Paris cho biết hôm Chủ nhật, một tuần sau vụ trộm gây chấn động thế giới.
Công tố viên cho biết các điều tra viên đã bắt giữ các nghi phạm vào tối thứ Bảy, và cho biết thêm rằng một trong những người bị bắt giữ đang chuẩn bị rời khỏi đất nước từ sân bay Charles de Gaulle ở Paris.
Truyền thông Pháp BFM TV và báo Le Parisien trước đó đưa tin rằng hai nghi phạm đã bị bắt giữ. Công tố viên Paris Laure Beccuau không xác nhận số lượng người bị bắt giữ và không cho biết liệu có bất kỳ đồ trang sức nào đã được thu hồi hay không.
Những tên trộm chỉ mất chưa đến tám phút vào sáng Chủ nhật tuần trước để đánh cắp những món trang sức trị giá 88 triệu euro (102 triệu đô la) từ bảo tàng được nhiều người đến thăm nhất thế giới. Các quan chức Pháp mô tả cách những kẻ đột nhập đã sử dụng thang nâng để leo lên mặt tiền của bảo tàng Louvre, phá cửa sổ, đập vỡ các tủ trưng bày và bỏ trốn. Giám đốc bảo tàng gọi vụ việc là một “thất bại khủng khiếp”.
Bà Beccuau cho biết các điều tra viên từ một đơn vị cảnh sát đặc biệt phụ trách các vụ cướp có vũ trang, trộm cắp nghiêm trọng và trộm cắp tác phẩm nghệ thuật đã thực hiện vụ bắt giữ. Trong tuyên bố của mình, bà bày tỏ sự tiếc nuối về việc thông tin bị rò rỉ sớm, nói rằng điều đó có thể cản trở công việc của hơn 100 điều tra viên “đang được huy động để thu hồi những món trang sức bị đánh cắp và bắt giữ tất cả những kẻ gây án”. Bà Beccuau cho biết thêm chi tiết sẽ được công bố sau khi thời hạn tạm giam các nghi phạm kết thúc.
Bộ trưởng Nội vụ Pháp Laurent Nunez đã ca ngợi “các điều tra viên đã làm việc không mệt mỏi, đúng như tôi đã yêu cầu họ, và những người luôn nhận được sự tin tưởng hoàn toàn của tôi”.
Bảo tàng Louvre đã mở cửa trở lại vào đầu tuần này sau một trong những vụ trộm bảo tàng nổi tiếng nhất thế kỷ đã gây chấn động thế giới bởi sự táo bạo và quy mô của nó.
Những tên trộm đã lẻn vào và ra khỏi bảo tàng, lấy đi một số viên ngọc quý của hoàng gia Pháp — một tổn thất văn hóa mà một số người so sánh với vụ cháy nhà thờ Đức Bà năm 2019.
Những tên trộm đã tẩu thoát với tổng cộng tám vật phẩm, bao gồm một chiếc vương miện bằng ngọc bích, một chiếc vòng cổ và một chiếc bông tai đơn lẻ từ một bộ trang sức gắn liền với các nữ hoàng thế kỷ 19 Marie-Amélie và Hortense.
Chúng cũng lấy đi một chiếc vòng cổ và bông tai bằng ngọc lục bảo gắn liền với Hoàng hậu Marie-Louise, người vợ thứ hai của Napoleon Bonaparte, cũng như một chiếc trâm cài thánh tích. Chiếc vương miện kim cương của Hoàng hậu Eugénie và chiếc trâm cài hình nơ lớn của bà — một bộ trang sức hoàng gia với tay nghề thủ công hiếm có — cũng nằm trong số những vật bị đánh cắp.
Một vật phẩm — chiếc vương miện hoàng gia gắn ngọc lục bảo của Eugénie với hơn 1.300 viên kim cương — sau đó được tìm thấy bên ngoài bảo tàng, bị hư hại nhưng có thể sửa chữa được.
Thông tin về vụ bắt giữ đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ du khách và người qua đường tại bảo tàng Louvre vào Chủ nhật. “Điều này rất quan trọng đối với di sản của chúng ta. Một tuần sau, cảm giác hơi muộn một chút, chúng tôi tự hỏi làm thế nào điều này lại có thể xảy ra – nhưng điều quan trọng là những kẻ này đã bị bắt”, Freddy Jacquemet nói. “Tôi nghĩ điều quan trọng nhất bây giờ là liệu họ có thể thu hồi lại được những viên ngọc quý hay không”, Diana Ramirez nói thêm. “Đó mới là điều thực sự quan trọng.”
Petrequin đưa tin từ London. SAMUEL PETREQUIN Petrequin đã đưa tin về thể thao và tin tức chung cho The Associated Press.
Ai cần cuốn Kỷ yếu hội thảo Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, do UBND tỉnh Thanh Hóa và Hội KHLS Việt Nam đồng tổ chức vào tháng 10 năm 2008, để có thêm sử liệu phản bác đám “bò đỏ được trả lương” (paid redbull) và “bò đỏ na-chồ” (natural redbull) về vai trò của nhà Nguyễn / vua Gia Long / Lê Văn Duyệt… thì vào link này, vô tư tải xuống để đọc hay lưu trữ mà dùng dần: https://drive.google.com/…/10F…
Hình bìa kỷ yếu Hội thảo về Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn 2008
***
Nếu bạn không tải được tài liệu theo đường link trên, mời bạn đọc trực tiếp hoặc tải file pdf theo đường link dưới đây, bạn có thể đưa ra dịch vụ photocopy in đóng thành sách (bìa copy hình trên) để đọc dần:
Bảo tàng Louvre ở Paris. Kiran Ridley/Getty Images
• Tổng cộng, vụ cướp trắng trợn giữa ban ngày hôm qua tại bảo tàng Louvre ở Paris chỉ diễn ra trong vòng bảy phút.
• Các món đồ bị đánh cắp bao gồm vương miện, vòng cổ và hoa tai lấp lánh của hoàng gia. Hãy xem chúng trông như thế nào.
Chỉ trong 7 phút trắng trợn, bọn trộm đã cuỗm đi những món trang sức “vô giá” từ bảo tàng Louvre
Bọn cướp đã sử dụng thang điện di động để đột nhập vào khu vực tầng hai của bảo tàng Paris, nơi lưu giữ những món trang sức của hoàng gia Pháp.
Cảnh sát bên ngoài Bảo tàng Louvre hôm Chủ nhật.
Bài viết của Catherine Porter và Aurelien Breeden
Catherine Porter và Aurelien Breeden đưa tin từ Paris.
Đăng Chủ nhật 19 tháng 10 năm 2025 – Cập nhật Thứ Hai ngày 20 tháng 10 năm 2025
Cánh cửa của bảo tàng lớn nhất thế giới vừa mở cửa cho công chúng vào xem được 30 phút thì hai tên trộm được thang máy nhấc bổng lên ban công tầng hai ở phía nam tòa nhà.
Chúng che mặt, cưỡi một chiếc monte-meubles, một loại thang điện gắn trên xe tải, thường thấy trên đường phố Paris, nơi nó được sử dụng để vận chuyển đồ đạc cồng kềnh qua cửa sổ các căn hộ.
Khi đến nơi, chúng dùng máy mài để đập vỡ cửa sổ, phá hệ thống báo động an ninh, và đột nhập vào Galerie d’Apollon dát vàng của Bảo tàng Louvre, nơi lưu giữ bộ sưu tập trang sức hoàng gia và kim cương quý giá được xếp thành hàng loạt tủ.
Tại đây, chúng đập vỡ hai chiếc tủ, phá thêm chuông báo động và lấy cắp tám món đồ quý giá, bao gồm một sợi dây chuyền sapphire hoàng gia, một sợi dây chuyền ngọc lục bảo hoàng gia và đôi hoa tai cùng màu, cùng một chiếc vương miện mà Hoàng hậu Eugénie, vợ của Napoleon III, vị vua nước Pháp thế kỷ 19, đeo.
Bọn trộm đi xuống cầu thang, xuống con đường ven sông Seine và tẩu thoát cùng hai thành viên trong nhóm đang chờ sẵn trên xe máy.
Tổng cộng, vụ trộm chỉ mất không quá bảy phút.
Đây là vụ trộm trắng trợn nhất — và có thể là tốn kém nhất — từng được dàn dựng tại Bảo tàng Louvre, nơi lưu giữ những bộ sưu tập nghệ thuật quý giá nhất đất nước. Các chính trị gia Pháp đã công khai thương tiếc trước mất mát này và chỉ trích những kẻ mà họ cho là có trách nhiệm, lớn tiếng yêu cầu được biết làm thế nào một chuyện như vậy lại có thể xảy ra tại bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới vào lúc 9:30 sáng Chủ nhật 19 tháng 10 năm 2025.
Catherine Porter là phóng viên quốc tế của tờ The Times, chuyên đưa tin về Pháp. Cô hiện đang sống tại Paris.
Aurelien Breeden là phóng viên của tờ The Times tại Paris, chuyên đưa tin về Pháp.
Xem những gì đã bị lấy đi trong vụ cướp bảo tàng Louvre Các món đồ bị đánh cắp bao gồm vương miện, vòng cổ và hoa tai lấp lánh của hoàng gia.
Mở hộp thoại tại mục 2/3Mở hộp thoại tại mục 3/3Vincent Isore/IP3, qua Zuma Press; Imago, qua Zuma Press; Stephane De Sakutin/AFP — Getty Images
Bài viết của Alex Marshall
Chủ nhật 19 tháng 10 năm 2025
Trong một vụ đột kích táo bạo vào Chủ nhật, những tên trộm đã đánh cắp tám món trang sức mà các quan chức mô tả là có giá trị “vô giá” từ Bảo tàng Louvre ở Paris.
Băng nhóm này đã nhắm vào Phòng trưng bày Apollo của Bảo tàng Louvre, nơi lưu giữ bộ sưu tập trang sức vương miện lịch sử của Pháp.
Bọn trộm cũng đã cố gắng đánh cắp vương miện của Hoàng hậu Eugénie, vợ của Napoleon III, với tám con đại bàng vàng, 1.354 viên kim cương, 1.136 viên kim cương cắt hoa hồng và 56 viên ngọc lục bảo, nhưng chúng đã bỏ lại sau khi lính canh ngăn chặn vụ đột kích.
Alex Marshall là phóng viên của tờ Times chuyên đưa tin về văn hóa châu Âu. Anh hiện đang làm việc tại London.
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – Học viện Chính trị khu vực II
19:20, ngày 11-09-2025 Tạp chí Cộng sản
TCCS – Tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt là hiện tượng văn hóa – tín ngưỡng tiêu biểu của khu vực Nam Bộ, hình thành từ đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và gắn liền với nhân vật lịch sử kiệt xuất của triều Nguyễn. Qua thời gian, tín ngưỡng này dần trở thành một thiết chế văn hóa dân gian bền vững, góp phần lưu giữ ký ức cộng đồng, củng cố bản sắc đô thị và nuôi dưỡng niềm tự hào vùng đất phương Nam.
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của phát triển bền vững. Nghị quyết số 33-NQ/TW (năm 2014) nhấn mạnh yêu cầu xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng đòi hỏi của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế(1). Chiến lược Phát triển văn hóa đến năm 2030 cũng xác định: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể, là nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao đời sống tinh thần nhân dân và thúc đẩy phát triển bền vững(2).
Từ chỗ khởi đầu như một hình thức tưởng niệm danh thần triều Nguyễn, tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt ở Nam Bộ đã phát triển thành một thiết chế văn hóa dân gian bền vững, góp phần lưu giữ ký ức cộng đồng, củng cố bản sắc đô thị và nuôi dưỡng tinh thần gắn kết xã hội. Trung tâm của hệ thống tín ngưỡng là Lăng Lê Văn Duyệt, công trình kiến trúc tiêu biểu dung hòa nhiều yếu tố văn hóa. Đồng thời, Lăng cũng là nơi hằng năm diễn ra các nghi thức tế lễ Tiểu cung đình triều Nguyễn, thu hút đông đảo người dân và du khách.
Tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt – di sản văn hóa đặc trưng của Nam Bộ
Nguồn gốc, không gian thờ tự và nghi lễ
Tả quân Lê Văn Duyệt (1764 – 1832) là một công thần triều Nguyễn, nổi bật trong công cuộc bảo vệ và phát triển vùng đất phương Nam. Trong hai lần giữ chức Tổng trấn thành Gia Định (1812 – 1815, 1820 – 1832), ông đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử: củng cố hệ thống hành chính, phát triển kinh tế, xây dựng hạ tầng thủy lợi và tổ chức lực lượng phòng thủ biên giới Tây Nam. Mặc dù từng bị liên lụy trong vụ án Lê Văn Khôi, nhưng ký ức cộng đồng đã “tẩy rửa” oan khuất đó, ghi nhớ ông như một vị quan “tận trung, thương dân, chính trực, liêm khiết”.
Ngay sau khi qua đời, nhân dân lập miếu thờ tại nơi an táng ông, nay gọi là Lăng Lê Văn Duyệt (phường Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh). Công trình này khởi dựng từ năm 1835, nhiều lần trùng tu và mở rộng trong các thế kỷ XIX – XX(3). Không gian kiến trúc Lăng Lê Văn Duyệt phản ánh sự dung hòa đa dạng văn hóa: kiểu thức cung đình Huế (kiến trúc “trùng thềm, điệp ốc”), kết hợp với đình làng Việt (lối nhà tứ trụ, võ ca), cùng các chi tiết trang trí Hoa (nghệ thuật khảm sánh, sứ chạm khắc rồng, lân, hoa văn) và ảnh hưởng phương Tây (vật liệu, trang trí bằng gốm tráng men xanh). Sự giao thoa này tạo nên một tổng thể kiến trúc vừa uy nghiêm, vừa gần gũi, vừa dân dã, thể hiện tính cởi mở và tiếp biến văn hóa đặc trưng của vùng Nam Bộ. Năm 1988, Bộ Văn hóa – Thông tin đã xếp hạng Lăng Lê Văn Duyệt là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Đây là trung tâm lớn nhất, tiêu biểu nhất trong hệ thống thờ tự Tả quân. Ngoài ra, nhiều cơ sở thờ tự khác vẫn tồn tại và hoạt động ở Nam Bộ: đình Tú Tề, đình Mỹ Đức, miếu Hội, đình Lê Văn Duyệt (An Giang); đình Long Hưng (Đồng Tháp); miếu Thành hoàng Bổn cảnh (Thành phố Hồ Chí Minh)…
Nghi thức dâng cúng Đức Tả quân Lê Văn Duyệt_Ảnh: tienphong.vn
Trong hệ thống thực hành tín ngưỡng, lễ giỗ Tả quân (29-7 – 2-8 Âm lịch) tại Lăng Lê Văn Duyệt là nghi lễ quan trọng, được thực hiện theo nghi thức tế lễ Tiểu cung đình triều Nguyễn. Đây là nghi thức được cử hành theo phong cách hoàng cung dành cho các vị khai quốc công thần. Ngoài lễ chính, tín ngưỡng còn duy trì nhiều nghi lễ định kỳ khác: lễ Khai hạ – Cầu an, Tết Thanh Minh, Tết Trung Thu, lễ Tết Đoan Ngọ…, các hoạt động dân gian, như hát bội, xin xăm. Trong đó, hát bội vốn là loại hình sân khấu truyền thống từng gắn bó với cung đình và đình làng được bảo lưu mạnh mẽ qua thực hành tại Lăng.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, Lăng Lê Văn Duyệt là một trong số ít không gian còn duy trì hát bội thường niên tại Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần bảo tồn nghệ thuật truyền thống trong đời sống đương đại. Trong lễ hội tại Lăng Lê Văn Duyệt, hát bội không chỉ trình diễn các tuồng tích quen thuộc mà còn có phần ca ngợi công đức Tả quân Lê Văn Duyệt. Đây được xem như một “lễ vật tinh thần” dâng cúng ông, bởi “sinh thời ông là người mê hát bội và cũng là một trong những người đầu tiên mang hát bội đến Nam Bộ”(4).
Điểm đáng chú ý là tính đa dạng và thích ứng của tín ngưỡng này. Ở một số địa phương, lễ giỗ được tổ chức theo nghi thức thờ Thành hoàng (như đình Lê Văn Duyệt ở An Giang), nơi khác lại thực hiện theo phong tục thờ tổ tiên (như đình Long Hưng ở Tiền Giang). Sự linh hoạt trong nghi thức giúp tín ngưỡng Tả quân có sức sống bền bỉ, thích ứng với các biến đổi xã hội mà không làm mất đi bản chất cốt lõi.
Đặc điểm và giá trị
Tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt trở thành một hiện tượng văn hóa – tín ngưỡng tiêu biểu, mang nhiều giá trị đa chiều. Thứ nhất, giá trị lịch sử. Đây là minh chứng cho tiến trình khai phá và định hình vùng đất Nam Bộ trong thế kỷ XIX. Việc tôn thờ một công thần triều Nguyễn cho thấy sự gắn kết giữa lịch sử quốc gia và ký ức địa phương. Các di tích, truyền thuyết và nghi lễ gắn với Tả quân đã duy trì ký ức tập thể suốt gần 200 năm, trở thành một dạng “ký ức văn hóa” (cultural memory)(5). Thứ hai, giá trị đạo đức. Hình tượng Tả quân trung nghĩa, liêm chính, tận tụy vì dân được tái hiện qua văn bia, sử sách, truyền thuyết và nghi lễ. Qua thời gian, hình tượng này trở thành chuẩn mực ứng xử cộng đồng, góp phần củng cố hệ giá trị đạo đức của người Nam Bộ: trọng nghĩa khí, đề cao liêm chính, gắn bó với cộng đồng. Trong bối cảnh xã hội đương đại, tín ngưỡng này vẫn tiếp tục lan tỏa vai trò giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ thông qua hoạt động lễ hội và truyền thông văn hóa. Thứ ba, giá trị cộng đồng. Tín ngưỡng vận hành như một “hạt nhân xã hội”, nơi cộng đồng gặp gỡ, cùng tham gia nghi lễ, chia sẻ niềm tin và ký ức tập thể. Sự kiện lễ giỗ Tả quân không chỉ là ngày hội tâm linh mà còn là dịp để các nhóm tộc người, các thế hệ gặp gỡ, giao lưu, củng cố lòng tin và hợp tác xã hội. Điều này có thể lý giải dưới góc độ “vốn xã hội” (social capital)(6), khi tín ngưỡng trở thành môi trường nuôi dưỡng liên kết xã hội, góp phần duy trì sự cố kết cộng đồng trong đời sống đô thị đa tộc người. Thứ tư, giá trị văn hóa – nghệ thuật. Không gian Lăng Lê Văn Duyệt kết hợp yếu tố kiến trúc Việt – Hoa – Âu, trong khi các hoạt động như hát bội, đờn ca tài tử, xin xăm, múa lân vừa bảo tồn nghệ thuật, vừa tạo sức hút văn hóa – du lịch. Từ góc nhìn của Bourdieu (1986), đây là dạng “vốn văn hóa khách thể hóa” (objectified cultural capital)(7) – những giá trị văn hóa hữu hình (di tích, nghi lễ, biểu tượng) được cộng đồng đầu tư, tích lũy và chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần và cả lợi ích kinh tế. Ở cấp độ khác, sự công nhận Lăng là di tích quốc gia thể hiện “vốn văn hóa thể chế hóa” (objectified cultural capital), khi giá trị văn hóa được hợp thức hóa trong hệ thống chính sách. Thứ năm, giá trị phát triển. Throsby (2010) nhấn mạnh, văn hóa có thể được coi như một loại “vốn kinh tế” (cultural capital), có khả năng tạo ra giá trị bền vững khi gắn với du lịch, sáng tạo và giáo dục(8). Trường hợp tín ngưỡng Tả quân minh chứng rõ nét: các nghi lễ, lễ hội không chỉ giữ ký ức văn hóa mà còn tạo sinh kế qua du lịch, dịch vụ, sản phẩm văn hóa, góp phần cho phát triển kinh tế địa phương. Ngoài ra, tín ngưỡng Tả quân còn tính đặc thù đô thị. So với các tín ngưỡng thờ nhân vật lịch sử khác, tín ngưỡng Tả quân mang sắc thái khác biệt. Nếu tín ngưỡng Nguyễn Trung Trực ở Tây Nam Bộ khẳng định tinh thần kháng Pháp và bản sắc nông thôn ven biển, thì tín ngưỡng Tả quân lại phản ánh bản sắc đô thị Nam Bộ, gắn với hình ảnh một công thần thời trị, hiện thân của trật tự và kỷ cương xã hội. Không gian trung tâm của tín ngưỡng là Lăng Lê Văn Duyệt nằm ngay trong lòng đô thị Sài Gòn, khiến nó trở thành một dạng “đình chung đô thị”, khác biệt với các tín ngưỡng chủ yếu gắn với làng xã truyền thống ở Bắc Bộ hay Trung Bộ.
Có thể khẳng định, tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt là một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, vừa phản ánh tiến trình lịch sử, vừa nuôi dưỡng giá trị đạo đức, vừa tạo lập sự gắn kết xã hội và bảo tồn nghệ thuật truyền thống. Sự tồn tại bền vững của tín ngưỡng này không chỉ nhờ sự tôn kính đối với một nhân vật lịch sử, mà còn do khả năng thích ứng linh hoạt và vai trò của nó như một thiết chế văn hóa dân gian trong đời sống đô thị Nam Bộ.
Tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt – một biểu hiện “sức mạnh mềm văn hóa”
Khái niệm “sức mạnh mềm” do Nye (2004) đề xuất nhấn mạnh khả năng thu hút, định hướng và tạo đồng thuận xã hội thông qua giá trị và biểu tượng, thay vì cưỡng chế. Trong đó, văn hóa là một trụ cột quan trọng bởi có khả năng định hình chuẩn mực, lan tỏa ảnh hưởng và củng cố niềm tin xã hội(9). Ở tầm quốc tế, Công ước UNESCO (năm 2003) khẳng định, di sản văn hóa phi vật thể là nguồn lực đặc biệt trong phát triển bền vững, khi vừa duy trì bản sắc, vừa tăng cường sáng tạo và gắn kết cộng đồng(10).
Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI, về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” xác định, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định văn hóa cần được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường(11); đồng thời nhấn mạnh quá trình xây dựng con người gắn với gìn giữ, phát huy hệ giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại(12). Luật Di sản Văn hóa (năm 2024) có sự cụ thể hóa, mở rộng định hướng bảo tồn gắn với phát triển bền vững, ứng dụng chuyển đổi số và khuyến khích xã hội hóa(13). Đây là cơ sở pháp lý và chính trị để nhìn nhận tín ngưỡng Tả quân như một nguồn lực mềm văn hóa đóng góp cho phát triển Nam Bộ.
Tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt trước hết là một cơ chế bảo tồn ký ức tập thể (cultural memory)(14). Thông qua không gian Lăng Lê Văn Duyệt và các cơ sở thờ tự, ký ức về một công thần triều Nguyễn được chuyển hóa thành biểu tượng cộng đồng, duy trì liên tục suốt gần 200 năm. Đây chính là minh chứng cho khả năng của tín ngưỡng dân gian trong việc gìn giữ di sản phi vật thể, đồng thời góp phần định hình bản sắc đô thị Sài Gòn – Gia Định. Sự dung hòa kiến trúc (Huế – Hoa – Âu), nghi lễ (Tiểu cung đình) và sinh hoạt nghệ thuật, dân gian (hát bội, xin xăm, múa lân) đã làm nên sức hút biểu tượng của tín ngưỡng. Theo Luật Di sản Văn hóa (năm 2024), việc bảo tồn di sản không chỉ dừng ở gìn giữ yếu tố gốc mà còn phải phát huy giá trị phục vụ đời sống hiện tại(15). Tín ngưỡng Tả quân chính là ví dụ điển hình của sự kết hợp giữa bảo tồn và phát huy, vừa thiêng liêng vừa gần gũi với cộng đồng.
Các nghi lễ và lễ hội gắn với tín ngưỡng tạo nên “không gian cộng cảm” nơi cộng đồng cùng tham gia, chia sẻ niềm tin và ký ức. Cơ chế này củng cố “vốn xã hội” (social capital), nâng cao lòng tin, thúc đẩy hợp tác và gắn kết cộng đồng. Đặc biệt, trong bối cảnh đô thị đa tộc người và biến đổi nhanh vùng Nam Bộ, tín ngưỡng Tả quân vẫn duy trì vai trò điều hòa xã hội, kết nối các nhóm cộng đồng và các thế hệ. Điều này cũng phù hợp với định hướng của Đảng ta trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, khi nhấn mạnh việc phát triển văn hóa gắn với xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ mới(16). Hình tượng Tả quân trung nghĩa, liêm chính, tận tụy vì dân đã trở thành chuẩn mực ứng xử cộng đồng, góp phần lan tỏa giá trị đạo đức, củng cố đoàn kết xã hội.
Tín ngưỡng Tả quân còn đóng vai trò ngày càng rõ nét trong phát triển kinh tế văn hóa – du lịch của vùng Nam Bộ. Theo số liệu của Ban Quản lý di tích, chỉ trong 7 ngày đầu năm, có đến khoảng 50 ngàn lượt người đến viếng(17). Con số này phản ánh sức hút đặc biệt của tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt trong đời sống tinh thần người dân Nam Bộ, đồng thời khẳng định, đây không chỉ là một di tích lịch sử – văn hóa, mà còn là một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng có sức lan tỏa rộng rãi trong xã hội đương đại. Đây là một điểm nhấn trong du lịch di sản đô thị, giúp lan tỏa hình ảnh “Sài Gòn – đô thị đa văn hóa”. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở thờ tự Tả quân tại nhiều tỉnh Nam Bộ như An Giang, Đồng Tháp… cũng trở thành điểm đến của đông đảo du khách, qua đó mở rộng sức ảnh hưởng của tín ngưỡng này trên bình diện khu vực. Throsby (2010) nhấn mạnh, văn hóa có thể được xem như một loại vốn kinh tế (cultural capital). Kinh nghiệm từ Hội An cho thấy, di sản văn hóa có thể đóng góp tới 70% GDP du lịch địa phương, trở thành động lực giảm nghèo và phát triển bền vững(18). Dù chưa đạt quy mô như Hội An, tín ngưỡng Tả quân đang mở ra tiềm năng tương tự, như phát triển dịch vụ lễ hội, sản phẩm lưu niệm, ẩm thực bản địa, nghệ thuật trình diễn, tạo sinh kế cho cộng đồng. Tín ngưỡng Tả quân là minh chứng cho quá trình chuyển hóa giá trị văn hóa thành lợi ích kinh tế bền vững, thông qua hoạt động du lịch – dịch vụ gắn với di tích.
Khác với các tín ngưỡng thờ nhân vật lịch sử khác, như Nguyễn Trung Trực (gắn với bản sắc nông thôn và tinh thần kháng chiến) hay Trần Hưng Đạo (gắn với bản sắc chống ngoại xâm miền Bắc), tín ngưỡng Tả quân phản ánh bản sắc đô thị Nam Bộ. Nó đề cao giá trị điều hành, trật tự và kỷ cương, những yếu tố thiết yếu trong một cộng đồng đô thị đa dạng, năng động. Vì vậy, tín ngưỡng này không chỉ là một thực hành tâm linh mà còn là thiết chế văn hóa dân gian đô thị, có khả năng quy tụ, định hướng và lan tỏa giá trị trong bối cảnh hiện đại.
Tóm lại, tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt vừa bảo tồn ký ức lịch sử, vừa nuôi dưỡng giá trị đạo đức, củng cố vốn xã hội và góp phần phát triển kinh tế – du lịch. Dựa trên lý thuyết về sức mạnh mềm (Nye, 2004), khung di sản phi vật thể của UNESCO (2003), cùng quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta, có thể khẳng định, tín ngưỡng này là một “nguồn lực mềm văn hóa” đặc thù, đóng góp trực tiếp cho sự phát triển bền vững của vùng Nam Bộ.
Giải pháp phát huy giá trị tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt trong phát triển bền vững vùng Nam Bộ
Một là, hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả quản lý di sản.
Luật Di sản Văn hóa (năm 2024) đã bổ sung nhiều quy định quan trọng, nhấn mạnh đến việc phát huy giá trị di sản trong phát triển bền vững, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyển đổi số và tăng cường xã hội hóa. Điều 34 của luật này cũng quy định: mọi dự án tu bổ phải được lập thành dự án và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; đồng thời Điều 6 quy định về việc bảo đảm, giữ gìn tối đa yếu tố gốc cấu thành di tích(19). Quy định này đặc biệt phù hợp với công tác bảo tồn các hạng mục kiến trúc và không gian nghi lễ tại Lăng Lê Văn Duyệt. Bên cạnh đó, Nghị định số 110/2018/NĐ-CP nhấn mạnh, bảo tồn bản sắc, bảo đảm trang nghiêm và chống thương mại hóa, minh bạch thu chi, sử dụng tiền công đức, tài trợ cho di tích(20). Áp dụng cho tín ngưỡng Tả quân, di sản này cần được nhìn nhận như một nguồn lực văn hóa đặc thù phục vụ phát triển bền vững.
Trên cơ sở đó, có thể tiến hành một số giải pháp cụ thể, gồm: (1) Lập quy hoạch tổng thể bảo tồn Lăng Lê Văn Duyệt và các di tích liên quan, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng Nam Bộ; (2) Triển khai chuyển đổi số: xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa về di tích, nghi lễ, lễ hội; ứng dụng công nghệ trong quản lý, minh bạch nguồn công đức; (3) Áp dụng nguyên tắc phát triển bền vững: bảo tồn phải song hành với khai thác giá trị du lịch – giáo dục – cộng đồng, phù hợp tinh thần Nghị quyết số 33-NQ/TW và Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030.
Hai là, phát huy vai trò chủ thể cộng đồng.
Theo tinh thần Công ước UNESCO (năm 2003), cộng đồng là chủ thể trung tâm trong việc nhận diện, thực hành và gìn giữ di sản – bởi chính họ là người sáng tạo và truyền nối di sản qua các thế hệ(21). Tín ngưỡng Tả quân tồn tại được gần 200 năm là nhờ sự truyền nối liên tục từ nhân dân, thông qua nghi thức cúng tế, bảo quản không gian thờ tự, gìn giữ ký ức văn hóa. Do đó, cần khuyến khích người dân tham gia vào công tác bảo tồn, qua các mô hình tự quản di tích, cộng đồng đồng hành trong tổ chức lễ hội, cùng kiểm soát chất lượng dịch vụ lễ hội. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện để cộng đồng thích ứng thực hành với đời sống hiện đại. Linh hoạt trong nghi lễ nhưng giữ các yếu tố cốt lõi: không gian thiêng, chuẩn mực đạo đức và tính biểu tượng của nhân vật được thờ. Chính sự thích ứng mềm dẻo này là chìa khóa để di sản sống bền vững trong xã hội đương đại.
Ba là, mở rộng không gian phát huy qua giáo dục, du lịch và công nghệ.
Tín ngưỡng chỉ thực sự phát huy giá trị khi được đưa vào các không gian tương tác mới. Về giáo dục, cần tích hợp nội dung về thân thế, sự nghiệp và tín ngưỡng Tả quân vào chương trình giáo dục địa phương, kết hợp hoạt động ngoại khóa như tọa đàm, tham quan, thi tìm hiểu để giáo dục đạo đức, lịch sử. Về du lịch, cần quy hoạch sản phẩm du lịch văn hóa – tâm linh gắn với hệ thống di tích Tả quân, kết nối với các điểm đến lịch sử khác, phát triển dịch vụ du lịch trải nghiệm bản địa (ẩm thực, nghề thủ công), góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cộng đồng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để tạo “bản đồ số di sản Tả quân”, nền tảng tham quan trực tuyến, bảo tàng số; phù hợp định hướng chuyển đổi số ngành văn hóa, mở rộng nhận diện và tiếp cận công dân trẻ.
Bốn là, thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành và liên vùng.
Tín ngưỡng Tả quân hiện diện không chỉ ở Thành phố Hồ Chí Minh mà còn tại nhiều địa phương Nam Bộ như Đồng Tháp, An Giang… Việc bảo tồn và phát huy giá trị cần có cơ chế điều phối liên vùng. Cụ thể: xây dựng chuỗi lễ hội Tả quân theo vùng (trục Gia Định – Đồng Tháp – An Giang), tổ chức giao lưu văn hóa liên tỉnh, chia sẻ kinh nghiệm quản lý, phát huy và quảng bá chung. Đồng thời, phối hợp liên ngành giữa văn hóa, giáo dục, du lịch, công nghệ thông tin và truyền thông để hình thành chuỗi giá trị từ bảo tồn đến khai thác. Mặt khác, tận dụng các chương trình hợp tác quốc tế, quỹ hỗ trợ bảo tồn văn hóa để tăng nguồn lực, kết nối tín ngưỡng Tả quân với các hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế, nâng tầm quảng bá tín ngưỡng Tả quân như một mô hình tiêu biểu về “di sản đô thị Nam Bộ” trong giao lưu văn hóa ASEAN.
Tín ngưỡng Tả quân Lê Văn Duyệt là một hiện tượng văn hóa đặc thù của Nam Bộ, vừa phản ánh tiến trình lịch sử, vừa nuôi dưỡng giá trị đạo đức, gắn kết cộng đồng và bảo tồn nghệ thuật truyền thống. Qua gần hai thế kỷ, tín ngưỡng này tồn tại trong đời sống tinh thần của người dân, vận hành như một thiết chế văn hóa dân gian đô thị, có khả năng điều hòa xã hội và định hình bản sắc đô thị Nam Bộ.
Dưới góc nhìn lý thuyết sức mạnh mềm (Nye, 2004) và khung di sản phi vật thể của UNESCO (2003), tín ngưỡng Tả quân có thể xem là một nguồn lực mềm văn hóa: vừa bảo tồn di sản, vừa củng cố vốn xã hội, vừa thúc đẩy phát triển du lịch – giáo dục – kinh tế địa phương. Đây là minh chứng sinh động cho quan điểm của Đảng ta về việc đặt văn hóa ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường, phát triển văn hóa, con người Việt Nam toàn diện, xây dựng hệ giá trị quốc gia, giá trị văn hóa và chuẩn mực con người trong thời kỳ mới. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản này không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường, mà còn khẳng định vai trò của văn hóa trong xây dựng bản sắc, củng cố niềm tin và nâng tầm vị thế Nam Bộ trong tiến trình hội nhập quốc tế./.
—————
(1) Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hà Nội, 2014 (2) Quyết định số 1909/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030 (3) Trần Văn Sung (chủ biên): Kỷ yếu 110 năm thành lập Hội Thượng Công Quý Tế (1914 – 2024), Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2024 (4) Đoàn Thị Cảnh: “Hát bội trong lễ hội Nam bộ xưa và nay”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 380, 2016 (5), (13) Assmann, J: “Collective memory and cultural identity”, New German Critique, 65, 1995, tr. 125 – 133 (6) Putnam, R. D: Making democracy work: Civic traditions in modern Italy, Princeton University Press, Princeton, NJ, 1993 (7) Bourdieu, P: “The forms of capital”, trong Richardson, J. (Ed.), Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education, Greenwood, New York, 1986, tr. 241 – 258 (8) Throsby, D. The economics of cultural policy, Cambridge University Press, Cambridge, 2010 (9) Nye, J. S: Soft Power: The Means to Success in World Politics, PublicAffairs, New York, 2004, tr. 11 (14) UNESCO: Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Paris, 2003 (10), (11), (12), (15), (16) Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, 2025, tr. 240, tr. 245, tr. 240 (13), (14), (19) Quốc hội: Luật Di sản văn hóa, 2024 (17) Lê Xuân Thọ: Khoảng 50 ngàn lượt người viếng Lăng Tả quân Lê Văn Duyệt dịp đầu năm Nhâm Dần, https://ngaynay.vn/khoang-50-ngan-luot-nguoi-vieng-lang-ta-quan-le-van-duyet-dip-dau-nam-nham-dan-post117873.html, 2022 (18) VietnamPlus, “Vietnam promotes cultural heritage values for sustainable future”, https://en.vietnamplus.vn/vietnam-promotes-cultural-heritage-values-for-sustainable-future-post304468.vnp?utm_source=chatgpt.com, 2024 (20) Chính phủ: Nghị định số 110/2018/NĐ-CP: Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, 2018 (21) UNESCO: Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (Trần Hải Vân dịch), Vụ Hợp tác – Quốc tế, Bộ Văn hóa – Thông tin, Paris, 2023
Lễ giỗ lần thứ 193 Đức Thượng công Tả Quân Lê Văn Duyệt:
Một đời vì nước – một tâm hồn vì dân
Trong các ngày 21, 22, 23/9/2025, tại khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia Lăng Lê Văn Duyệt, phường Gia Định (TP Hồ Chí Minh) diễn ra Lễ giỗ lần thứ 193 Đức Thượng Công Tả quân Lê Văn Duyệt (1832-2025) trong hào khí phương Nam theo nghi thức tế lễ Tiểu cung đình triều Nguyễn…
Thứ Hai, ngày 22/09/2025 – 20:04 – Nhân dân online
Một cảnh hát bội trong vở diễn “Phụng Nghi Đình” tại lễ giỗ Đức Thương Công Tả quân Lê Văn Duyệt.
TP Hồ Chí Minh, nơi dòng người hối hả cuốn theo nhịp sống hiện đại, vẫn có một khoảng lặng linh thiêng, nơi thời gian dường như ngưng đọng: Lăng Đức Tả quân Lê Văn Duyệt, tọa lạc tại quận Bình Thạnh (cũ). Mỗi năm, vào những ngày này, nơi đây lại rộn ràng trong không khí trang nghiêm của lễ giỗ – một nghi lễ không chỉ để tưởng nhớ một bậc khai quốc công thần, mà còn là dịp để hậu thế soi mình vào lịch sử, tìm về cội nguồn dân tộc.
Sinh năm 1763 tại thôn Long Hưng, tỉnh Tiền Giang (cũ), Lê Văn Duyệt là một trong “Ngũ hổ tướng” của triều Nguyễn, người hai lần giữ chức Tổng trấn Gia Định thành. Ông không chỉ là vị tướng tài ba, mà còn là nhà quản lý mẫn cán, người đã góp phần định hình vùng đất phương nam – mở mang bờ cõi, ổn định đời sống dân sinh, và bảo vệ biên cương Tổ quốc.
Dân gian vẫn gọi ông bằng cái tên thân thương “Ông Lớn Thượng” – một cách gọi vừa kính trọng, vừa gần gũi. Sau khi ông qua đời năm 1832, nhân dân lập miếu thờ, và Lăng Lê Văn Duyệt trở thành nơi linh thiêng, biểu tượng của lòng trung nghĩa và tinh thần yêu nước.
Nét đẹp văn hóa và tâm linh
Năm nay, lễ giỗ lần thứ 193 được tổ chức từ ngày nêu trên tại khu di tích, theo nghi thức “Tiểu cung đình triều Nguyễn”. Từ lễ Cúng Tiên thường, Xây chầu – Đại bội, đến các nghi lễ Tế Tiền hiền – Hậu hiền – Anh hùng liệt sĩ, tất cả đều được thực hiện với sự thành kính, trang trọng. Những món lễ phẩm như trà, rượu, trầu cau, bánh Gia Định xưa, trái cây Nam Bộ… không chỉ là vật cúng, mà còn là biểu tượng của văn hóa phương nam, của lòng biết ơn và tưởng niệm.
Hàng trăm đoàn từ các đình, miếu, tổ đình khắp nơi quy tụ về đây, cùng nhân dân TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận, tạo nên một không gian giao hòa giữa quá khứ và hiện tại, giữa tâm linh và đời sống.
Lễ giỗ không chỉ là dịp tưởng niệm, mà còn là bài học sống động về lịch sử, về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Những người trẻ đến đây không chỉ để chiêm bái, mà còn để hiểu rằng: đất nước này được dựng xây từ mồ hôi, máu và trí tuệ của những bậc tiền nhân như Đức Tả quân.
Tranh chân dung Lê Văn Duyệt thờ trong Lăng Ông Bà Chiểu (tác giả chụp lại)
Trong tiếng trống tế lễ, trong làn khói hương quyện bay, hình ảnh Lê Văn Duyệt như hiện về uy nghi mà gần gũi, nghiêm cẩn mà nhân hậu. Ông không chỉ là một vị tướng, mà còn là một phần hồn cốt của phương nam, của dân tộc Việt, sâu sắc và tấm lòng của người dân đối với Đức Tả quân Lê Văn Duyệt.
Từ bao đời nay, người dân Nam Bộ, đặc biệt là vùng đất Gia Định – Sài Gòn, vẫn luôn dành cho Đức Tả quân Lê Văn Duyệt một sự kính trọng đặc biệt. Không chỉ là một vị tướng tài ba, ông còn là người có tầm nhìn vượt thời đại, thương dân như con, và luôn đặt lợi ích của bá tánh lên hàng đầu.
Ông Lê Văn Hòa, một trong những thành viên trong Ban quản lý và lễ nghi Lăng Ông Bà Chiểu nói rằng, nơi an nghỉ của Đức ngài, không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là trung tâm tín ngưỡng dân gian. Người dân đến đây không chỉ để thắp nhang, cầu khấn, mà còn để thể hiện lòng biết ơn với một vị công thần đã góp phần dựng xây và bảo vệ vùng đất phương nam công lao và nhân đức.
Một vị thần trong lòng dân
Lê Văn Duyệt từng hai lần giữ chức Tổng trấn Gia Định. Không chỉ giỏi trị quốc, ông còn quan tâm đến cải cách hành chính, phát triển kinh tế, mở mang giáo dục và hạ tầng cho vùng đất phương nam. Ông cho đào kênh Vĩnh Tế, đắp đường đến tận Cao Miên, lập các cơ sở từ thiện để giúp dân học nghề, ổn định cuộc sống.
Trong tâm thức người Sài Gòn xưa, Đức Tả quân không chỉ là một vị tướng mà còn là một vị thần. Tại Lăng Ông, người dân thường xuyên đến cúng lễ, xin xăm, phóng sinh chim sẻ, chim én, thậm chí cả chim bồ câu – những hành động thể hiện lòng thành kính và niềm tin vào sự linh thiêng của ngài.
Lê Văn Duyệt không chỉ là một nhân vật lịch sử, mà còn là biểu tượng của lòng trung nghĩa, trí tuệ và nhân ái. Trong lòng người dân, ông sống mãi như một ngọn đèn soi sáng đạo lý và lòng yêu nước. Nếu bạn từng đến Lăng Ông Bà Chiểu, hãy dành một phút tĩnh lặng để cảm nhận sự hiện diện của một vị anh hùng không chỉ trong sử sách, mà trong từng hơi thở của đất trời Gia Định.
Lễ vật kính dâng lên bậc tiền nhân, kính cẩn nghiêng mình trước anh linh ngài
Tôi đứng giữa dòng người thắp nhang, nghe tiếng trống tế vang vọng, lòng chợt lặng đi. Những nghi thức cung đình được tái hiện trang nghiêm: lễ tiên thường, chánh giỗ, hậu thường, như đưa ta trở về một thời đại mà đạo lý, nhân nghĩa và lòng trung liệt là kim chỉ nam của người quân tử. Tiếng hát bội ngân vang như lời kể sử thi, nhắc nhớ về một vị quan liêm khiết.
Lòng yêu nước và sự công minh
Lễ giỗ hôm nay không chỉ là một nghi lễ truyền thống, mà là một lời nhắc nhở sâu sắc rằng: lòng yêu nước, sự công minh và tình thương dân là những giá trị bất biến, là di sản tinh thần mà Đức Tả quân đã để lại cho chúng ta, những thế hệ hôm nay và mai sau.
Trong từng tiếng trống tế, từng lời hát bội, từng nén nhang dâng lên, chúng ta không chỉ tưởng nhớ một vị anh hùng, mà còn khẳng định rằng: người dân Nam Bộ chưa bao giờ quên, và sẽ không bao giờ quên, công lao của Đức Tả quân Lê Văn Duyệt.
Nguyện cầu cho đất nước thanh bình, nhân dân an lạc, và cho đạo lý trung nghĩa mãi mãi được gìn giữ. Từ thuở thiếu thời, Lê Văn Duyệt đã theo phò Nguyễn Ánh, trải qua bao gian nan, hiểm nguy, góp phần quan trọng trong công cuộc thống nhất đất nước. Sau khi nhà Nguyễn được thiết lập, ông được giao trọng trách Tổng trấn Gia Định – vùng đất chiến lược và phồn thịnh bậc nhất phía nam.
Trong suốt hai nhiệm kỳ giữ chức Tổng trấn, Đức Tả quân đã thi hành nhiều chính sách khoan dung, xét xử công minh. Ông nổi tiếng là người cương trực, không sợ quyền thế, dám đứng ra bảo vệ dân lành khỏi sự hà hiếp của quan lại. Chính vì thế, dù đã hơn một thế kỷ trôi qua, hình ảnh của ông vẫn sống mãi trong lòng người dân Nam Bộ như một biểu tượng của lòng trung nghĩa và đức độ.
Tín ngưỡng và tình cảm dân gian
Có cụ già lặng lẽ dâng trầu cau, có em nhỏ rụt rè xin một nén nhang, có những đoàn người từ các tỉnh xa về chiêm bái. Mỗi ánh mắt, mỗi bước chân đều mang theo một niềm tin, một lòng thành. Trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm nhận được sự kết nối vô hình giữa quá khứ và hiện tại – giữa một vị anh hùng đã khuất và những thế hệ hôm nay đang tiếp nối di sản của ông.
Cảnh hát bội trong vở diễn “Phụng Nghi Đình” tại lễ giỗ Đức Thương Công Tả quân Lê Văn Duyệt.
Lễ giỗ không chỉ là tưởng niệm, mà là sự sống động của ký ức, là lời nhắc nhở rằng: lòng yêu nước, sự công minh và tình thương dân là những giá trị không bao giờ phai mờ. Đức Tả quân Lê Văn Duyệt không chỉ sống trong sử sách, mà còn sống trong từng hơi thở của đất trời Gia Định, trong từng nhịp tim của người dân nơi đây.
Hôm nay, trong không khí trang nghiêm và đầy lòng thành kính, mọi người cùng nhau tụ hội về Lăng Ông Bà Chiểu để tưởng niệm lễ giỗ lần thứ 193 của Đức Tả quân Lê Văn Duyệt, một vị công thần kiệt xuất, người đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử và trong lòng dân Nam Bộ.
“Đức Tả quân không chỉ là một vị tướng tài ba, mà còn là một người thương dân, sống thanh liêm, chính trực, và luôn đặt lợi ích của bá tánh lên hàng đầu”, bà Ba Lập, cựu giáo viên dạy sử, quê tận Cà Mau đến viếng Đức Tả quân chia sẻ.
Sau khi thắp hương phụng viếng Đức Tả quân, ông Năm Thảo, 73 tuổi ở Đồng Tháp bộc bạch: “Lăng Ông Bà Chiểu là nơi an nghỉ của Đức Tả quân Lê Văn Duyệt. Vào dịp lễ giỗ hàng năm gia đình tôi đều đến đây chiêm bái Đức ngài. Tôi cho rằng nơi đây không chỉ là một di tích lịch sử cấp quốc gia, mà còn là trung tâm tín ngưỡng dân gian, nơi người dân tìm về để thắp nén nhang tri ân, để cầu nguyện cho quốc thái dân an, và để kết nối tâm hồn mình với cội nguồn lịch sử. Xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh ngài. Nguyện cầu cho đất nước thanh bình, nhân dân an lạc, và cho đạo lý trung nghĩa mãi mãi được gìn giữ”.
1/–GƯƠNG DANH NHÂN –ABRAHAM LINCOLN, MỘT KẺ CHIẾN ĐẤU- Michel Poulaert. TL dich
Abraham Lincoln hẳn là một trong những tấm gương về sự kiên trì đáng khâm phục nhất trên cõi đời này. Nếu bạn muốn tìm một người không bao giờ đầu hàng, bạn không cần đi đâu xa hơn nữa. — Được sinh ra trong cảnh bần hàn, Lincoln đã phải chịu nhiều thất bại trong suốt cuộc đời mình.
Ông đã thất cử tám lần , bị phá sản trong việc làm ăn hai lần và đau khổ vì bịnh trầm cảm. Đáng lý ra ông có quyền buông xuôi nhiều lần, ông đã có đủ lý do để biện bạch khi bỏ cuộc hoặc nguyền rủa số phận hoặc Thượng Đế, nhưng ông đã không thực hiện bất cứ điều gì. Và bởi vì lý do ông chưa từng bao giờ bỏ cuộc, ông đã trở thành một trong những vị tổng thống vĩ đại nhất của Hoa Kỳ.
Tư cách của Lincoln là tư cách của nhà vô địch, và qua bao khó khăn gian khổ, ông đã trở thành một nhà vô địch làm nên lịch sử. Một nhà vô địch thì không bao giờ bỏ cuộc. Sau đây là bảng khái quát về đoạn đường chông gai mà Lincoln phải nếm trước khi đạt đến Nhà Trắng:
-1816- Gia đình Lincoln bị đuổi ra khỏi nhà. Abraham phải đi làm để chu cấp cho nhu cầu của gia đình. -1818- Thân mẫu ông qua đời. -1831- Phá sản lần thứ nhất. -1832- Ra tranh tài trong cuộc tổng tuyển cử; bị thất cử. -1832- Cũng trong năm này ông bị mất việc; muốn học luật nhưng không được trúng tuyển vào trường. -1833- Mượn vốn từ một người bạn để lao vào công việc làm ăn và bị vỡ nợ vào cuối năm. Ông phải trả món nợ này trong suốt 17 năm ròng. -1834- Lại ra tranh cử ở cuộc tổng tuyển cử; được bầu chọn. -1835- Dự tính việc hôn lễ; hôn thê qua đời. -1836- Suy sụp tinh thần, bịnh trầm cảm nặng; nằm liệt giường suốt sáu tháng. -1838- Ra tranh cử Chủ Tịch Hạ Viện tiểu bang Illinois: thất cử. -1846- Lại ra ứng cử ở Quốc hội; được bầu chọn; đến Washington, nơi đây ông phục vụ rất tốt. -1848- Yêu cầu nhiệm kỳ thứ nhì ở Quốc hội; không được tái đắc cử. -1849-Đệ đơn làm viên chức về đất đai ở tiểu bang của ông; đơn không được chấp thuận. -1854- Ứng cử ở Thượng Viện Hoa Kỳ; thất cử. -1856- Ứng cử vào chức Phó tổng thống ở hội nghị đảng cử ứng cử viên tổng thống ; đạt được dưới một trăm phiếu bầu. -1858- Lại ứng cử ở Thượng Viện: lại thất bại. -1860- Được bầu làm Tổng Thống Hoa Kỳ.
—Con đường thật trơn trợt và cuộc đua thật cam go. Trong suốt cuộc hành trình, tôi đã trượt chân và tôi đã mất thăng bằng, nhưng tôi đã gượng dậy và tự như rằng: ” Tôi đã sẩy chân, chứ không phải tôi đã ngã và thất bại”.
Có thể câu chuyện này sẽ giúp bạn hiểu ra rằng tất cả chúng ta đều có khả năng định đoạt được số phận mình. Có rất nhiều “ABRAHAM LINCOLN” trong chúng ta, biết đâu bạn cũng là một người như vị danh nhân ấy mà bạn chưa biết đấy thôi… Mến chúc quý bạn một ngày an lành. Người động viên đồng hành trong chủ nghĩa lạc quan của bạnMichel Poulaert.Thailan /phannữlan dịch======================
================================
2/- KHÔNG BAO GIỜ THUA CUỘC
nữlan sưu tầm & dịch
1. J.K. Rowling
J.K. Rowling vừa mới ly hôn, đang hưởng trợ cấp của chính phủ và hầu như không đủ tiền để nuôi con vào năm 1994, chỉ ba năm trước khi cuốn sách Harry Potter đầu tiên, Harry Potter và Hòn đá phù thủy, được xuất bản. Khi cô ấy đang mua sắm, cô ấy quá nghèo đến nỗi không đủ tiền mua máy tính hoặc thậm chí trả chi phí photocopy cuốn tiểu thuyết dài 90.000 từ, vì vậy cô ấy đã tự tay đánh máy từng bản để gửi cho các nhà xuất bản. Truyện đã bị từ chối hàng chục lần cho đến khi cuối cùng Bloomsbury, một nhà xuất bản nhỏ ở London, đã cho một cơ hội thứ hai sau khi cô con gái tám tuổi của giám đốc điều hành đã yêu thích tập truyện. 2. Stephen King
King đã phá sản và phải phấn đấu thật nhiều khi lần đầu tiên cố gắng viết. Ông sống trong một chiếc xe xe nhà di động với vợ mình – cũng là một nhà văn – và cả hai đều làm nhiều công việc để nuôi sống gia đình trong khi theo đuổi nghề của mình. Họ quá nghèo đến nỗi phải mượn quần áo cho đám cưới và đã phải bỏ điện thoại vì nó quá đắt. King đã nhận được rất nhiều thư từ chối cho các tác phẩm của mình đến nỗi ông đã phát triển một hệ thống để thu thập chúng. Trong cuốn sách On Writing của mình, ông nhớ lại: “Khi tôi 14 tuổi… chiếc đinh trên tường của tôi không còn chịu được sức nặng của những tờ giấy từ chối được đóng trên đó nữa. Tôi đã thay thế chiếc đinh bằng một chiếc que nhọn và tiếp tục viết”. Ông đã nhận được 60 lần từ chối trước khi bán truyện ngắn đầu tay của mình, “The Glass Floor”, với giá 35 đô la. Ngay cả cuốn sách hiện nay bán chạy nhất của ông, Carrie, lúc đầu cũng không thành công. Sau hàng chục lần từ chối, cuối cùng ông đã bán với số tiền ứng trước nhỏ nhoi cho Doubleday Publishing, nơi mà bản bìa cứng chỉ bán được 13.000 bản – không phải là một thành công lớn. Tuy nhiên, ngay sau đó, Signet Books đã được ký hợp đồng mua bản quyền sách bìa mềm với giá 400.000 đô la, trong đó 200.000 đô la được chuyển cho King. Cuối cùng Thành công đã mỉm cười với họ!
3. Jim Carrey
Khi Carrey 14 tuổi, cha anh mất việc, và gia đình anh gặp khó khăn. Họ chuyển đến sống trong một chiếc xe tải VW trên bãi cỏ của một người họ hàng, và chàng diễn viên hài trẻ đầy tham vọng – người đã tận tụy với nghề của mình đến mức anh đã gửi sơ yếu lý lịch của mình đến The Carroll Burnett Show chỉ vài năm trước, khi mới 10 tuổi – đã nhận một công việc nhà máy tám giờ một ngày sau giờ học để kiếm sống. Năm 15 tuổi, Carrey lần đầu tiên biểu diễn hài kịch trên sân khấu – trong bộ vest do mẹ anh may cho anh – và hoàn toàn thất bại, nhưng anh không nản lòng. Năm sau, khi 16 tuổi, anh bỏ học để tập trung toàn thời gian vào hài kịch. Anh chuyển đến LA ngay sau đó, nơi anh đỗ xe trên Mulholland Drive mỗi đêm và hình dung về thành công của mình. Một trong những đêm đó, anh đã tự viết cho mình một tấm séc trị giá 10.000.000 đô la cho “Acting Services Rendered”, mà anh đã hẹn là vào Lễ Tạ ơn năm 1995.
4. Tyler Perry
Tuổi thơ của Perry rất khó khăn. Anh bị lạm dụng tình dục khi lớn lên, bị đuổi khỏi trường trung học và đã muốn tự tử hai lần – một lần khi còn là thiếu niên và một lần nữa khi 22 tuổi. Năm 23 tuổi, anh chuyển đến Atlanta và làm những công việc lặt vặt khi bắt đầu sự nghiệp sân khấu của mình. Năm 1992, anh đã viết, sản xuất và đóng vai chính trong vở kịch sân khấu đầu tiên của mình, I Know I’ve Been Changed, phần nào chịu ảnh hưởng từ quá trình trưởng thành khó khăn của mình. Perry đã dồn toàn bộ tiền tiết kiệm vào vở kịch và đã thất bại thảm hại; vở kịch chỉ được diễn vào ngày cuối tuần và chỉ có 30 người đến xem. Anh vẫn tiếp tục sản xuất, làm thêm nhiều công việc lặt vặt và thường ngủ trong xe để sống qua ngày. Sáu năm sau, Perry cuối cùng đã đột phá khi vở kịch đã thành công trong khi trình diễn lần thứ bảy. Kể từ đó, anh đã có một sự nghiệp cực kỳ thành công với tư cách là đạo diễn, biên kịch và diễn viên. Trên thực tế, Perry đã được Forbes vinh danh là người đàn ông được trả lương cao nhất trong ngành giải trí vào năm 2011.
5. Sarah Jessica Parker
Parker sinh ra tại một thị trấn khai thác than nghèo ở vùng nông thôn Ohio, là con út trong gia đình có bốn người con. Bố mẹ cô ly hôn khi cô mới hai tuổi, mẹ cô tái hôn ngay sau đó và có thêm bốn người con nữa. Cha dượng của Parker, một tài xế xe tải, thường xuyên thất nghiệp, vì vậy ngôi sao tương lai đã bắt đầu ca hát và nhảy múa từ khi còn rất nhỏ để giúp kiếm thêm thu nhập từ nghề dạy học của mẹ và nuôi sống gia đình 10 người của họ.Mặc dù gặp nhiều khó khăn và đôi khi phải sống nhờ trợ cấp xã hội, mẹ của Parker vẫn tiếp tục khuyến khích con cái mình theo đuổi nghệ thuật. Gia đình chuyển đến Cincinnati, nơi Parker được học bổng tại một trường múa ba lê, âm nhạc và sân khấu. Khi cô 11 tuổi, gia đình đã có một chuyến đi đến Thành phố New York để Parker có thể thử vai cho một vở kịch trên sân khấu Broadway. Chuyến đi đã thành công – cô và anh trai đều được chọn, và gia đình đã chuyển đến New York. Parker tiếp tục làm việc chăm chỉ và giành được các vai diễn, cuối cùng trở thành nhân vật chính của bộ phim truyền hình đình đám Sex and the City.
6. Đại tá Harland Sanders -(KFC)- Kentucky Fried Chicken
Đại tá Harland Sanders đã bị sa thải khỏi nhiều công việc khác nhau trong suốt sự nghiệp của mình trước khi ông bắt đầu nấu gà tại Trạm dịch vụ Shell ven đường của mình vào năm 1930, khi ông 40 tuổi, trong thời kỳ Đại suy thoái. Trạm xăng của ông thực sự không có nhà hàng, vì vậy ông phục vụ thực khách tại khu nhà ở cá nhân liền kề của mình. Trong 10 năm tiếp theo, ông đã hoàn thiện “Công thức bí mật” và phương pháp nấu bằng nồi chiên áp suất cho món gà rán nổi tiếng của mình và chuyển đến những địa điểm lớn hơn. Món gà của ông thậm chí còn được nhà phê bình ẩm thực Duncan Hines (đúng vậy, chính là Duncan Hines) ca ngợi trên phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, khi đường liên bang đi qua thị trấn Kentucky, nơi nhà hàng của Đại tá tọa lạc vào những năm 1950, giao thông đường bộ quan trọng và lưu lượng các xe không còn đi ngang tiệm của ông nữa và Đại tá buộc phải đóng cửa doanh nghiệp của mình và nghỉ hưu, về cơ bản là phá sản. Lo lắng làm thế nào mình sẽ sống với khoản lương hưu ít ỏi 105 đô la hàng tháng của mình, ông bắt đầu tìm kiếm các nhà hàng để nhượng quyền công thức bí mật của mình—ông muốn một niken (đồng cắc năm xu) cho mỗi miếng gà bán ra. Ông lái xe đi khắp nơi, ngủ trong xe và bị từ chối hơn 1.000 lần trước khi cuối cùng tìm được đối tác đầu tiên của mình.
7. Shania Twain
Sự nghiệp của Twain thực ra bắt đầu từ nhu cầu cấp thiết hơn là tham vọng thô sơ. Bố mẹ cô ly hôn khi cô mới hai tuổi và cô hiếm khi gặp bố. Mẹ và cha dượng của cô, những người mà cô rất thân thiết, thường không kiếm đủ tiền để trang trải cuộc sống, vì vậy Twain bắt đầu hát trong các quán bar để kiếm thêm tiền khi cô mới tám tuổi.
Cô nhớ lại mẹ mình đã đánh thức cô bất cứ giờ nào để dậy và biểu diễn. Đáng buồn thay, khi cô 21 tuổi, mẹ và cha dượng của cô đã tử nạn trong một vụ tai nạn xe hơi trực diện với một chiếc xe tải chở gỗ trên đường cao tốc. Twain đã tạm gác sự nghiệp của mình để chăm sóc ba đứa em (lúc đó đang ở độ tuổi thiếu niên). Cô đã hát ở các khu nghỉ dưỡng và trì hoãn việc theo đuổi sự nghiệp nổi tiếng cho đến khi chị gái và các anh trai của cô đủ lớn để tự chăm sóc bản thân. Chỉ đến khi em trai út của cô tốt nghiệp trung học, cô mới cảm thấy ổn khi đến Nashville để theo đuổi sự nghiệp của mình. 8. Emily Blunt
Trước khi Blunt được đề cử giải Quả cầu vàng và giành được vai chính trên sân khấu và màn ảnh rộng, cô hầu như không thể trò chuyện với các bạn cùng lớp: Từ năm 7 đến 14 tuổi, Emily bị nói lắp rất nặng. Như cô đã nói với tạp chí W, “Tôi là một đứa trẻ thông minh và có nhiều điều muốn nói, nhưng tôi không thể nói ra. Nó cứ ám ảnh tôi mãi. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình có thể ngồi xuống và nói chuyện với ai đó như tôi đang nói chuyện với bạn ngay lúc này”. Nhưng tất cả đã thay đổi khi một trong những giáo viên trung học cơ sở của cô khuyến khích cô thử sức với vở kịch của trường—một kỳ tích hoàn toàn không hấp dẫn vì thực tế là cô đã từng gặp khó khăn trong giao tiếp. Nhưng giáo viên vẫn nhẹ nhàng thúc giục và gợi ý cô thử giọng và giọng nói của nhân vật để giúp cô nói ra lời thoại—và điều đó đã hiệu quả. Vào cuối tuổi thiếu niên, Blunt đã vượt qua được chứng nói lắp của mình và tiếp tục đạt được sự nghiệp thành công như hiện tại.9. Oprah Winfrey
Oprah Gail Winfrey (sinh năm 1954) là người Mỹ gốc Phi, bà xuất thân trong gia đình nghèo và có cuộc sống trải qua nhiều thăng trầm.Oprah đã phải đối mặt với rất nhiều vấn đề trong suốt cuộc đời sự nghiệp của mình—những lời chỉ trích về cân nặng, nạn phân biệt chủng tộc, những câu hỏi xâm phạm về khuynh hướng tình dục của bà, …—nhưng bà không bao giờ để chúng cản trở tham vọng và động lực của mình. Khi bạn nhìn vào tuổi thơ của bà, những chiến thắng cá nhân của bà được phản ánh dưới một góc nhìn thậm chí còn đáng chú ý hơn. Khi lớn lên, Oprah được cho là nạn nhân của lạm dụng tình dục và liên tục bị anh họ, chú và một người bạn của gia đình xâm hại. Sau đó, bà mang thai và sinh một đứa con ở tuổi 14, đứa trẻ đã qua đời chỉ hai tuần sau đó. Nhưng Oprah vẫn kiên trì, tiếp tục học hết phổ thông với tư cách là học sinh giỏi, giành được học bổng toàn phần vào đại học và từng bước thăng tiến trong sự nghiệp truyền hình, từ một người dẫn chương trình truyền hình địa phương ở Nashville đến một siêu sao quốc tế và là người sáng tạo ra kênh truyền hình RIÊNG của bà .“Những điều tôi biết chắc” (What I know for sure) là cuốn tự truyện của Oprah Winfrey. Lần theo từng trang sách, bạn có thể sẽ tìm được câu trả lời cho những thắc mắc đời thường. Oprah Gail Winfrey hiện giữ chức Chủ tịch – Giám đốc điều hành của Harpo, Inc. Winfrey đã làm nên lịch sử khi trở thành người phụ nữ đầu tiên sở hữu và sản xuất talkshow của riêng mình. Chương trình đã phát sóng suốt 25 năm, tại 145 quốc gia trên thế giới với 42 triệu lượt xem chỉ riêng tại Mỹ. Suốt 16 năm đầu tiên, talkshow không có đối thủ về tỷ suất người xem.