Trường Đồng Khánh (nay là trường Trưng Vương) là trường nữ sinh đầu tiên và duy nhất tại Hà Nội. Một thế kỷ trước, các lớp những môn học thông thường cùng nữ công gia chánh đan xen giữa hiện đại và truyền thống mang một vẻ đẹp chỉ có ở nữ sinh Hà Nội.
Nằm trên một nền đất vuông vức ngay ngã tư phố Hàng Bài và phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội (thời Pháp là đại lộ Đồng Khánh và đại lộ Carreau), Trường THCS Trưng Vương được nhiều thế hệ người Hà Nội nói chung và giới học sinh nói riêng tự hào nhắc tới như một ngôi trường nổi tiếng đào tạo nữ sinh Việt Nam và là một trong số ít những ngôi trường vẫn còn giữ được nét cổ kính và duyên dáng theo lối kiến trúc Pháp ở giữa lòng thủ đô.
Giờ tan trường tại trường nữ sinh Đồng Khánh (nay là trường Trung học cơ sở Trưng Vương ở 26 Hàng Bài) ở Hà Nội đầu thế kỷ 20.Nữ giảng viên Jouin quản lớp trong một buổi học thêu.Từ mái trường Đồng Khánh, sau này đã có những người phụ nữ thành danh trong khoa học như giáo sư Lê Thi, giáo sư Hoàng Xuân Sính…Trong suốt khoảng chục năm, số học sinh các trường Pháp và trường bản xứ tăng lên, nhu cầu học sinh nội trú cũng tăng, khiến chính quyền Pháp ở Hà Nội cũng phải cho xây dựng, sửa chữa, mở rộng nhiều trường, lớp, phòng ăn, phòng ngủ đáp ứng nhu cầu của cha mẹ học sinh. Trong ảnh là kí túc xá của trường.Nữ sinh mặc áo dài truyền thống, leo thang dây trong một giờ học Thể dục. Một số nữ sinh tốt nghiệp tú tài có tư tưởng tiến bộ đã chuẩn bị hành trang cùng dân tộc bước vào cuộc kháng chiến khi Pháp tái chiếm Hà Nội năm 1946.Một góc khác của lớp Hình học. Các môn học không hề phân biệt chỉ nam sinh mới được học còn nữ sinh thì không cần. Do đó thế hệ nữ sinh của trường Đồng Khánh xưa dù nay đã ở tuổi ngoài 80, vẫn không ngơi tự hào về nền giáo dục mà họ từng trải qua.Giờ học Hình học của nữ sinh Đồng Khánh. Các môn học đều hướng đến phát triển toàn diện cho các nữ sinh.Một lớp học vẽ. Nữ sinh đến trường vẫn mặc áo dài và đội khăn vấn truyền thống bình thường. Dù trường được đào tạo theo một hệ thống Âu hóa nhưng các nét Việt Nam vẫn được tôn trọng và giữ nguyên vẹnGiờ học Hóa với giáo cụ rất trực quan. Cơ sở vật chất của trường hiện đại và tân tiến kể cả nếu là so với các trường học hiện đại thì cũng không bị tụt hậu quá nhiều.Giảng viên Pháp tiến hành thì nghiệm trong giờ học Vật lý. Cũng nhờ được đi học nên phụ nữ Hà Nội đã thay đổi, xã hội cũng thay đổi. Phong trào “tân thời” của con gái Hà Nội là một cuộc “cách mạng” chống lại sự khắt khe trong đạo đức Nho giáo với phụ nữ, đó cũng là cuộc đấu tranh đòi bình quyền đầu tiênCác nữ sinh được học nhiều môn như chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, số học, địa lý, luân lý, phép xã giao, vệ sinh… do cô giáo người Pháp dạy. Còn các cô giáo người Việt sẽ dạy nữ công gia chánh như quản lý gia đình, may vá, thêu thùa, nấu ăn… Trong ảnh là giờ học may được chụp vào những năm 1920.
Năm 1917, chính quyền Pháp mở Học viện Nữ học An Nam (Institution de Jeunes Filles Annamites) tại Hà Nội. Năm 1937, do chế độ giáo dục sở tại thay đổi, học viện đổi tên thành Trường Nữ học An Nam (tiếng Pháp: Collège de Jeunes Filles Annamites). Trường được đặt tại phố Đồng Khánh (Phố Hàng Bài ngày nay) nên còn được gọi là Trường nữ sinh Đồng Khánh.
Đây là trường nữ sinh nổi tiếng nhất Bắc Kỳ, dành cho con gái gia đình trung – thượng lưu.
Trong giai đoạn 1917–1945, trường Đồng Khánh được coi như:
biểu tượng của giáo dục nữ tinh hoa thời thuộc địa,
nơi đào tạo nhiều nữ trí thức nổi tiếng của Hà Nội và miền Bắc.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền mới quyết định bỏ tên cũ gắn với vua thân Pháp.
Trường được đổi tên thành: Trường Trưng Vương, để tôn vinh Hai Bà Trưng – biểu tượng nữ anh hùng của dân tộc chống ngoại xâm.
Vì sao có cụm tên Trường “Đồng Khánh – Trưng Vương”?
Người Hà Nội xưa thường gọi như vậy vì:
Gắn với ký ức lịch sử Những người học trước 1945 quen gọi “Đồng Khánh”, người sau 1945 gọi “Trưng Vương”, nên cụm tên kép dùng để xác định cùng là một ngôi trường.
Dùng để chỉ một di sản liên tục Trường mang tên Đồng Khánh trong gần 30 năm và tên Trưng Vương từ 1945 đến nay, nên tên kép thể hiện:
một cơ sở,
hai thời đại.
Cách gọi trong các hồi ký, tư liệu, báo chí Nhiều tác giả viết hồi ký, nghiên cứu lịch sử giáo dục thường ghi “Đồng Khánh – Trưng Vương” để giúp độc giả dễ nhận ra mối liên hệ giữa hai thời kỳ.
Một số nhân vật nổi tiếng từng học ở Đồng Khánh – Trưng Vương
Dưới đây là vài cựu học sinh / “alumni” nổi bật của trường:
Tên
Vai trò / tầm ảnh hưởng
Đỗ Thị Hồng Phấn
Là nữ sinh Trưng Vương tham gia phong trào học sinh kháng chiến chống Pháp. Bà bị bắt khi còn rất trẻ. Báo Nhân Dân điện tử+2Hỏa Lò+2 Sau này bà làm việc trong ngành thủy lợi (nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Thủy lợi). Vietnam+ (VietnamPlus)
Nguyễn Hạc Đạm Thư
Nhà báo, phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam; từng là nữ sinh Trưng Vương. BÁO PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐIỆN TỬ Bà có những hồi ức sâu sắc về thời kháng chiến và sau này cũng hoạt động rất lâu trong báo chí / công tác quốc tế. ct.qdnd.vn+1
Dương Thị Xuân Quý
Nhà văn – liệt sĩ. Học cấp 2 ở Trưng Vương. Wikipedia Trong kháng chiến chống Mỹ, chị là phóng viên chiến trường và đã hy sinh khi còn rất trẻ. Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam+1
Hoàng Lê Minh
Là học sinh Trưng Vương, giành Huy chương Vàng Olympic Toán quốc tế (theo kỷ niệm 100 năm trường) Tạp chí Cộng sản+1
Hoàng Xuân Sính
Giáo sư, nhà toán học nổi bật, cũng được nhắc là cựu học sinh Trưng Vương. Báo Pháp Luật Việt Nam
Tôn Thất Bách
Bác sĩ, giáo sư – cũng nằm trong danh sách cựu học sinh tiêu biểu. Báo Pháp Luật Việt Nam
Võ Thị Phương Thảo
Nghệ sĩ Ưu tú, liệt sĩ – trong danh sách cựu học sinh danh dự của trường. Tạp chí Cộng sản+1
Vương Thị Thái, Mai Trọng Minh, Dương Thị Cương
Cũng được nhắc trong các nguồn về truyền thống trường Trưng Vương. Tạp chí Cộng sản
Sáng 20.11, cộng đồng toán học Việt Nam thảng thốt báo cho nhau tin buồn GS Lê Dũng Tráng đã qua đời. Dù phần lớn cuộc đời GS Lê Dũng Tráng sống ở Pháp nhưng ông là một phần của ký ức toán học Việt Nam.
Theo GS Ngô Việt Trung, nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, GS Lê Dũng Tráng vừa tạ thế ở Pau (Pháp) vào tối 19.11 (giờ Pháp), hưởng thọ 78 tuổi.
GS Lê Dũng Tráng ẢNH: TL
GS Lê Dũng Tráng bảo vệ bằng tiến sĩ khoa học năm 1971 khi mới 24 tuổi, dưới sự hướng dẫn của các nhà toán học Chevalley và Deligne (giải Fields 1978, giải Abel 2013).
Ông từng là giáo sư tại ĐH Paris 7, ĐH Bách khoa Paris, ĐH Provence Marseille. Trước khi về hưu, ông là Trưởng ban Toán của Trung tâm Vật lý lý thuyết ICTP 2002 – 2009.
Ngay từ những năm 1970, ông đã tự bỏ tiền túi về Việt Nam giảng dạy gần như hàng năm. Ông là người giúp Việt Nam gia nhập Hiệp hội Toán học thế giới năm 1974. Nhờ sự vận động của ông, nhiều nhà toán học nổi tiếng đã đến giảng bài ở Việt Nam, nhiều nhà toán học Việt Nam được đi tu nghiệp ở nước ngoài. Có thể coi ông là người đã đưa toán học Việt Nam hội nhập toán học thế giới.
Thông tin GS Lê Dũng Tráng qua đời khiến nhiều nhà toán học Việt Nam thảng thốt. Dù phần lớn cuộc đời GS Lê Dũng Tráng sống ở Pháp, nhưng ông là một phần của ký ức toán học Việt Nam.
GS Hà Huy Khoái (nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam) nói đây là một “tin thật buồn”. Ông gọi GS Lê Dũng Tráng là “người bạn lớn của toán học Việt Nam, là chiếc cầu nối toán học Việt Nam với thế giới trong những ngày gian khó”. GS Nguyễn Khoa Sơn (nguyên Phó chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học – Công nghệ Việt Nam), cũng gọi GS Lê Dũng Tráng là “người bạn quý của toán học Việt Nam”.
Ông Đào Kiến Quốc, nguyên Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin, ĐH Quốc gia Hà Nội, kể: “Tôi biết ông khi được nghe các bài giảng của ông vào năm 1976. Hồi đó, theo đề xuất của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, người ta thành lập chuyên ngành toán lý thuyết kỳ dị tại khoa Toán Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội mà mình là một trong những sinh viên đầu tiên. Thú thực là lúc đó tôi không hiểu nhiều lắm bài giảng của ông. Sau này lại chuyển sang IT nên không còn quan tâm đến toán học kỳ dị. Nhưng ấn tượng về các bài giảng của nhóm 4 nhà toán học từ Pháp gồm Malgrange, Chenciner, Lê Dũng Tráng và Federic Phạm vẫn còn đậm nét”.
GS Nguyễn Tử Siêm, một chuyên gia đầu ngành về đất đồi núi Việt Nam, cũng nhắc đến một kỷ niệm dễ thương với GS Lê Dũng Tráng nhưng không liên quan đến… toán: “Năm 1971, ngẫu nhiên gặp ông ở Trường ĐH Tổng hợp Lomonosov (Nga). Lúc ấy ông sang Nga giảng dạy một thời gian dài. Đẹp trai, thư sinh, lúc nào cũng cầm quyển sổ tay để học tiếng Việt. Thế là tôi hay tìm gặp để ông… thực hành tiếng Việt. Dễ thương thế, đáng kính thế!”.
Tháng trước, thấy GS Lê Dũng Tráng công bố một tiền ấn phẩm mới. Hôm nay, nghe tin ông mất, tôi chợt nghĩ ‘có một số người làm toán có cái hạnh phúc là có thể làm toán đến những hơi thở gần cuối cùng’.
Tháng trước, thấy GS Lê Dũng Tráng công bố một tiền ấn phẩm mới trên Arxiv (một kho dữ liệu dạng nháp những bài báo khoa học, bất kỳ ai cũng có thể truy cập miễn phí) tôi rất ngạc nhiên và vui mừng.
Mấy năm trước ông về Việt Nam tôi thấy ông yếu nhiều và dường như không còn minh mẫn như xưa. Hôm nay, nhận được tin ông mất từ Hélène
GS Tạ Quang Bửu (thứ 2 từ trái qua) cùng TS Lê Dũng Tráng (người ngồi) đi thăm rừng Cúc Phương năm 1972 ẢNH: TL
Tôi chợt nghĩ, có một số người làm toán có hạnh phúc là có thể làm toán đến những hơi thở gần cuối cùng. Tôi đã từng có vài trải nghiệm như vậy. Noel năm 2009, tôi có viết chung một công trình cùng Hélène Esnault và chồng bà, Eckart Viehweg (cũng là một nhà toán học Đức).
Trong các trao đổi qua email, bà cho biết Eckart mệt. Tôi hình dung Hélène ngồi làm toán và thỉnh thoảng lại quay sang hỏi Eckart. Một tháng sau ông mất. Đêm Eckart mất, Hélène công bố một tiền ấn phẩm trên trang Arxiv về một số thảo luận giữa hai người trong kỳ Noel vừa qua. Không phải anh hùng, chỉ là đam mê. GS Hoàng Tụy công bố công trình cuối cùng ở tuổi 91. GS Tráng mới có 79, vẫn còn trẻ quá.
Tôi gặp GS Lê Dũng Tráng lần đầu năm 2000 ở Berkeley (tên của một đại học ở Mỹ) khi tôi đang làm postdoc (nghiên cứu sinh sau tiến sĩ) ở đó, còn ông ghé qua tham dự một hội thảo, có lẽ từ lời mời của Michael Artin (nhà toán học Mỹ gốc Đức, nổi tiếng với những đóng góp quan trọng cho ngành hình học đại số).
Từ trái sang: GS Ngô Việt Trung, GS Nguyễn Khoa Sơn, GS Hoàng Tụy, GS Lê Dũng Tráng, GS Hà Huy Khoái, GS Đào Trọng Thi ẢNH: TL
Tôi mời ông về nhà ăn tối. Trên đường đi, ông kể cho tôi nhiều về toán, trong đó việc ứng dụng kết quả nổi tiếng của Michael Artin, lúc đó cũng đang ở Berkeley, vào các chứng minh kết quả nổi tiếng của mình. Rất tiếc lúc đó tôi chẳng hiểu gì. Hôm sau cùng gặp Artin ở MSRI (Viện Khoa học toán học Simons Laufer, Mỹ), ông chỉ vào tôi và nói với Artin: anh còn vị trí postdoc nào cho cậu này không? Artin cười vẻ như hơi có lỗi. Tôi thấy ấm lòng.
Trong bữa tối hôm trước, ngoài toán học, Lê Dũng Tráng còn kể một câu chuyện rất thú vị, một giả thuyết của ông về Marco Polo liên quan đến Việt Nam. Rất tiếc là tôi không thể nhắc lại – vì phát biểu giả thuyết phải rất chính xác.
Ấn tượng lớn nhất của Lê Dũng Tráng đối với tôi là, ông luôn tự hào mình là người Việt Nam.
Ông sinh năm 1947, rời Việt Nam sang Pháp lúc mới 3 tuổi. Nhưng cho đến rất lâu sau này ông vẫn chỉ có hộ chiếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông kể, có lẽ ông là công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên sang Mỹ.
Ông sang Mỹ để làm toán. Nhưng không chỉ làm toán, ông còn vận động chống chiến tranh Việt Nam trên đất Mỹ, cũng như vận động các nhà toán học Mỹ, Pháp giúp đỡ các đồng nghiệp Việt Nam. Các cố gắng của ông đã có ảnh hưởng to lớn giúp toán học Việt Nam hội nhập với thế giới. Sau này, ông luôn tranh thủ mọi dịp để về Việt Nam. Ông yêu đất nước, yêu con người, yêu cả những món ăn truyền thống Việt Nam.
GS Lê Dũng Tráng mất hôm qua 19.11. Sáng nay 20.11, trong buổi tổng kết công tác đào tạo tại Viện Toán học Việt Nam, ban tổ chức đã dành một phút để mặc niệm ông.
*
Khi nhiều nhà toán học gọi GS Lê Dũng Tráng là người bạn lớn của toán học Việt Nam, GS Ngô Việt Trung, nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, nêu ý kiến: “Không nên gọi GS Lê Dũng Tráng là người bạn lớn của toán học Việt Nam vì ông vẫn giữ quốc tịch Việt Nam và bản thân ông luôn coi mình là nhà toán học Việt Nam. Viện hàn lâm Khoa học thế giới cũng xếp ông là viện sĩ của Việt Nam”.
Thấy cảnh lũ lụt, đăng cái gì cũng không phù hợp. Nhân 20/11 xin đăng lại một bài viết về chuyện Thầy-Trò trên báo Đà Nẵng cuối tuần số ngày 19/11 cách đây 2 năm.
MỘT DI TÍCH CỦA ĐẠO THẦY-TRÒ
(LÊ THÍ• 19/11/2023 08:31)
Tại gò Nổng Tranh ở xã Duy Trung (Duy Xuyên) có một ngôi mộ đất đơn sơ nhưng có hai tấm bia cổ, một do con cháu dựng vào năm 1849 và một do học trò dựng vào năm 1850. Đó là mộ của thầy giáo Nguyễn Đức Huy, người từng là thầy của vua Tự Đức và Tiến sĩ Phạm Phú Thứ.
Thầy giáo Nguyễn Đức Huy
Nguyễn Đức Huy tự là Bá Diệu, sinh năm Tan Dậu 1801 tại làng Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, dinh Quảng Nam (nay thuộc xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên) nhưng quê chính ở làng Trung Phường cùng huyện (nay là thôn Trung Phường, xã Duy Hải).
Thân phụ của ông dời nhà từ Trung Phường lên lập nghiệp ở Trà Kiệu để hành nghề dạy học và làm thuốc. Lúc nhỏ ông là người chí hiếu với cha mẹ. Theo lời trên văn bia còn lưu lại thì khi cha mẹ tuổi cao sức yếu, hàng ngày ông tìm món ngon thức ngọt dâng lên cho cha mẹ để tỏ lòng hiếu kính.
Khi cha mẹ qua đời ông than khóc đến “chảy máu cả mắt”, dựng nhà bên mộ suốt ba năm để cư tang chẳng ngại sơn lam chướng khí, rắn rít cọp beo. Đạo hiếu của ông khiến mọi người phải ngưỡng mộ.
Nguyễn Đức Huy là người học giỏi thông kinh sử, y lý nhưng không gặp may trên hoạn lộ. Cả ba lần ông thi Hương đều chỉ đỗ tú tài. Sau đó ông quyết định không thi tiếp, ở nhà mở trường dạy học, môn đồ khắp vùng đến xin theo học rất đông, nhiều người sau này đỗ đạt vinh hiển.
“Môn đồ trước sau hơn ngàn người cùng ngâm vịnh thi, thư; có giới Nho sĩ đông đúc, lớp quan lại cùng ngoạn du ở trong trường đức nghiệp. Con cháu vâng theo giáo huấn, quyết thân gần với hiếu đạo, với lối sống cần cù, thuận ý ruộng nương.
Tiên sinh vững lập giáo huấn chỉnh nghiêm trong học tập, sùng yêu hiếu đạo, tấm gương sáng ấy, dẫu người xưa cũng ít người sánh kịp” (Lời trên văn bia – Theo bản dịch của nhóm tác giả ở Phân viện Văn hóa nghệ thuật tại Huế).
Tiếng thơm bay xa, năm 1840 dưới triều Minh Mạng ông được triều đình triệu về kinh bổ chức Hàn lâm viện Điển bạ, được sung vào giảng tập cho các hoàng tử. Năm 1848 dưới thời Tự Đức, ông được thăng chức Hàn lâm viện Thị giảng sung Tán thiện rồi thăng Hàn lâm viện thị độc. Cũng năm này ông được bổ Viên ngoại lang Bộ Lại.
Năm Tự Đức thứ 2, vào ngày 1 tháng 8 năm Kỷ Dậu (16/9/1849), ông bị nhiễm bệnh, qua đời ngay tại nhiệm sở, hưởng dương 49 tuổi. Nhà vua vô cùng thương xót một bề tôi thanh liêm mẫn cán, người thầy học cũ khả kính, đã truy tặng Trung Thận đại phu, Tán trị, lĩnh chức Thái thường tự Thiếu khanh, đặt tên thụy là Đoan Cẩn. Nhà vua cũng ra lệnh cấp kinh phí 20 tấm lụa và 400 lạng bạc, cho lính đưa linh cữu về quê nhà an táng.
Ngày 23 tháng Chạp năm Kỷ Dậu (4/2/1850) quan tài ông về đến quê nhà. Các học trò của ông dù đang làm quan ở xa cũng xin về quê thọ tang thầy. Ông được táng trên núi Càn La, nay là gò Nổng Tranh thuộc thôn Nam Thành, xã Duy Trung. Mộ ông được dân địa phương gọi là mộ Ông Thầy.
Học trò dựng bia vinh danh thầy
Tại mộ Nguyễn Đức Huy hiện nay ngoài tấm bia do 6 người con phụng dựng vào năm Kỷ Dậu 1849 có ghi 12 chữ: “Đại Nam Thái thường tự khanh Nguyễn phủ quân chi mộ” còn có một tấm bia bằng sa thạch có kích thước khoảng 1,2 x 1,4 mét do 96 môn đệ của ông dựng vào tháng 8/1850 ghi lại tiểu sử, ca ngợi tài năng, công đức và tỏ lòng thương tiếc của học trò đối với cái chết của thầy.
“Khi quan Thái thường tự Thiếu khanh Nguyễn Đoan Cẩn (là thầy dạy của Phạm Phú Thứ) mất, “những học trò đang làm quan đều xin về” để dự lễ tang của thầy, rồi “dựng bia nêu công đức” cho thầy” (Nguyễn Dị Cổ, Cách người xưa khuyến học trọng văn, Quảng Nam cuối tuần số ngày 27/12/2020).
Tấm bia lớn với lời văn dài 1.691 chữ chia làm 3 phần. Phần thứ nhất là lời giới thiệu tiểu sử, tài năng và đức độ của thầy. Phần hai là bài minh theo thể tứ tuyệt gồm 10 đoạn, mỗi đoạn 16 chữ. Phần ba ghi tên, học vị, chức vụ của 96 môn đồ tham gia dựng bia.
Trong 96 môn sinh có 1 tiến sĩ (Phạm Phú Thứ), 1 phó bảng (Hồ Hằng Tánh), 8 cử nhân (Nguyễn Thanh Trực, Phạm Phú Duy, Phạm Thanh Nhã, Biện Thế Vĩnh, Trần Minh Hưởng, Nguyễn Khác Cung, Phạm Văn Thủy, Phạm Hữu Đạo), 29 tú tài, 2 thơ lại (nhân viên hành chánh ở các phủ huyện), 1 phó tổng và 54 sĩ nhân (người có học nhưng chưa đỗ đạt).
Lời trên văn bia được cho là do Phạm Phú Thứ chấp bút vì ông là người đỗ cao nhất (tiến sĩ) và tại thời điểm dựng bia ông là người có chức vụ “đặc biệt” làm Khởi cư chú tại Viện Tập hiền (Cơ quan ghi chép lời nói của vua) kiêm Kinh diên giảng quan (chuyên việc giảng kinh sách cho nhà vua). Toàn văn bia rất dài, chỉ xin trích bản dịch bài minh của nhà nghiên cứu Phú Bình Lê Đình Cương để hiểu thêm tài đức của thầy và tấm lòng của trò:
“Đỉnh Ấn sơn phía nam cao ngất/ Nơi khởi nguồn dòng chảy Duy Xuyên/ Mênh mông, mạnh mẽ, bao dung/ Núi linh, sông hiển nảy sinh người tài.
Nhớ thầy ta được trời phó thác/ Mọi điều hay để lại cho đời/ Làm gương đạo hiếu cho người/ Luân thường giữ trọn một đời tôn sư.
Ái mộ thầy biểu dương mối Lễ (kinh Lễ)/ Mừng kính thầy dạy dỗ nền Thi (kinh Thi)/ Họ hàng, làng xóm trong ngoài/ Không ai không tỏ rõ lời ngợi khen.
Văn chương thầy rạng ngời đức độ/ Thầy lại đem sở học giúp đời/ Tài năng thi thố tót vời/ Chăm chăm giữ vẹn đạo trời phú cho.
Thầy uyên bác rèn người dạy chữ/ Đào tạo nên đông đảo học trò/ Lớp sau, lớp trước nối nhau/ Làu thông kinh sử, nền Nho rạng ngời.
Như cỏ chi mọc trong cốc núi/ Như sen xanh cao vút giữa bùn/ Lung linh chữ nghĩa thơm hương/ Như dòng nước chảy từ nguồn về xuôi.
Dẫn dắt trò trên đường chính thiện/ Công đức thầy cao cả xiết bao!/ Dạy ngẩng đầu báo ơn vua/ Dạy cúi đầu học những gương trung thần.
Chiếu điển tịch chọn người tài tuấn/ Triều đình ban ân lễ đủ đầy/ Nhà vua mến nhớ thầy xưa/ Phong thêm chức tước cho vừa công lao.
Thầy quá vãng cả triều đều tiếc/ Nỗi buồn này lan tỏa muôn nơi/ Như nhà đổ, như sụt đồi/ Mối sầu thiên cổ theo người chẳng tan.
Vẫn còn đó tiếng thơm, phép tắc/ Của thầy ta sáng mãi nước non/ Núi La bia đá hãy còn/ Nghìn thu nhớ mãi công ơn của thầy”.
Thầy giáo Nguyễn Đức Huy và môn đồ của ông là tấm gương sáng cho đời sau noi theo, cả những người làm nghề dạy học lẫn những người được “đi học”. Đó là bài học cụ thể về tinh thần tôn sư trọng đạo, là cách thức thực tế để nâng cao đạo đức xã hội.
Di tích mộ Nguyễn Đức Huy vì vậy cần được tôn tạo và phát huy giá trị. Được biết, Phòng VH-TT huyện Duy Xuyên đang tiến hành lập hồ sơ để công nhận di tích cấp huyện cho mộ Nguyễn Đức Huy.
Sáu mươi năm so chiều dài lịch sử của đất nước thì chưa nhiều, nhưng so với một đời người xem như đã gần trọn ( 60 năm cuộc đời ! ). Đặc biệt nhất là khoảng thời gian Năm Mươi Năm sau biến động lớn của lịch sử, đã để lại trong lòng những người đi qua nó bao nỗi nhớ không phai.
Sáu mươi năm! Nhớ sao hết các thế hệ học sinh trưởng thành ra trường, bao thế hệ thầy cô giáo đã dừng chân nơi đây, đã từng một thời gắn bó với những học trò thân thương, đưa các em sang sông rồi tiếp tục chống con đò của đời mình ra đi đến những bờ bến khác …! Tôi là một trong số những người đưa đò của những năm tháng ấy, ngắn ngủi thôi, hai năm, từ 1974 đến 1976, khi trường Bắc Bình hôm nay còn là trường trung học gồm cả đệ nhất cấp và đệ nhị cấp mang tên Phan Lý Chàm – Bình Thuận.
Thời gian từ bấy đến nay quả thật quá dài, các sự kiện đã quên nhiều, còn chăng là cảm xúc trong tôi về những năm tháng ấy vẫn còn vẹn nguyên mỗi khi nhớ về…
NĂM HỌC 1974-1975:
Từ trường Đại Học Sư Phạm Huế (chế độ Sài Gòn ), chúng tôi là các sinh viên nhiều bộ môn, vừa tốt nghiệp ngành Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp ( giáo viên cấp 3 bây giờ) chọn nhiệm sở về Ty Giáo Dục Bình Thuận, sau đó chọn về các trường trung học trong tỉnh từ đầu năm học 1974 – 1975 như trường Phan Bội Châu, trường Hòa Đa, trường Tuy Phong, Hải Ninh, ….
Về trường Phan Lý Chàm có tôi ( Phan Hữu Phước (ban Lý Hóa) và Thầy Nguyễn Đôn Đường ( ban Sử Địa). Ngoài ra còn có một số giáo sư trung học đệ nhất cấp cũng về các trường.
Thầy Hiệu trưởng Lư Văn Hiệu vào đón chúng tôi ở Ty Giáo Dục Bình Thuận. Đường từ Phan Thiết về Phan Lý Chàm khoảng 70 km ngược quốc lộ I ra phía bắc, hai bên có nhiều đồn bót, kẽm gai giăng đầy, ruộng đồng quanh đó bỏ hoang, bằng chứng của chiến tranh đang hiện diện khá khốc liệt ở đây, tuy nhiên, là thế hệ thanh niên lớn lên trong khói lửa, hình ảnh đó cũng không có gì lạ với chúng tôi.
Xuống xe ở Ngã Ba Sông Mao, đi vào trong xóm người Chăm, ra gần đồng lúa là đến Trường Phan Lý Chàm. Trường không lớn, có 4 dãy phòng học và nội trú cho cả cấp 2 và cấp 3. Một hội trường nằm ngay chính giữa, có hai dãy phòng quay lưng lại với sân trường tạo cảm giác hơi bức bối. Ngoài thầy cô ở địa phương như Thầy Thông Trọng, Thầy Đặng Tịnh, Cô Thanh, Thầy Kim Ngọc Thành, Thầy Bố Xuân Hổ, Thầy Lâm Quang Tọa,… còn có nhiều thầy cô từ Sài Gòn, Đà Lạt, Phan Thiết , Huế… về dạy. Tôi chỉ còn nhớ một số tên Thầy Cô như Cô Đào, Cô Bạch, Cô Nguyệt, Cô Hương Quế, Cô Nết, Thầy Hùng (Toán), Thầy Quí, Thầy Lâm ( Sinh), Thầy Đường,…Theo Thầy Hiệu trưởng thì năm học 1974- 1975 là năm mà giáo viên của trường đầy đủ nhất, mạnh nhất, không phải thỉnh giảng giáo viên từ trường Hòa Đa lên dạy nữa, vì vậy mà Thầy rất vui. Học sinh trong trường gồm người Chăm, người Nùng và người Kinh học tập hòa thuận bên nhau. Các em ngoan hiền và khá chăm chỉ.
Bao quanh trường là xóm người Chăm, ở đây không có các hoạt động vui chơi như nơi khác, muốn giải trí phải ra khu vực người Kinh, nhưng bù lại người Chăm sống rất đoàn kết, tình cảm, chân thành. Chúng tôi đã có những ngày tháng vui vẻ, chan hòa với bà con nơi đây. Tôi, Thầy Đường và vài thầy khác thường đến nhà Thầy Hiệu, Thầy Thành, Thầy Tọa chơi, riêng tôi còn học thêm tiếng Chăm, được một Cô giáo xinh đẹp người Chăm giúp đỡ, nhờ vậy học rất nhanh! Xin cảm ơn.
Là những giáo viên mới ra trường từ xa đến, được đồng nghiệp và học sinh quí mến nên dù xa quê, chúng tôi vẫn rất vui, đem hết những hiểu biết, cộng hưởng với tình yêu thương chân thành, chúng tôi tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức đến các em. Quí hóa thay, những học sinh ngày ấy ít nhiều đều thành đạt và dù hơn 50 năm trôi qua nhiều em vẫn giữ được tình cảm thầy trò mặn nồng như ngày nào.
Từ tháng 3 năm 1975: Tin tức các tỉnh cao nguyên và miền trung làm mọi người băn khoăn, lo sợ. Sang đầu tháng 4, Nha Trang rồi Phan Rang thất thủ, nhiều thầy cô đã rời trường về quê. Nhận thấy đường bộ về Phan Thiết không an toàn, tôi xuống Phan Rí Cửa lên tàu biển vào Phan Thiết.
Ngày 19/4/1975 : giải phóng xong Phan Thiết, các thầy cô lần lượt đến trình diện chính quyền mới. Sau ngày 30/4, chúng tôi được gọi đi học chính trị rồi về lại trường cũ để tiếp tục và kết thúc năm học 1974-1975, chuẩn bị cho năm học mới. Ty giáo dục Bình Thuận phân công tôi làm Trưởng ban điều hành trường.
Trường cũ sau vài tháng nghỉ học trở nên hoang vắng, ngổn ngang. Bàn ghế, dụng cụ văn phòng bị các nhà dân và cơ quan mới ở xung quanh mang về sử dụng, giáo viên có người trở lại, có người đi luôn, học sinh cũng vậy. Sau nhiều lần thông báo triệu tập, học sinh đã trở lại khoảng hai phần ba, một số em nghỉ học do thay đổi cuộc sống, một số em theo cha mẹ về quê. Bản thân tôi và các thầy cô trở lại đã làm việc hết mình, không nề hà nặng nhẹ. Chúng tôi khiêng vác bàn ghế, sơn kẻ khẩu hiệu, tổ chức cho các em ôn tập, kiểm tra, kết thúc năm học.
NĂM HỌC 1975 – 1976:
Năm ấy trường không nghỉ hè, bởi sau khi kết thúc năm học, tất cả giáo viên vào Phan Thiết học chính trị và nghiệp vụ. Rất nhiều chuyên đề tôi không còn nhớ lắm như: “ Nền văn hóa nô dịch , phản động và đồi trụy của Mỹ Ngụy”; “Ba cuộc cách mạng: CM Khoa học kỹ thuật; CM quan hệ sản suất; CM văn hóa tư tưởng”, trong đó CMKHKT là then chốt; “ Các hình thức sở hữu: sở hữu tập thể, sở hữu toàn dân”;…Về nghiệp vụ được học: cách xác định mục đích yêu cầu của bài giảng, các bước lên lớp, các nội dung mới về các môn xã hội như văn, sử, địa. Các môn tự nhiên cũng có thay đổi nhưng ít hơn. Thật ra chúng tôi cũng mới nghe lần đầu nên chưa hiểu lắm vào lúc đó, tuy nhiên năm học mới vẫn tiến hành theo những điều vừa được trang bị.
Đây là năm học đầu tiên sau 1975, rất nhiều cái mới, rất nhiều khẩu hiệu được lên trưng lên : “Vì lợi ích mười năm trồng cây – Vì sự nghiệp trăm năm trồng người” , “ Học đi đôi với hành – Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất – Nhà trường gắn liến với xã hội”…..
Thời gian này, nhà trường hoạt động trong điều kiện rất khó khăn. Ty Giáo dục Bình Thuận chỉ cấp cho trường một số giấy tờ văn phòng phẩm, vở và giấy kẻ ngang cho giáo viên….Rất nhiều việc cần chi tiêu nhưng không có kinh phí, phải ra ngoài UB huyện Phan Lý Chàm nhờ giúp đỡ. Lương giáo viên vẫn chưa có, mỗi người chỉ được lĩnh một ít tiền tượng trưng, một ít gạo hay thực phẩm thay gạo để xoay xở trong tháng. Tuy vậy, mọi người đều rất cố gắng làm việc, ai cũng hăng say cống hiến, không hề tính toán.
Do trường chỉ có một Trưởng ban điều hành là tôi, không có các phó ban nên tôi ngoài công tác quản lý, lo đối nội đối ngoại, còn phải kiêm nhiệm công tác chuyên môn. Cũng may về công tác lao động có Thầy Nguyễn Đôn Đường nhiệt tình phụ trách cho. Tôi còn nhớ trên cái gò cao ở khoảng giữa hội trường và dãy 2 phòng học, Thầy Đường cho dựng 2 tấm bảng ghi các nội dung: “Lao động là vinh quang” và “Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, để khuyến khích, động viên tinh thần lao động của học sinh. Thầy muốn san cái gò đó thành một bãi đất để trồng rau nhưng… cái gò đó sao mà cứng quá, toàn đá sỏi lâu năm, rồi nghe các thầy cô người địa phương nói đó là gò thiêng nên cuối cùng đành …thôi. Bù lại, Thầy tổ chức học sinh làm lại con đường dẫn vào trường, làm cỏ quanh trường, làm vệ sinh tất cả các phòng học giúp quang cảnh trở nên sạch đẹp và khang trang hơn. Thầy còn cho học sinh trồng lúa ở hai thửa ruộng của trường sau dãy nhà nội trú cũ gọi là để có cái bỏ bụng về sau!
Cảm ơn người bạn thân “ cùng một lứa bên trời lận đận” ( – Cũng vẫn mày tau tới tận chừ!)
Nhớ lại lúc bấy giờ bản thân thầy cô và học sinh có rất nhiều tâm tư, trăn trở: Gia đình có người đi học tập cải tạo, công việc hoặc buôn bán không còn như xưa…nhưng do niềm vui hòa bình đang òa vỡ, choáng ngợp trong mỗi người dân Việt Nam sau bao năm chiến tranh, do tin tưởng vào một ngày rất gần tương lai đất nước đầy sán lạn, những người thân sau một khoảng thời gian ngắn học tập về chính trị để hiểu nhau hơn, xóa bỏ hận thù dân tộc, sẽ được trở về cùng toàn dân ta chung tay xây dựng lại đất nước phát triển nhanh chóng… nên mỗi người tự động viên mình và người thân, học trò của mình hãy cố lên làm việc, học tập.
Tôi ra vào Ty Giáo dục Bình Thuận ở Phan Thiết nhiều lần, hai bên đường những đồn bót, dây kẽm gai ngày xưa giờ không còn, đâu đó đồng lúa lên xanh, rải rác các xóm chợ nhỏ tự phát họp hai bên đường. Các mái trường cấp một, cấp hai tuy dấu vết bom đạn vẫn còn loang lổ trên tường vôi, mái lợp nhưng đã rộn rã tiếng cười trẻ thơ, thấp thoáng hình bóng thân yêu của học sinh vui vẻ đến trường,… lòng tôi cũng ánh lên những mừng vui và hy vọng qua những hình ảnh đổi thay, thanh bình ấy.
Trường thiếu thầy cô nhưng mọi người sẵn sàng dạy đủ số tiết mỗi môn, không để trống tiết. Bản thân tôi đi họp nhiều, thầy cô khác dạy thay bằng môn của mình, tôi về sẽ dạy bù, mỗi tuần có thể đến 30 tiết, gồm 3 môn Toán, Lý, Hóa. Lúc này không có chế độ giờ thừa nhưng các thầy cô không hề so đo hơn thiệt. Có thể ngày ấy phần soạn về mục đích yêu cầu bài giảng còn nhiều lúng túng, thậm chí bài giảng theo theo thiết kế mới còn vụng về nhưng không khí làm việc trong trường thì thật tuyệt vời, có lẽ khó tìm lại được những tháng ngày làm việc, cống hiến vô tư và hết mình như những ngày tháng đó!
Năm học sôi động, miệt mài, tin yêu cũng dần qua.( Suốt những năm tháng còn lại của đời dạy học, tôi không bao giờ tìm lại được cái không khí làm việc tuyệt đẹp như năm học ấy nữa. Không bao giờ!). Gần nghỉ hè có một số thầy cô từ ngoài Bắc vào chi viện, trong đó có thầy Nguyễn Văn Nhiễn, giáo viên chính trị, người mà chúng tôi lúc ấy rất khâm phục, thầy hiểu biết về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội rất rõ, có những điều khi học chính trị chưa rõ lắm, đem hỏi thì thầy trả lời thao thao bất tuyệt.
Sở Giáo dục Thuận Hải ( gồm hai ty giáo dục Ninh Thuận và Bình Thuận) đặt ở Phan Rang triệu tập tôi ra Sở để giao nhiệm vụ mới : Thành lập Trường Cấp 3 Vừa Học Vừa Làm Hàm Thuận. Thầy Nguyễn văn Nhiễn sẽ thay tôi điều hành trường Phan Lý Chàm từ năm học mới.
RA ĐI
Khi ra đi nếu biết là mãi mãi
Thêm một lần xin mãi mãi chia tay
( Lord Byron )
Gần cuối hè năm 1976, tôi chuẩn bị vào Hàm Thuận, mang một theo phong bì dán kín do ông Nguyễn Trung Hậu, Giám đốc Sở giáo dục Thuận Hải gửi cho Bí thư huyện Hàm Thuận ( ông Năm Nhẫn), một thư giới thiệu tôi về chuẩn bị thành lập trường vhvl Hàm Thuận, và còn có một thư tay viết cho riêng tôi của một người tôi không quen, ký tên là Nguyễn Tạo (?) Trưởng phòng Tổ chức Sở giáo dục Thuận Hải, với lời lẽ rất cảm động, thân thiết, động viên tôi, như một người anh dặn dò em mình trước lúc lên đường nhận công việc khó khăn mới!
Một sự tình cờ làm ngày đi của tôi phải chậm lại một ngày. Hè năm đó, thời tiết quanh khu vực trường có những biến đổi bất thường. Trước hè, một cơn lốc lớn vào ban đêm cuốn bay cả phần mái trên của hội trường ra ngoài ruộng hơn cả trăm mét, vương vãi nhiều nơi, Thầy Đường phải huy động học trò thu nhặt mang về phân loại để có kế hoạch tận dụng lại. Rồi trước ngày tôi đi, mưa tầm tả, đến chiều tối thì hai đám ruộng của trường ở phía sau vừa mới chín bị ngập hoàn toàn trong nước. Thầy cô địa phương cho biết cần phải thu hoạch ngay nếu không thì lúa bị nước ngâm lâu sẽ hỏng hỏng. Thật khó vì học sinh đang nghỉ hè, nhưng còn nước còn tát, các thầy cô ở gần trường đi thông báo, huy động một số học sinh đến gặt lúa giúp. Cũng đã đưa ra phương án nếu không được phải nghĩ đến chuyện thuê người. Ai ngờ, sáng hôm sau, tuyệt vời làm sao, khoảng hai chục em học sinh xuất hiện trước cổng trường, mang theo dụng cụ để gặt lúa! Nhân lực được chia thành hai tốp, một tốp chủ lực sẽ gặt, bó lúa, tốp thứ hai gồm học sinh và một số giáo viên ôm lúa mang lên dựng quanh hành lang các lớp học cho mau ráo nước! Lẽ ra phải lên đường đi Hàm Thuận nhưng cứu lúa cũng nóng như cứu lửa, tôi ở lại cùng đồng nghiệp và học sinh cũ ! ( Ngậm ngùi làm sao khi phải gọi như vậy!)
Ôi, bì bõm trong nước lạnh ngập thắt lưng trên nền ruộng lổm chổm cuống rạ, tay ôm từng bó lúa lần đầu tiên trong đời sát vào người, đã tạo nên trong tôi một cảm giác vừa lạ lẫm, vừa thân thương khó tả đối với một người chỉ quen sống ở thành thị! Làm sao tôi có thể quên?!
Quá trưa thì công việc hoàn thành. Tôi tranh thủ phơi quần áo ướt, ăn cơm, nghỉ mệt và chuẩn bị lên đường. Khoảng 4 giờ chiều, tôi mang hành lý chuẩn bị ra quốc lộ để đón xe vào Phan Thiết thì thấy lao xao phía cổng, một tốp học sinh chạy vào giữ hành lý, níu tôi lại, trách tôi sao đi mà không cho các em biết (có lẽ buổi sáng khi gặt lúa một vài giáo viên hỏi tôi về chuyện ra đi nên một số em nghe được), tôi nói do yêu cầu công tác và không muốn bịn rịn thêm. Các em không chịu, đề nghị tôi ở lại thêm một đêm để thầy trò tâm sự từ biệt, một số em còn sụt sùi khóc, tôi đành phải chấp nhận.
Trời vừa tối, các em gánh vào trường một gánh lỉnh kỉnh như bán hàng rong, đó là gánh cháo vịt! Đêm hôm đó, tôi và một vài bạn giáo viên, cùng với một số học sinh mà đã quá lâu tôi không còn nhớ chính xác: Kim ngọc Nhân, Ngô văn Hưng (Dĩ), Võ duy Quang ( Võ Đen), Đào văn Trung, Nguyễn Lạnh,Thái Thanh, Nồng Trinh, Linh, Loan Tao (con ông Tao), Loan Việt Nam (nhà may Việt Nam), Loan Mỹ Trang ( nhà may Mỹ Trang), Lê thị Hiếu, Cao thị Tuyết Lâm,…gần như thức trắng đêm (còn nhiều em nữa mà lâu quá tôi không nhớ hết). Thầy trò ôn lại chuyện vui buồn trên lớp, dặn dò cố gắng học tập, rồi tôi đệm đàn cho các em hát các bài ca tranh đấu của phong trào sinh viên học sinh miền Nam mà tôi đã dạy các em, hát các bài ca cách mạng vừa mới biết… Một đêm sinh hoạt đầy niềm vui, nỗi buồn, lòng cảm động, tình yêu thương gắn bó chan hòa khiến bước chân tôi khi ra đi sáng hôm sau thêm trĩu nặng. Xin tri ân tình nghĩa thầy trò những tháng ngày gian nan !
Quyến luyến mấy rồi cũng đến giờ chia tay. Các em đến mang hành lý cho tôi ra ngã ba Sông Mao, đón xe khách bịn rịn tay nắm chặt tay tiễn tôi lên đường!
Tuy lòng lưu luyến nhưng tôi không buồn vì trước mắt còn phải nghĩ suy bao nhiêu việc làm mới, đến một vùng đất mới, xây dựng trường học mới, tiếp đón thầy cô mới, thu nhận học sinh mới… Tôi vẫn cảm thấy thú vị pha chút khinh bạc của tuổi trẻ, những khó khăn đều coi là chuyện nhỏ, niềm tin yêu vào cuộc sống tươi đẹp sau chiến tranh vẫn lấp lánh mạnh mẽ trong lòng tôi. Tôi vui vẻ mạnh dạn ra đi để thành lập trường cấp 3 vừa học vừa làm Hàm Thuận mà hành trang chỉ một tấm lòng đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, một lý tưởng trong veo như tuổi học trò! Ôi đẹp làm sao!
Thời gian trôi qua, trường cũ của tôi sau đó đổi tên thành Trường Trung Học Phổ Thông Bắc Bình và dời ra thị trấn Chợ Lầu. Tôi có ghé trường mới vài lần theo đoàn công tác của Sở Giáo dục Bình Thuận (trong dịp Thanh tra, coi thi,…). Đồng nghiệp ngày xưa không còn ai, một vài học sinh cũ giờ thành giáo viên của trường. Cũng những tiếng chào thầy rất đổi thân thương trìu mến gợi nhớ tháng ngày xưa cũ ấy, nhưng tôi vẫn chạnh lòng bởi cảm thấy mình trở nên lạc lõng trong lao xao tiếng nói cười của số đông thầy cô mới và những khuôn mặt lạ hoắc của học sinh. Cảm giác ấy thoáng qua thôi rồi nhường chỗ cho niềm vui mừng khi thấy trường ngày càng xanh hơn, lớn hơn, đẹp hơn sau mỗi lần trở lại!
CHỈ CÒN LÀ KỶ NIỆM!
Mỗi chúng ta khi lớn lên, đi vào thực tế cuộc sống, những mơ ước và hy vọng rất đẹp đầu đời có thể thay đổi, thậm chí trở thành cay đắng ! Với tôi cũng vậy, nhưng, những kỷ niệm về một mái trường nơi mình mới chập chững vào nghề và đặc biệt là những tháng ngày đã đem sức trẻ của tuổi thanh xuân, cháy hết mình với lý tưởng mình cho là cao đẹp, vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm trái tim suốt cả cuộc đời.
P/S: Những nhân vật trong bài viết đều là người thật, việc thật nhưng do thời gian qua đã lâu và bài viết quá vội, không kịp tìm lại tư liệu nên có thể họ, tên người bị nhầm hoặc bị sót. Mong được thông cảm và tha lỗi.
Bài viết cũ, đăng lại để thân tặng quý đồng nghiệp và các em học sinh cũ của tôi nhân 20/11.
Lê Thí (SĐ-HTK)
THẦY NÀO TRÒ NẤY!
Nguyễn Duy Hiệu có tên chữ là Hữu Thành, quê ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, nay là phường Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh năm Đinh Mùi, Thiệu Trị thứ 7 (1847), là năm mà hai tàu chiến của Pháp Gloire và Victorieuse, do Trung tá Rigault De Genoully chỉ huy bắn phá vào cửa Hàn, báo động một thời kì đen tối của lịch sử quê ông.
Năm 1876, ông thi đỗ Cử nhân, ba năm sau, trong khoa thi Hội năm Kỉ Mão (1879) đỗ Phó bảng. Năm 1882, được vua Tự Đức bổ làm Giảng tập ở Dưỡng Thiện Đường để dạy cho hoàng tử Ưng Đăng, người sau này lên ngôi là vua Kiến Phúc. Được cử đảm nhận việc dạy cho hoàng tử là một vinh dự lớn, thể hiện sự đánh giá cao của nhà vua không những về học vấn mà còn về nhân cách.
Năm 1885, ông từ quan. Triều đình ban cho ông tước Hồng Lô tự khanh, vì vậy người đương thời thường gọi ông là Hường Hiệu hoặc Hường Thanh Hà.
Lúc nhỏ Nguyễn Duy Hiệu theo học với cụ Cử nhân Lê Tấn Toán (1) những bài học vỡ lòng không những về kiến thức mà cả về tiết tháo, đạo đức của một kẻ sĩ, về lòng yêu nước thương dân. Còn cụ cử Toán đã gửi cả hoài bão lớn lao không thành của mình vào cậu học trò nhỏ, thông minh tuấn tú, giàu lòng yêu nước và hết sức nghĩa khí là Nguyễn Duy Hiệu. Tình thầy trò vì thế đã trở thành tri kỉ.
Sau khi vua Tự Đức mất (1883) triều đình trở nên rối ren với cảnh:
Nhứt giang lưỡng quốc nan phân Thuyết,
Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường.
(Một dòng sông mà hai nước khó mà nói chuyện//Bốn tháng ba vua là điều không rõ ràng)
Lấy cớ phải phụng dưỡng mẹ già trên 80 tuổi, Nguyễn Duy Hiệu xin về trí sĩ, dù lúc đó chỉ mới 36 tuổi.
Năm 1886, khi phong trào Cần Vương của Quảng Nam (thường gọi là Nghĩa Hội Quảng Nam) gặp khó khăn, Trần Văn Dư (1832-1885), thủ lĩnh của phong trào bị sát hại, Nguyễn Duy Hiệu được tôn làm Hội chủ, tiếp tục lãnh đạo công cuộc kháng Pháp. Phong trào từ đó trở nên rất mạnh, ông xây dựng cả một triều đình, lãnh thổ kéo dài từ Quảng Nam cho đến Bình Định. Triều đình Huế và thực dân Pháp tìm mọi cách để lôi kéo ông về hàng và tiêu diệt phong trào.
Tuần vũ Quảng Nam lúc bấy giờ là Châu Đình Kế bèn tổ chức một bữa tiệc rượu và cho mời cụ cử Toán đến với mưu đồ ép buộc thầy viết thư gọi học trò ra hàng (vào thời đó, học trò không nghe lời thầy, để thầy bị vạ lây sẽ bị mang tiếng là bất nghĩa). Giữa tiệc rượu sau khi hết lời ca ngợi tài đức của cụ cử, Châu Đình kế nói khích: “Thiên hạ khen thầy là người đức độ. Triều đình mong thầy, đào luyện học trò thành tài để giúp nước. Ngờ đâu thầy lại có một đứa học trò như Hường Hiệu, thật là thằng giặc”. Đang cầm chén rượu trên tay, không dằn được nộ khí, cụ Cử Toán liền đứng dậy ném chén rượu xuống nền nhà và mắng vào mặt Châu Đình Kế: “Thời thế này biết ai là giặc, ai là vua. Quan Tuần nên cẩn thận lời nói”. Mắng xong cụ đùng đùng bỏ về. Châu Đình Kế bị một phen mất mặt.
Hành động nghĩa khí của người thầy khả kính đã làm cho học trò càng thêm quyết chí dốc lòng vì Nghĩa hội.
Cuối năm 1887, triều đình Đồng Khánh và thực dân Pháp quyết chí tiêu diệt phong trào nên dồn lực lượng để tiêu diệt phong trào. Quân triều và quân Pháp tấn công vào tận sào huyệt của nghĩa quân ở căn cứ Trung Lộc (Quế Sơn). Cả gia đình Nguyễn Duy Hiệu đều bị giặc bắt, Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến (2) phải chạy xuống vùng biển An Hòa (phía Đông Nam Tam Kỳ). Sau khi tổ chức cho Phan Bá Phiến tự tử để giữ toàn bộ bí mật cho tổ chức. Nguyễn Duy Hiệu đã đem thân cho giặc bắt nhằm nhận hết trách nhiệm về mình tránh cho các đồng nhân khỏi bị tội.
Ngày rằm tháng Tám năm Đinh Hợi (1-10-1887), Nguyễn Duy Hiệu ra pháp trương đền nợ nước. Trước khi chết, ông có để lại hai bài thơ nổi tiếng, trong bài thứ hai có câu: “Hàn sơn kỷ đắc cô tùng cán/ Đại hạ yên năng nhất mộc chi/ Hảo bả đan tâm triều liệt thánh/ Trung thu minh nguyệt bạn ngô qui”. Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch: “Núi lạnh tùng côi xơ xác đứng/ Nhà to cột một khó ngăn ngừa/ Về chầu liệt thánh lòng son đấy/ Tháng tám trăng rằm sẵn nhịp đưa”. Pháp và Nam triều cho ngựa trạm đặc biệt hỏa tốc đưa thủ cấp của ông về Điện Bàn, quê ông, bêu lên nhằm răn đe dân chúng. Mảnh đất dùng để bêu đầu ông ngày ấy nay là khuôn viên trường THPT Nguyễn Duy Hiệu.
Trước đó, ngày 6-9-1887 (20-7 Đinh Hợi), thầy giáo Cử nhân Lê Tấn Toán bị bắt đưa về Tỉnh đường Quảng Nam và bị buộc tội làm quân sư cho “ngụy hội”, phải thọ hình “tam ban triều điển”, ông khảng khái nhận chén thuốc độc để giữ tròn nghĩa khí. Nghe tin thầy mất các học trò của thầy Lê Tấn Toán đã tụ tập trước tỉnh đường Quảng Nam, mua một tấm lụa phong kín thi thể của thầy, lấy khăn điều bịt đầu kết lại thành võng đưa thầy về quê ở làng Hà Lộc mai táng trọng thể.
Thầy giáo Lê Tấn Toán và học trò Nguyễn Duy Hiệu được người đời khen ngợi: “Thầy ra thầy, trò ra trò”, “Thầy nào trò nấy”.
(1)) Người làng Hà Lộc, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, nay là phường Điện Bàn Đông, thành phố Đà Nẵng. Ông đỗ Cử nhân năm 1861.
(2) Người làng Kỳ Lộc, huyện Hà Đông nay là xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đỗ Cử nhân năm 1882, là cánh tay mặt của Nguyễn Duy Hiệu, phụ trách toàn bộ giấy tờ sổ sách của Nghĩa Hội.
(3, 4) Nguyễn Sinh Duy, Phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, năm 1998.
Cứ mỗi giờ nghỉ, bọn SV khoa Địa Lý năm 4(1974-75) lại ào ra giành nhau hành lang lầu của ĐH Văn Khoa. Từng 3, 4 bạn đàng này và đằng kia hành lang dài chừng 50 mét, sắp hàng rồi rảo bước đều đặn, mắt chăm chú nhìn những viên gạch bông 20×20 sáng bóng dưới chân mình trong im lặng… Họ tập bước cho thật đều chân để tính ra được “bước chân bình quân” của mình- một ứng dụng đo đạc địa hình không dùng thước hoặc máy trắc địa!
Tôi tập nhiều nơi và quen dần với bước chân dài 54cm (nhớ không quên)
Rồi mua la bàn của Mỹ ở nhà sách Văn Minh, cùng các bạn thực hành đo góc ngôi trường VK. Đo góc bao nhiêu độ Nam, rồi Bắc Đông Tây… ghi vào. Mỗi lần chuyển góc lại đều đặn đếm các bước chân từ đầu trường (đường Duy Tân cũ) đi dọc đường Lê Lợi đến điểm cuối ở đường Hoàng Hoa Thám, ghi chép nhân lên rồi trừ cọng dung sai.. Lại đo tiếp các trục kia, đối chiếu độ góc và chiều dài. Xong là vẽ ra theo tỷ lệ trên giấy A4,A3… Ngôi trường có hình chữ nhật, ấy mà tôi vẽ ra gần như hình bình hành và 4 góc nối lại thiếu mất một đoạn (thành 5 điểm toạ độ); đo vẽ lại lần 2 mới tạm đúng! (cứ nghe các anh sĩ quan pháo binh kể việc đo phương giác, toạ độ, tưởng đâu dễ ăn!)
Nhóm của bạn Minh Tâm thực hành đo chợ Đông Ba còn bị Cảnh Sát mời vô bót làm việc. Hi hi. Chắc họ tưởng đề lô GP đi ghi chép toạ độ?
Tôi không mấy ưa vị Giáo Sư này, chẳng qua tôi không có hoa tay nên đến các bài vẽ biểu đồ, bình đồ thường không đạt, ăn mãi các điểm C, thậm chí bị một lần điểm D phải thi lại! Vậy mà về sau chữ viết của tôi lại đẹp hơn (lúc ĐH thì viết nhanh, tốc ký nên chữ càng thêm xấu), vẽ hình tốt hơn nhứt là ứng dụng cho việc vẽ các bản vẽ xây dựng.
Thầy dạy môn Vẽ và Thực hành Địa lý (?) do Giáo Sư Nguyễn Đức Tiến giảng dạy. Thầy học ở nước ngoài về bổ sung việc giảng dạy trực quan, thực hành sống động trong Đại Học. Tiếc thay Thầy bỏ dạy sau 1976 vì không hạp gì đó?
Thật nhớ ơn Thầy! Cùng quý Thầy trong Ban Địa Lý ĐHSP & VK HUẾ.
Cũng nhờ vào các kiến thức Địa Lý mà tôi đã áp dụng hiệu quả với nghề thợ mộc thợ hồ và thường khoa trương lúc ghi lý lịch trích ngang: Nghề xây dựng công trình, rồi về già học thêm một nghề mới trong ngành Địa Lý…
Hoa thơm ngày Nhà Giáo
Chân thành nén tâm hương!
Quách Đào Vệ
Một Nhạc Sỹ tài hoa lại sang Anh học ngành Địa Lý- môn học khó!
Thầy Tiến không chỉ là nhạc sĩ Chung Quân tài hoa, mà còn là một bậc thầy chấm lá số tử vi, thầy vào sống cùng người em ruột ở vùng kinh tế mới Dầu Tiếng từ sau 75.
***
Nhạc sĩ Chung Quân:
Tên thật: Nguyễn Đức Tiến (1936-1988)
Nhạc sĩ Chung Quân (1936 – 1988) là tác giả ca khúc Làng tôi nổi tiếng.
Chung Quân tên thật là Nguyễn Đức Tiến, sinh năm 1936. Năm 1952, khi mới 16 tuổi, bản Làng tôi của ông đã giành được giải của công ty điện ảnh, tuồng cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp hoa, một trong số ít những phim Việt Nam thực hiện trong thời kỳ này.
Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội. Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc… Cũng khoảng thời gian 1955 – 1956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.
(Sai: Theo một vài bài viết của các học trò nhạc sĩ Chung Quân thì trước 1975, ông từng học tại New York, sau đó tốt nghiệp tiến sĩ văn chương tại Anh). Nhac si Chung Quan tot nghiep tien si nganh Su Dia tai My (New York). Ong ve nuoc nam 1973 va day tai Dai hoc Van Khoa Hue cho den 30/4/1975.Toi la SV cua ong. Sau năm 1975 ông ở lại Việt Nam và qua đời vào năm 1988.
Nhạc phẩm Làng tôi của Chung Quân trùng tên với hai ca khúc khác cũng rất nổi tiếng của Văn Cao và Hồ Bắc. Ngoài ra ông còn một vài sáng tác khác như Cô gái quê…
Nhạc sĩ Chung Quân nổi tiếng vì là tác giả bản nhạc ‘Làng Tôi’ đã trúng giải của công ty điện ảnh kiêm tuồng cải lương Kim Chung ở Hà Nội năm 1952 để làm bản nhạc nền cho cuốn phim có tiếng nói đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam; Đó là phim ‘Kiếp Hoa’.Khi thông báo tuyển nhạc được quảng bá, các nhạc sĩ ‘bậc thầy’ nổi tiếng thời đó đua nhau gửi những ‘đứa con tinh thần’ về công ty điện ảnh mong được trúng giải. ‘Cậu’ Nguyễn Đức Tiến – lúc đó mới 16 tuổi – cũng dự thi với bản Làng Tôi. Bản nhạc có lời như sau:
‘Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh Có sông sâu lờ lững vờn quanh Em xuôi về Nam
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau Bóng tre ru bên mấy hàng cau Đồng quê mơ màng
Nhưng than ôi Có một chiều thu, lá thu rơi Có một chiều thu, lá thu rơi Oâm súng nhìn quê, tôi thầm mơ bóng ngày về
Mơ trong bóng ngày về Quê tôi chìm chân trời mờ sương Quê tôi là bao nguồn yêu thương Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn Là bao vấn vương tâm hồn, người bốn phương’
Làng tôi – NS Chung Quân – CS Như Quỳnh:
Chung Quân Nguyễn Đức Tiến đã đánh bại các bậc đàn anh – lúc đó xuất sắc với nhiều sáng tác cho tân nhạc, và không phải là ít – với chỉ một bản nhạc có lẽ là đầu tay! Bản nhạc được chấm nhất vì có tiết điệu êm đềm, bình dị, đặc biệt là rất dễ hát, dễ thuộc, và khi hát lên là người nghe cảm thấy có một cái gì đó thiết tha, trìu mến (Tương tự như bản ‘Lòng Mẹ’ của cố nhạc sĩ Y Vân). Làng Tôi lập tức được công bố, thu thanh và làm nhạc nền cho phim Kiếp Hoa!
Vì là phim có tiếng nói đầu tiên kể từ năm 1937 khi ngành phim ảnh Việt Nam được khai sinh, Kiếp Hoa nổi tiếng khiến bản nhạc Làng Tôi và tác giả của nó cũng nổi tiếng theo, cả nước đều biết.
Hai năm sau, 1954, thanh niên Nguyễn Đức Tiến 18 tuổi, di cư vào Nam, gia đình định cư ở vùng Khánh Hội. Các trường Chu Văn An từ Hà Nội, Nguyễn Trãi ở Hải Phòng cũng lục tục di cư vào Nam.
Do danh tiếng của mình từ khi đoạt giải ở Hà Nội, cộng thêm các giấy tờ đã học sư phạm chuyên ngành về Nhạc, nhạc sĩ trẻ tuổi Chung Quân được Bộ Quốc Gia Giáo Dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi, ăn lương theo ngạch giáo sư trung học đệ nhất cấp, tương đối là cao. Trên thực tế, về bằng cấp giáo dục, thầy Tiến lúc đó chỉ mới có bằng trung học, học trường sư phạm theo ngạch hương sư. Tôi còn nhớ khoảng năm 1955-56, vào một hôm trời mưa như trút nước, tôi được đi xem một đại nhạc hội của các học sinh trường trung học Nguyễn Trãi tổ chức tại rạp Thanh Bình. Tiết mục đáng nhớ nhất là hợp xướng ‘Sông Bến Hải’ do nhạc sĩ Chung Quân, đồng thời là giáo sư âm nhạc, sáng tác và tập cho các học sinh của trường. Đây là một trường ca có giá trị nghệ thuật cao, nói về một dòng sông chia đôi đất nước, và tâm trạng phải bỏ ‘quê cha, đất tổ’ của người di cư năm 1954. Hợp xướng này nghe thật hay, và chắc chắn không dễ tập, nhất là với mấy cậu học trò có kiến thức âm nhạc rất ‘căn bản’! Mãi đến sau này, khi được học nhạc với thầy Nguyễn Đức Tiến ở Chu Văn An, tôi mới được biết một, hai ‘bí quyết’ đọc nhạc do thầy dậy cho các học trò.
Thật là điều đáng tiếc khi không hiểu vì sao, trường ca Sông Bến Hải sau này không thấy được phổ biến, và giới yêu nhạc chỉ biết nhạc sĩ Chung Quân qua bản Làng Tôi!
Thầy Tiến dáng dong dỏng cao, hay đeo kính mát gọng vàng, và có thể nói là đẹp trai. Các giáo sư thời ấy đi dạy ăn mặc rất sang trọng. Trời nắng chang chang đổ mồ hôi nhưng cụ hiệu trưởng Trần Văn Việt vẫn luôn luôn mặc com-lê trắng, đeo cravát. Các giáo sư và các vị giám thị – tuy không bằng cụ hiệu trưởng – cũng đeo cravát, mặc áo sơ mi dài tay cài nút măng-sét. Trông các thầy thật ‘oai’! Trong các giáo-sư, người ăn mặc đẹp nhất, sang nhất, và đúng mốt nhất vẫn là thầy Tiến. Đặc biệt, khi đi dạy ở Chu Văn An, người ta đã thấy thầy lượn xe Vespa rất sớm so với các giáo sư khác. Vì là giáo sư âm nhạc, thầy Tiến đã phải ‘biểu diễn dẫn giải’ (demo) bằng ca hát cho đám học trò non dại chúng tôi, nên nhờ vậy, chúng tôi đã nhiều lần được nghe thầy hát ‘nhạc sống’ thật … sống động! Mỗi khi thầy cất tiếng hát – chắc chắn to hơn khi thầy nói! – cả lớp chúng tôi đều lắng tai nghe và mong thầy hát thật lâu để chúng tôi được thưởng thức. Tôi còn nhớ rõ những lúc thầy trịnh trọng gõ thanh nĩa chuẩn âm (gọi là ‘Aâm thoa’) bằng kim loại trắng, trước khi say sưa đơn ca bài Hòn Vọng Phu:
‘Nơi phía nam giữa núi mờ Ai bế con mãi đứng chờ Như nước non xưa đến giờ Đường chiều mịt mù, Cát bay tỏa bước ngựa phi đường trường Nếp tàn y hùng cường Vẫn còn bay trong gió Bóng chàng xa, sắp dần qua’ (Lê Thương)
trước mặt đám học trò ngẩn người, yên lặng lắng nghe – không phải một, mà nguyên cả ba – bài hát đầy những hình ảnh lịch sử này. Không có nhạc đệm mà qua tiếng thầy hát, tôi có thể như hình dung ra các hình ảnh ngựa phi, qua sông vượt núi, và tiếng đao khiên loảng xoảng nơi chiến trường …
Cho đến giờ này tôi vẫn còn có thể lẩm bẩm được những nốt nhạc của một bài dân ca phổ thông của Ý Đại Lợi, cũng do thầy Chung Quân dạy:
‘Sòn sòn, đố đố si si Phà phà, lá lá son son Mì lá son son, phà phà Pha mi rề lá son’
Mê nghe, và hát tân nhạc, nhưng tôi rất dốt, và lười về nhạc lý. Nếu không nhờ thầy Tiến chỉ dậy, không biết bao giờ tôi mới biết được sự khác nhau, cũng như cách đánh nhịp 2/4 (“Một xuống, một lên!”), ¾ (“Một, hai, ba!” theo ba cạnh của tam giác có một góc vuông), và 4/4 (tức C: “Một, hai, ba, bốn!” theo hình số 8 có 4 góc nhọn). Vì nhạc lý là môn học khô khan, nhất là phần nhớ các bộ khóa đầu bản nhạc, và làm sao tìm ra giai âm chính của bản nhạc đó, thầy Tiến đã sáng chế ra một bài lục bát thật độc đáo và hữu dụng, vừa đủ và cho đúng 7 nốt nhạc! Đó là:
Có nghĩa là nếu thấy ở đầu bản nhạc có một dấu thăng, thì bài ấy có âm giai Sol là chính; Nếu có hai dấu thăng thì là âm giai Rê, v.v. Học trò của thầy hơn người một phần là nhờ những ‘bí quyết’ này.
Chung Quân Nguyễn Đức Tiến có lối tập hợp xướng rất công phu, một phần có lẽ vì thầy ngày trước có học nhạc ở Chủng viện nên đã được huấn luyện chuyên nghiệp về hòa âm, và hợp xướng. Tôi nhớ trong năm học Đệ Ngũ, chúng tôi được thầy tập cho hợp xướng bài ‘Hè Về’ của nhạc sĩ Hùng Lân để trình diễn trong buổi văn nghệ cuối niên học. Thầy tuyển được đâu 40 học sinh có giọng tốt từ trầm đến bổng để hát 4 bè. Thầy cũng tìm được ba giáo sư có giọng, hay giỏi đàn nhạc trong trường, để mỗi thầy làm trưởng một bè.
Bốn nhóm bè, lúc tập thì tập riêng, chỉ hát phần bè của mình mà không biết ba nhóm kia hát gì. Sau khi cả bốn nhóm đã nhuần nhuyễn, ‘Oâng bầu’ Chung Quân cho ráp lại bốn nhóm hát cùng một chỗ, và chung một lúc: Tất cả 40 học sinh trong đoàn hợp ca không thể nào nghĩ rằng tiếng hát bè ‘thỉnh-thoảng-xen-vào’ của mình lại có thể vừa hay, vừa ‘quan trọng’ được góp tiếng vào một ban hợp xướng bốn bè, nghe có vẻ nghệ thuật không khác gì các ban hợp xướng chuyên nghiệp của Sài Gòn Hoa Lệ.
Có mấy ai đi học miễn phí mà lại may mắn được đi nghe và được dạy các kỹ thuật của âm nhạc thuộc loại thính phòng, có tiêu chuẩn quốc tế như tụi tôi?
Thầy Tiến viết chữ trên bảng rất đẹp. Nhiều khi hết giờ của thầy, học trò chúng tôi không nỡ xóa đi lời các bản nhạc thầy đã viết trên bảng. Chưa kể thầy còn có tài ‘vung’ phấn trên bảng đen, chỉ với một nét, thầy đã tạo được cả năm dòng kẻ nhạc, và khóa Son cùng một lúc từ đầu bên kia bảng, sang bên này bảng, thẳng tắp, và đều đặn tưởng như có dùng thước hay máy vẽ! Có lần chúng tôi hỏi, thầy trả lời nho nhỏ như không có gì đáng để ý, “Làm nhiều thì quen tay; Vậy thôi!”
Tính thầy hòa nhã nhưng rất nghiêm. Chỉ nói nhỏ nhẹ khi thật cần thiết, mực thước và nghiêm. Học với thầy hai, ba năm mà chưa bao giờ tôi thấy thầy la mắng một đứa học trò nào, và ít khi thấy thầy cười thành tiếng. Tuy say sưa dạy nhạc nhưng hình như thầy không biết tên chúng tôi: Tôi chưa bao giờ thấy thầy có nhớ, và gọi tên bất cứ một học sinh nào – trừ khi có sổ điểm trước mặt! Có thể vì thày dạy quá nhiều lớp, hay trí nhớ của thầy đã đầy những dữ kiện khác cần, và đáng nhớ hơn. Giữa thầy và trò, chúng tôi vẫn cảm thấy có một bức tường ngăn cách nào đó!
Thế mà chúng tôi vẫn mến phục thầy dù rằng ở ban B (tức là Ban Toán), nhạc chỉ là môn học phụ, có hệ số điểm thấp nhất là 1, mỗi tuần chỉ học có một giờ (giống như Vẽ, Sử, Địa, Thể Dục, Hán, v.v.). Bù lại, khác với các giáo sư các môn khác, lớp của tôi được học thầy Tiến suốt 4 năm liền của Trung Học Đệ Nhất Cấp.
Một lần đọc báo của Sứ Quán Việt Nam ở Wellington, Tân Tây Lan, tôi thấy tin thầy Nguyễn Đức Tiến đã tốt nghiệp Tiến sĩ Văn chương ở Anh quốc, trong một chương trình học bổng, và đã được nhà trường giữ lại, mời làm giáo sư diễn giảng. Tôi ngồi suy nghĩ: Như vậy thầy Tiến đã phải đi học lại từ lớp Đệ Tam ở Sài Gòn; Và trước khi có thể trình luận án tiến sĩ, chắc chắn thầy cũng phải có ít nhất tương đương cao học văn chương Anh. Văn chương Anh đâu phải là môn dễ học cho một người Việt Nam, để lấy được văn bằng cao nhất như thế? Tưởng thầy chỉ có biệt tài về Nhạc, bây giờ mới biết thầy còn có nhiều khả năng khác ít người biết …
Ngoài ra, tôi cũng được nghe phong phanh, những mảnh tin tức có khi hơi mâu thuẫn nhau – và chưa phối kiểm được (có thể vì thầy chọn lối sống rất riêng tư) – về thầy Nguyễn Đức Tiến, như:
– ‘Trước năm 1975, tôi nghe nói thầy Tiến đang học Sử học ở New York!’
– ‘Tôi nghe ai nói ông Chung Quân được học bổng du học về ngành Khảo cổ ở Texas!’
– ‘Giáo sư/Tiến sĩ Nguyễn Đức Tiến từ Anh về lại Việt nam, ở cùng với mẹ già sau năm 1975; Nhà vẫn ở khu Khánh-Hội!’
– Theo một anh bạn – trước cũng là học sinh của thầy ở trường Nguyễn Trãi – thì thầy Tiến đã qua đời.
Gửi bản thảo bài viết này cho một số thân hữu, tôi đột nhiên nhận được thư trả lời qua Liên Mạng (Internet) của một anh bạn đàn anh, thân hồi còn du học ở Tân Tây Lan, từ bên Uùc gửi qua:
“Tôi có dạy học cùng với anh Tiến ở Đại Học Huế. Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ ở ngoại quốc về, anh Tiến đã trở thành giáo sư Ban Văn Khoa ở đại học này từ năm 1971 đến 1976. Anh Tiến là một người thông thái, nhân hậu, trọng nguyên tắc, và có tư cách. Tôi đã nhiều lần cảm phục chứng kiến anh ấy can đảm công khai phê phán những sai trái, và lố bịch của các cán bộ cộng sản trong trường, nên đã bị cho bãi nhiệm khỏi ban giáo sư của Ban Văn khoa – Đại Học Huế.
Anh Tiến đã mất năm 1988 tại Sài Gòn sau khi bị đứt gân máu trên đầu – trong lúc đang đánh cờ tướng với người em rể – khiến anh bị mê man, và bất tỉnh (coma). Tôi có lại thăm anh trên giường bệnh trong bệnh viện, nhưng chỉ có nhà tôi đến đám táng của anh (vì lúc đó tôi đang vượt biên).”
Ngỡ ngàng, tôi chẳng biết làm gì, đâm ra thành ‘Giận cá, chém thớt’: Qua đời lúc (16 + (1988 – 1952) =) 52 tuổi thì không biết trong cáo phó, tang gia đã thông báo như thế nào: ‘Hưởng Dương’ hay ‘Hưởng Thọ’? Tôi viết bài này để ghi lại những kỷ niệm đẹp chúng tôi – đám học sinh ở trường trung học Chu Văn An những năm 1960 – 1962 ở Sài Gòn – đã được may mắn có chung với thầy:
Chung Quân Nguyễn Đức Tiến, một nhạc sĩ tài hoa, đa năng đồng thời một vị giáo sư yêu nghề, và tận tụy với học trò. Dù thế nào, làm sao quên đuợc thầy Chung Quân Nguyễn Đức Tiến, nhất là khi tình cờ nghe tiếng ai hát bài Làng Tôi trên xứ người. Bài hát ấy tính ra đã (2005 – 1952 =) 53 tuổi, hơn cả người đã sáng tạo ra nó
Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Có hai chi tiết khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra ở Việt Nam, không phải ở Mỹ, chuyện hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm. Đó là việc giáo viên đối xử công bằng, đồng đều với tất cả học sinh là điều rất khó, đến nỗi nếu giáo viên hứa với học sinh của mình như thế, thì chính thầy hay cô đó biết ngay là mình đang nói dối! Thứ hai là việc học sinh tặng quà đồng loạt cho giáo viên nhân một cơ hội nào đó, tưởng là đơn giản nhưng có khi lại khá tế nhị, gây bối rối cho học sinh nếu em nào đó không có điều kiện, chỉ có thể mang đến một món quà tầm thường, khiến cả lớp phải cười nhạo. Xử lý tình huống này tuỳ bản lĩnh và cái tâm của người thầy.
Kể từ khi được đăng tải trên tạp chí Home Life năm 1976, truyện trở nên nổi tiếng, được phổ biến rộng rãi, dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều người tin đây là một câu chuyện có thật, và hơn thế nữa, còn quả quyết nhân vật chính hiện nay là bác sĩ đang làm việc tại Trung tâm Ung thư của một bệnh viện thuộc tiểu bang Iowa.
Tác giả Elisabeth Silance Ballard (một nhà hoạt động xã hội, tác giả nhiều truyện ngắn) phải lên tiếng xác nhận truyện hoàn toàn hư cấu, không có cô giáo Thompson nào, cũng không có học sinh cá biệt Teddy nào cả, tuy bà có dựa vào vài chi tiết đời tư để sáng tác.
Người đọc khỏi cần bận tâm về chuyện hư thực đó vẫn thấy được vấn đề cốt lõi của công việc người thầy là lương tâm chức nghiệp và quan hệ thầy trò được tác giả nêu lên và giải quyết khá tinh tế. Không giải thích, không bình luận, rất ít lời, chỉ những sự kiện sắp xếp cạnh nhau, ngắt câu, ngắt đoạn bất ngờ, độc đáo, văn phong giản dị. Chừng đó đủ để tạo ra một câu chuyện thú vị, gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc, nhất là những ai đang hoặc đã từng dạy học.
Cách đây nhiều năm rồi, có một câu chuyện về một cô giáo dạy tiểu học. Tên cô là Cô Thompson. Hôm đó là ngày đầu tiên của năm học. Khi cô đứng trước lớp 5 do cô phụ trách, cô đã nói với bọn trẻ điều dối trá. Cũng như hầu hết giáo viên khác, cô đưa mắt nhìn học trò và nói là cô sẽ yêu thương và đối xử công bằng với tất cả. Nhưng điều đó có lẽ sẽ khó thực hiện, bởi ngay ở hàng ghế đầu, cô thấy ngồi lù lù thằng bé Teddy Stoddard.
Cô Thompson đã biết đến thằng Teddy từ năm ngoái và đã nhận xét rằng nó chẳng chơi được với bọn trẻ khác, áo quần thì lôi thôi lếch thếch và có vẻ như lúc nào cũng cần phải tắm gội. Tóm lại, nó thật khó ưa.
Chuyện dẫn tới mức cô giáo cứ gặp bài của thằng nhỏ là sẵn sàng đánh dấu X thật đậm – với cây bút đỏ to – và ghi chữ F thật lớn trên đầu tờ giấy. (1)
Trong trường cô Thompson dạy, như các giáo viên khác, cô phải xem lại kết quả học tập những năm trước của học sinh và cô đã để hồ sơ của Teddy đến cuối cùng mới xem.
Tuy nhiên, khi cô xem đến hồ sơ của thằng nhỏ, cô đã rất mực ngạc nhiên.
Giáo viên lớp một phê, “Teddy là một học sinh sáng dạ và vui nhộn, làm việc gì cũng ngăn nắp, cư xử tốt… Em luôn mang đến niềm vui cho những người xung quanh…”
Giáo viên lớp hai nhận xét, “Teddy là một học sinh xuất sắc, bạn bè đều yêu mến, nhưng em đang gặp khó khăn vì mẹ em đang mắc bệnh hiểm nghèo, cuộc sống gia đình hẳn là vất vả lắm.”
Giáo viên lớp ba ghi, “Cái chết của mẹ đã gây chấn động mạnh lên Teddy. Em đã cố gắng hết sức nhưng người cha thiếu quan tâm, cuộc sống ở nhà sẽ ảnh hưởng đến em nếu tình hình không cải thiện.”
Giáo viên lớp bốn phàn nàn, “Teddy buông xuôi, và không thể hiện niềm hứng thú trong việc học hành. Em không có nhiều bạn bè và thường ngủ gật trong lớp.”
Đến lúc đó, cô Thompson đã hiểu được vấn đề và thấy xấu hổ về mình. Cô càng thấy ray rứt hơn khi học sinh tặng cô quà Giáng sinh, tất cả đều được gói giấy bóng loáng và cột dải ruy băng xinh xắn, chỉ trừ quà của Teddy.
Quà của thằng nhỏ được gói vụng về trong một tờ giấy nâu thô ráp, có lẽ lấy từ bọc giấy đựng đồ tạp nham nào đó. Cô Thompson thấy nhói đau khi mở gói quà của Teddy giữa những món quà khác. Một số đứa đã bật cười khi cô lấy ra một vòng đeo tay bằng đá thiếu mất vài hột và một lọ nước hoa chỉ còn một phần tư.
Nhưng cô đã làm cho những tiếng cười kia im bặt khi cô khen chiếc vòng đẹp, rồi đeo vào tay, và thoa một ít nước hoa lên cổ tay.
Và hôm đó Teddy Stoddard đã nấn ná ở lại trường một lát chỉ để nói, “Cô ơi, hôm nay cô thơm như mẹ em trước đây vậy.”
Bọn trẻ về hết, cô giáo khóc cả tiếng đồng hồ. Và cũng từ ngày đó, cô không chỉ dạy đọc, dạy viết, dạy làm toán, cô bắt đầu dạy dỗ bọn trẻ. Cô đặc biệt quan tâm đến Teddy.
Và do được cô theo sát, đầu óc thằng nhỏ như sinh động hẳn lên. Cô càng khích lệ thì nó càng đáp ứng nhanh. Đến cuối năm học, Teddy trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp, và, tuy cô đã nói dối là sẽ yêu thương bọn trẻ như nhau, Teddy đã trở thành “học trò cưng“ của cô giáo.
Một năm sau, ở bục cửa nhà mình, cô thấy có tờ giấy nhỏ của Teddy, nói rằng cô là người thầy tuyệt với nhất nó từng gặp trong đời.
Sáu năm sau cô lại thấy một mảnh giấy khác của Teddy. Nó viết rằng nó đã học xong trung học, được xếp hạng ba trong lớp, và cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất.
Bốn năm nữa trôi qua, cô lại nhận một lá thư khác của Teddy, cậu nói rằng tuy có lúc gặp khó khăn bất ổn trong đời, cậu vẫn theo đuổi việc học và sắp tốt nghiệp thủ khoa đại học. Cậu đoan chắc rằng cô vẫn là người thầy tuyệt vời, mà cậu yêu quý nhất trong đời.
Rồi lại bốn năm nữa trôi qua, lại một bức thư nữa được gởi đến cô. Lần này cậu giải thích là sau khi đỗ cử nhân, cậu quyết định tiến xa hơn. Bức thư nói rằng cô vẫn cứ là người thầy tuyệt vời, được yêu quý nhất trong đời cậu. Nhưng giờ đây, tên của cậu đã dài hơn, tên cậu ký bây giờ ghi thế này: Theodore F. Stoddard, Bác sĩ Y khoa.
Thế nhưng, câu chuyện chưa dừng lại ở đây. Đến mùa xuân lại có một bức thư khác. Teddy kể là cậu đã gặp một cô gái và họ sắp kết hôn. Cậu nói là cha cậu đã mất mấy năm trước, cậu hỏi rằng liệu cô có thể đến dự đám cưới và ngồi vào vị trí vẫn thường dành cho mẹ chú rể không.
Tất nhiên cô Thompson nhận lời. Bạn thử đoán chuyện gì xảy ra. Cô đã đeo chiếc vòng tay khuyết mấy hạt đó. Và cô cũng đã xức thứ nước hoa cũ mà Teddy nhớ là mẹ cậu vẫn thường dùng trong dịp lễ Giáng sinh cuối cùng họ ở cùng nhau.
Hai cô trò ôm choàng lấy nhau, và Bác sĩ Stoddar thì thầm vào tai cô, “Thưa Cô, con cám ơn cô đã đặt niềm tin vào con. Cám ơn Cô rất nhiều vì cô đã làm cho con có cảm giác mình là quan trọng, chỉ cho con thấy rằng con có thể tạo ra điều khác biệt. ”Cô Thompson, mắt đẫm lệ, khẽ đáp: “Teddy, em nhầm hoàn toàn rồi. Em mới chính là người đã dạy cho cô rằng cô có thể làm nên điều khác biệt. Thực ra cô không biết dạy như thế nào cho đến khi cô gặp được em.”
—————————————————
Dấu X để đánh dấu chỗ sai trong bài làm, F là điểm kém.
Vào 11 giờ 04 phút trưa hôm qua (07/11/2025), kinh độ hoàng đạo Mặt trời là 225°, chiếu thẳng vào 16°19′ Bắc – chính thức mở ra tiết Lập Đông (立冬) – tiết khí đầu tiên trên danh nghĩa của mùa Đông. Từ thời khắc này, Bắc bán cầu bước vào giai đoạn “Đông tàng”, khi ánh dương suy yếu dần, nhiệt độ dần giảm xuống, thiên nhiên dần khép mình, tích tụ năng lượng cho một chu kỳ mới.
Theo cổ thư, Lập Đông là một trong “Tứ lập” (Lập Xuân – Lập Hạ – Lập Thu – Lập Đông), đánh dấu sự khởi đầu của ba tháng mùa Đông sắp đến. “Lập” nghĩa là “bắt đầu, dựng nên”, còn “Đông” mang nghĩa “trì”, tức sự co lại, cất giữ, chuẩn bị cho mùa nghỉ ngơi. Tổ tiên ta gọi đây là mùa của tàng dưỡng, bởi “Xuân sinh – Hạ trưởng – Thu liễm – Đông tàng”, vạn vật thuận theo đạo Trời, khép lại để hồi phục, lắng lại để sinh sôi.
Người xưa xem Lập Đông là tiết nghỉ của sinh khí, là lúc bếp lửa được nhóm lên, nồi hương được châm, trà nóng được rót, tượng trưng cho việc giữ dương khí trong nhà và trong thân thể. Theo Đông Y, đây là thời kỳ âm khí cực thịnh, dương khí suy vi, nên dưỡng dương, giữ ấm, ăn chín uống sôi và ngủ sớm là nguyên tắc vàng. Thực phẩm nên chọn loại ấm, béo, giàu năng lượng như thịt bò, cá hồi, gạo nếp, gừng, quế, mật ong… nhưng nhớ “ăn ít mà tinh”, vì chất lượng quan trọng hơn số lượng. Giữ ấm thân thể – ấm lòng – ấm nhà cửa, chính là giữ hạnh phúc mùa Đông.
Dưới góc độ khí hậu, Lập Đông là tiết nắng đầu tiên của mùa Đông, cũng là thời điểm bắt đầu chuyển mùa rõ rệt nhất trong năm ở Việt Nam, không khí lạnh sẽ bắt đầu hoạt động mạnh và thường xuyên từ cuối tiết. Năm nay, thời điểm Lập Đông trùng với giai đoạn bão số 13 (Kalmaegi) vừa tan, đợt mưa lũ kéo dài 23 ngày ở Trung Trung Bộ kết thúc, như một cánh cửa khép lại để mở ra một tiết trời khô ráo, trong lành hơn. Dù chưa có không khí lạnh mạnh ngay đầu tiết, nhưng dự kiến từ giữa cuối tháng 11, các đợt gió mùa Đông Bắc sẽ tăng cường, báo hiệu mùa lạnh thực sự sắp tới.
Vào thời Lập Đông, người xưa có tục “tạ Thu nghênh Đông”, bày mâm cúng trời đất, cảm tạ mùa màng, đốt trầm, uống rượu nếp, ăn bánh ú hoặc thịt vịt để “nạp khí”. Đây cũng là lúc nhà nông nghỉ tay, nhìn lại thành quả vụ mùa và chuẩn bị cho năm mới sắp đến. Cảnh sắc cũng sẽ dần đổi thay, lá ngả vàng, sương giăng dày, nắng nhạt, báo hiệu sự trầm lặng và an yên của thiên nhiên. Trên cánh đồng hay triền núi, khói lam chiều hòa cùng sương sớm, tiếng trâu bò, tiếng chày giã, tiếng trẻ con ríu rít như dệt nên bản hòa ca cuối năm, giản dị mà ấm áp.
Dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, ranh giới bốn mùa ngày nay đã trở nên mờ hơn. Mùa Đông đến muộn, rét ngắn nhưng gay gắt hơn, mưa trái mùa vẫn có thể xuất hiện. Dù khí hậu có đổi thay, vòng tuần hoàn của thiên nhiên sẽ vẫn kiên định tiếp diễn như nhịp thở của đất trời. Lập Đông không chỉ là sự khởi đầu của mùa lạnh, mà còn là khởi đầu của sự tĩnh lặng và tái sinh.
Mong rằng trong tiết Lập Đông 2025 này, bạn có thể chậm lại đôi chút, ấm lòng hơn một chút, sẵn sàng đón một mùa mới an lành, đầy ánh sáng và hy vọng phía trước nhé!
Theo Radio khí tượng
Ảnh: Những con đường Thành Nội nắng mênh mang đầu Đông | Nguyễn Đính 08/11/2025.
Tôi lướt mắt qua chồng sách mới mượn, nhẩm đọc tên từng cuốn.
“Đọc cuốn mỏng nhất vậy, mình có thể đọc xong cuốn “The Princess Bride” này trong một ngày. Còn dư thời gian để ngẫm nghĩ và chuẩn bị cho những ngày làm việc sắp tới.” Tôi lẩm nhẩm trong đầu. Tôi bị cuốn hút ngay từ lời dẫn truyện. Một kỷ niệm về một cô giáo thời tiểu học với những lời khích lệ chân tình đã theo cậu học trò bao nhiêu năm. Thời gian trôi và cậu học trò lơ đãng thuở bé đã trở thành một cây viết thành công. Cậu đã gởi đến cô giáo một cuốn sách của mình với lời nhận xét của cô giáo ngày xưa.
Tôi gấp sách lại, nhìn ra sân cỏ xanh bên cửa sổ. Tôi quyết định ngưng đọc để viết một bài về thầy giáo của mình. Tôi phải làm cái việc đã dự tính trong đầu từ khi còn học trong lớp của thầy. Tôi đã dự tính rằng khi nào mình thành công thì sẽ về thăm thầy hoặc là sẽ vinh danh thầy qua báo chí, sách vở. Nhưng rồi tôi không giỏi, cũng không tài năng để nổi tiếng, để vinh danh thầy như dự tính. Song tôi đã nhiều lần viết về thầy. Đó là những bài essay cho các lớp ESLvà English.
Chẳng biết các giáo sư có cảm nhận tấm lòng biết ơn của tôi với người thầy yêu kính ngày xưa không, bởi những bài viết của tôi đỏ chói với những lỗi văn phạm và câu cú, cùng với những câu hỏi về lối hành văn chẳng Mỹ tí nào. Bài viết này thì chắc chắn không tiếng tăm như của Goldman nhưng tôi hy vọng cuối cùng sẽ đến tay thầy cùng với tấm lòng biết ơn của tôi. Tôi mở computer và bắt đầu đánh máy. Hình ảnh của những giờ Toán năm học lớp 12 ở trường Trần Cao Vân năm nào từ từ trở về trong trí nhớ.
Một con bé ốm tong teo trong cái áo trắng đã ngả vàng đứng giải bài khảo sát hàm số trên bảng. Thầy giáo đẹp và sang giống như trong những truyện Tuổi Hoa mà con bé từng lén đọc. Chỉ có điều là con bé chỉ là một đứa học trò bình thường, quê mùa, không tiếng tăm về sắc đẹp lẫn học hành và thầy đang chăm chú theo dõi nó trình bày bài toán.
Cả lớp bỗng dưng yên lặng đến lạ. Con bé chỉ nghe có tiếng phấn cọ vào bảng và tiếng trống thình thịch trong ngực. Tất cả bắt đầu từ một nhỏ ngồi chung bàn với nó, bị thầy gọi lên bảng làm toán nhưng bị bí. Con bé ngồi bàn đầu nên thì thào ráng nhắc cho bạn bước tiếp theo. Thầy xem bài giải của Tuấn “khều” vừa xong, quay qua bắt gặp con bé đang nhép miệng nho nhỏ. Thầy nheo mắt hỏi: “Cô kia có biết làm không mà nhắc?” “Dạ biết.” “Đừng cầm vở, lên bảng làm tiếp được không?” “Dạ được.”
Con bé không tin đó là những câu trả lời từ miệng mình. Tự tin và bướng bỉnh, mặc dầu có thưa gởi đàng hoàng. Con bé cũng đọc trong mắt thầy sự ngạc nhiên nhưng không có sự tức giận.
Sự bướng bỉnh gần như thách đố của con bé không phải là không có nguyên nhân. Con bé không thích thầy ngay từ ngày đầu tiên thầy bước vào lớp 12 của nó. Thầy đẹp và sang trọng trong bộ đồ rất mới với cặp da trên tay bước vào lớp. Đôi giày da của thầy vang lên trong lớp giống hệt như những ông thầy được viết trong truyện trước năm bảy lăm. Chữ thầy viết đẹp như in. Giọng thầy không lớn, chỉ vừa đủ nghe và vừa đủ để giữ khoảng cách giữa thầy và trò. Chẳng hiểu sao con bé không thích cái hoàn hảo rất giáo sư của thầy, cái hoàn hảo chỉ có trong truyện mà con bé rất thích. Có lẽ vì thầy quá xa vời với cái thế giới nghèo của nó.
Ngày hôm sau trong khi cả lớp trầm trồ với cái xe cúp màu mận chín của thầy, con bé càng thấy không thể có thiện chí với thầy. Cái thời buổi mà thầy cô đi dạy hưởng theo tiêu chuẩn tem phiếu và rất nhiều học trò như con bé không đủ cơm ăn mỗi ngày thì những gì thầy có, có cái gì đó không đúng. Chiếc xe cúp màu mận chín của thầy chỉ xuất hiện trong sân trường chỉ một vài lần rồi sau đó con bé thường thấy thầy đến trường bằng chiếc xe đạp phượng hoàng. Dẫu không sang bằng chiếc xe cúp nhưng cũng đủ để con bé nghĩ rằng thầy không bao giờ cảm thông với nó. Và nó quyết định sẽ không để thầy có một cơ hội để coi thường thế giới nghèo của nó.
Chẳng biết vì cái quyết tâm “đổi đời” của con bé, hay vì thầy dạy rất hay, mà con bé học hành sáng sủa ra trong môn Toán. Bạn bè cũng phải ngạc nhiên vì sự tiến bộ của nó. Một con bé học hành lúc nào vừa đủ đậu bỗng dưng dám tranh luận những bài toán “giải tích” với những cây toán Đình Chính, Ngọc Thịnh, Quốc Việt, Hữu Sơn… Nhưng mà bây giờ thì con bé đang bí trên bảng. Con bé lúng túng vì không hiểu tại sao hàm số không đổi dấu theo như nó dự tính. Con bé nghe giọng thầy vang lên: “Nhìn lại miền xác định xem nào.” “Ô, đường tiệm cận.” Con bé nghe mình reo lên, rồi nó nghe thầy bảo: “Thôi được rồi. Em về chỗ.” Suốt giờ học đó, con bé như say với thành tích của mình. Dẫu rằng thầy có gợi ý cho nó nhưng con bé đã chứng tỏ được sự hiểu biết của mình qua bài giải.
Nhưng mà môn hình học không gian thì quả là một bức tường sắt đối với con bé. Chẳng phải mình con bé nhưng rất nhiều đứa trong lớp ngán môn này từ lớp mười một. Thầy đã làm cả lớp ngạc nhiên đến há miệng với những hình vẽ không gian ba chiều của thầy. Những viên phấn màu (thật là sang thời bấy giờ) đã làm cho những bài toán trở nên rõ ràng, dễ hiểu. Nhiều đứa ước có thể đem những hình vẽ của thầy về nhà. Con bé ước gì mình có thể vẽ được giống như thầy thì chắc hẳn những bài toán không gian sẽ không còn khó nữa. Cảm thấy bực mình với tài năng hạn hẹp của mình, một lần nữa, con bé nhận thấy cái hoàn hảo của thầy thật giống như trong truyện.
Cuối Tháng Chín, cái nắng của miền Trung vẫn còn gay gắt. Ra khỏi lớp, con bé cùng với nhỏ bạn vội vàng đạp xe về nhà. Con đường Nguyễn Du nhỏ hẹp tràn ngập với những đám học trò đua nhau đạp xe trên đường. Vượt qua vài nhóm học trò, Kiều Hạnh với tay khều nó. “Thầy kìa.”
Đúng là thầy trên chiếc xe đạp phượng hoàng, thong thả đạp như thể đang dạo mát trên đường phố. Con bé vội vàng thắng xe chậm lại đưa mắt nhìn Kiều Hạnh hỏi: “Làm răng chừ?” “Chạy chậm đằng sau ổng. Tới ngã ba Nguyễn Thái Học mình quẹo.”“Nhưng mà tau phải về nhà ngay để chị tau kịp đi bán hàng buổi chiều. Đi chậm như ổng chừng mô mới tới nhà?” Một tốp học sinh vừa lướt qua. Kiều Hạnh nháy mắt. “Lướt theo tụi nó. Ổng không nhận ra tụi mình đâu.” Con bé gật đầu nhấn bàn đạp phóng theo đám học trò. Nó mím môi đạp nhanh khi lướt qua thầy. Nhưng nghe thầy gọi tên, con bé thắng xe theo phản xạ tự nhiên, Kiều Hạnh thì đã mất dạng trong đám học trò đằng trước và nó thấy thầy đang đạp xe bên cạnh nó. “Đi đâu mà phóng xe nhanh dữ vậy?” “Dạ em phải về nhà…” Con bé dừng lại giữa chừng. Nó không muốn tiết lộ gia cảnh của nó. Con bé nghe thầy hỏi tiếp: “Em định thi vào trường nào?” “Dạ em chưa biết.” “Nhưng mà em sẽ thi chớ?” “Dạ có.” “Vậy có định ôn thi chưa?” “Dạ chưa.” “Thầy đang dạy một nhóm ôn thi, nếu em muốn, em có thể hỏi Thanh Nga” “Dạ cám ơn thầy. Thưa thầy em về ngõ này.” Nó thấy thầy gật đầu mỉm cười.
Vừa phóng xe trên đường, con bé vừa nghĩ về những gì mới xảy ra. Vậy là thầy biết tên nó, thầy nhận ra nó giữa đám đông, thầy nói chuyện với nó. Con bé cảm thấy mình dường như được nổi danh, được có tên có tuổi trong trường lớp. Con bé ngạc nhiên vì thầy muốn nó đi học chung nhóm với Thanh Nga, nhóm bạn nhà giàu. Tại sao thầy không nhận ra cái quê mùa lạc hậu trong cách ăn mặc của nó? Tại sao thầy nghĩ nhóm bạn áo quần lượt là, tha thướt kia có thể chấp nhận nó học chung? “Ơ, nhưng mà thầy chỉ hỏi nó chuyện thi đại học. Điều đó có thể nói là thầy chỉ nhận ra nó trong học tập mà thôi.” Con bé vui với suy nghĩ đó và cảm thấy thầy không còn cách xa với thế giới nghèo của nó nữa.
Con bé ghét cái lạnh và mùa mưa của miền Trung bởi lẽ nhà nó không có một cái áo mưa nào cả và nó thì phải mặc khính cái áo len cũ “bảy đời” của chị nó. Con bé biết mình không đẹp và càng cảm thấy mình xấu hơn trong miếng choàng che mưa không lành lặn cho lắm. Chưa hết, con bé thấy mình lụm sụm trong cái áo len rộng xềnh xoàng của chị mỗi khi trời lạnh. Bởi vậy mỗi khi đi học, nó cứ mặc hoài cái áo trắng cho dù ngoài trời đã chuyển sang mùa đông. Thầy nhiều lần hỏi: “Không thấy lạnh hay sao mà không mặc áo ấm?” Con bé ngượng nghịu trả lời: “Dạ em chưa thấy lạnh lắm.” Nhưng rồi một hôm con bé không thắng nổi cái lạnh. Nó gục xuống bàn và run lên cầm cập trong lúc cả lớp đang làm bài kiểm tra hình không gian. Con bé nghe giọng thầy xa xôi trong lúc nó đang ngất đi. “Em lạnh có phải không?” Sau này Thanh Tuyền ngồi kế bên kể lại: “Thầy thấy học trò cưng của thầy lạnh run. Thầy lo quá chừng. Tau mà không cởi áo lạnh của tau choàng cho mi chắc thầy sẽ làm lắm.” Con bé vội vàng ngắt lời bạn. “Nhờ vậy mà tau thoát khỏi bài kiểm tra hình học không vô, ý quên hình học không gian.”
Con bé cảm thấy thầy gần hơn với thế giới nghèo khó và khổ cực của nó khi nó biết thầy phải giúp vợ đi chở hàng buôn bán. Nhưng nó cảm thấy một chút hụt hẫng. Thầy của nó giỏi, dạy thật hay và yêu nghề dạy nhưng không thể sống với đồng lương của nghề dạy. Thầy phải bươn chải kiếm sống trong thế giới mà nó nghĩ là không phải của thầy. Rồi con bé tốt nghiệp lớp 12, rời thị xã nhỏ bé miền Trung với những dòng lưu bút của bạn bè và thầy cô trong đó có những nét chữ thật đẹp của thầy. Tiếp theo tên của nó, thầy viết: “Cô học trò nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn của thầy. Thầy không được vinh dự theo dạy các em suốt ba năm ở bậc trung học này, nhưng chỉ một năm thôi đã đủ để cho thầy thấy gắn bó với cái tập thể 12 – một tập thể trẻ trung, sôi nổi, cởi mở, say mê làm việc và làm việc có kết quả này, và trong đó nổi lên cô học trò nhỏ với khuôn mặt thông minh, cái nhìn thật trong sáng…”
Có lẽ thầy là người đầu tiên tặng cho con bé chữ “thông minh” và nó tin điều thầy nói. Lời nhận xét của thầy theo suốt những năm tháng khó khăn, tăm tối của con bé. Những ngày cúi mặt cấy lúa, làm cỏ, nhổ đậu, trồng khoai nơi miền quê heo hút ở miền Nam, những buổi tối cặm cụi trên bàn máy may những ngày đầu mới đến Mỹ, những lần đứng làm việc suốt ngày trong những assembly lines. Những lúc đó, con bé luôn nhớ lại lời thầy viết cho nó, “khuôn mặt thông minh, cái nhìn trong sáng.” Thầy nhìn thấy nơi con bé điều đó thì nó nhất định phải học được, phải trở thành cô giáo như thầy ngày xưa. Và rồi con bé ngày xưa bây giờ đã là cô giáo dạy Toán.
Tôi chẳng thể nào sánh được với thầy nhưng tôi cũng có những học trò cũ thỉnh thoảng trở lại hỏi thăm. Năm nào tôi cũng nghe vài đứa học trò hỏi:“Cô ơi! Chắc là cô lúc nào cũng được điểm A trong môn Toán phải không?” “Không có đâu. Những năm trung học, cô lúc nào cũng vừa đủ điểm để được lên lớp, ngoại trừ năm cuối cùng ở trung học thì khá hơn một chút.” Và rồi tôi thường kể cho học trò nghe về thầy với lòng kính trọng. Trong lưu bút của tôi, thầy viết: “… đôi mắt sáng ấy, cái nhìn rạng rỡ ấy khiến thầy thêm yêu nghề và càng hết lòng vì các em…”
Ngày ấy tôi không hiểu những dòng chữ của thầy. Nhưng bây giờ mỗi khi đang đứng lớp giảng bài, nhìn thấy ánh mắt những học trò chăm chú nghe giảng, tôi hiểu được những gì thầy viết năm xưa. Tôi ước mong mình có thể khích lệ niềm tự tin trong một đứa học trò như thầy đã làm cho tôi năm ấy. Cảm ơn thầy đã nhận ra em trong đám đông học trò trên đường phố. Cảm ơn thầy đã quan tâm đến một đứa học trò nghèo như em. Và hơn hết, cảm ơn thầy đã giúp em có niềm tin vào khả năng của chính mình. Cô học trò nhỏ nhắn của thầy ngày xưa đã tin vào nhận xét của thầy để rồi hôm nay cô học trò ấy bước vào đời với nghề dạy học giống thầy vậy đó.
2025
Cuối cùng tôi cũng gặp lại thầy sau gần 40 năm. Tôi ghé Sài Gòn chỉ có một vài hôm nên nhờ cô bạn mời thầy đến gặp cùng với một nhóm bạn trong lớp. Dẫu là tôi tự lên chương trình về gặp thầy nhưng tôi vẫn không thể tin điều đó xảy ra khi đến buổi họp mặt. Thầy không khác xưa mấy và trông thầy còn trẻ hơn mấy bạn nam lớp tôi. Tưởng rằng gặp thầy là sẽ nói chuyện huyên thuyên. Vậy mà lúc gặp thầy và bạn bè, không hiểu sao tôi bỗng trở thành con bé học trò nhút nhát như ngày xưa. Không dám nói chuyện nhiều với thầy và quên luôn cả việc chụp riêng với thầy một tấm hình làm kỷ niệm. Tiếc ghê! Nhưng tôi đã khoe riêng với thầy những thành quả tôi đạt được và cảm ơn thầy về những ngày tháng được học với thầy và những lời thầy khen để khuyến khích tôi học tập.
Nhớ thầy viết chữ đẹp, vẽ hình đẹp và những nét phấn màu giúp tôi tưởng như có thể chạm đến những mô hình ba chiều thầy vẽ. Bây giờ tôi đi dạy cũng có đủ phấn màu nhưng không vẽ được hình giống như thầy. Có một bữa sau khi giảng giải cho sinh viên xong, đứng lui ra nhìn hình vẽ, tôi không nhận ra được cái hình mình muốn vẽ. Thế là tôi phải tính chuyện ăn gian. Không vẽ được bằng tay thì vẽ bằng máy! Tôi tìm tòi những software giúp vẽ hình các hàm số đa biến. Nhờ đó, tôi không còn sợ vẽ hình khi giảng bài nữa.
Với hứng thú đó, tôi làm một món quà nhỏ đem về tặng thầy. Trên món quà có in hình cái vỏ sò và chiếc lá xanh được vẽ bằng những phương trình với tọa độ cực. Đó cũng là hai tấm hình tôi gởi nộp để dự triển lãm tại một hội thảo toán học. Lúc nộp tác phẩm dự thi thì tôi viết “… Toán học không chỉ là những con số và biến số x, y, z. Toán học có thể giúp ta tìm thấy những đường cong tuyệt đẹp trong thiên nhiên ẩn mình dưới những hàm số…”
(Hình: Thủy Như)
Nếu đó không phải là một triển lãm về Toán thì tôi sẽ viết như thế này. “Cái vỏ sò là tôi ngày ấy đã bị vùi sâu trong đất cát, là những cơ cực của gia đình tôi ngày xưa. Chiếc lá xanh là niềm hy vọng thầy gieo cho tôi bao nhiêu năm trước. Và chiếc lá đó vẫn còn mãi xanh trong tôi cho đến bây giờ.”
Cảm ơn Chúa đã cho tôi được học với thầy năm lớp 12 để được nghe những lời khích lệ giúp tôi đi tới ngày nay. Biết ơn thầy vô cùng về những niềm hy vọng thầy gieo cho tôi ngày ấy.
Thủy Như
(Cựu học sinh 12/1 (1984-1985) trường THPT Trần Cao Vân – Tam Kỳ, học trò cũ của nhiều thầy cô xuất thân từ ĐHSP Huế, đặc biệt rất ngưỡng mộ người thầy dạy toán. Sau này em cũng đã theo nghề của thầy ở một tỉnh ở miền Nam. Sang định cư ở Hoa Kỳ cùng gia đình, đã học tiếp lấy Master Toán và hiện nay dạy ở college)
“Huế có dòng sông Hương. Dòng sông mang tên con gái hay con gái mang tên dòng sông. Khi gọi “Hương ơi!” thì vẻ mượt mà của dòng sông hay bóng dáng yêu kiều của giai nhân đến trước ? Nếu đến để mà đi là người con gái, nhưng đến để chảy mãi trong lòng là dòng sông” (Dòng sông biệt xứ, Trần Kiêm Đoàn) Hoá thân thành người con gái yêu kiều là dòng sông Hương trong cảm xúc của nhà văn Trần Kiêm Đoàn, thành “dải lụa dịu dàng vắt ngang thành phố” là cái nhìn của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Và cũng dòng sông ấy biến thành “mảnh trăng – Hương Giang nhất phiến nguyệt” dưới ngòi bút của thi hào Nguyễn Du. Người Huế luôn hãnh diện và tự hào về “viên ngọc quý” này của mình, cũng là biểu tượng của thành phố thân yêu. Vậy mà hơn một tuần nay “Con sông dùng dằng, con sông không chảy” đó bỗng hung hãn, cuồng nộ lạ lùng. Cô gái mang tên Hương Giang bỗng biến thành mụ phù thuỷ dữ dằn độc ác, nhấn chìm tất cả. Thành quách, kinh thành, ruộng đồng, nhà cửa, bệnh viện, trường học, chùa chiền, nhà thờ, tu viện và cả nghĩa địa đều ngập chìm trong nước. Màu vàng đục thay cho màu xanh biếc, cảm xúc người Huế dành cho dòng sông phụ thuộc vào những con số biểu thị từ Cơ quan thuỷ văn: “Mực nước sông Hương: 4,47 m > Báo động 3 là 0,97m…” Những buồn vui, lo lắng không chỉ của người đang bị thúc thủ trong cơn lũ mà còn của những người con Huế tha hương đang từng giây phút nhìn về quê nhà để hồi hộp, đau xót và nguyện cầu cho dòng Hương thân yêu của mình bớt cơn cuồng nộ.
– Mưa
“Cũng thế, thoáng nhìn mưa Huế chỉ thấy nét trầm phai và ủ rủ nhưng đã thực sống với Huế qua những mùa Đông sẽ thấy từ trong bụi trắng thinh không của mưa Huế có những nụ hồng và hơi ấm của tình yêu, không phải chỉ tình yêu lứa đôi mà nhiều thứ tình nồng nàn góp lại. Nếu mưa Huế cứ rơi rơi trên vùng trời Huế thì mưa nghìn rơi chỉ là mưa thôi. Nhưng mưa Huế đã rơi vào lòng những người qua Huế thành những khung trời nhỏ nên mưa hoài không tạnh và những cơn mưa trong hồn cứ rây rây nhỏ hột lan ra khắp muôn phương” (Từ ngỏ Huế Xưa – Trần Kiêm Đoàn) Cám ơn nhà văn Trần Kiêm Đoàn đã thổi vào lòng người những cơn mưa lãng mạn làm thấm ướt thêm tâm hồn vốn đa cảm của người Huế. Để khi xa Huế, một trong những nỗi nhớ ray rứt của người tha hương là những cơn “mưa vẫn mưa rơi trên tầng tháp cổ “ (Trịnh Công Sơn) cùng lời nhắn gởi : “Khi mô Anh về thăm Huế xưa Nhớ gói dùm em một chút mưa. Gói thêm mớ lạnh từ chân tóc. Buốt thấu buồng tim vẫn chưa bưa” (Mưa Huế – Hồ Đắc Thiếu Anh) Và giờ đây, trong cơn lụt lịch sử những ngày này, khi các nhà dự báo thời tiết nhận định về hoàn lưu bão số 12 gây mưa là “một quả bom nước khổng lồ sẽ đổ xuống thành phố Huế” thì Hành tinh Titanic dự báo “Không chỉ là quả bom nước mà sẽ là một dòng sông nước từ trên trời sẽ đổ xuống…” Và quả vậy. Huế đã có những trận mưa rất lớn với vũ lượng đạt kỷ lục cao nhất nước đã tiếp tay nâng nước sông lên cao gây khốn khổ cho người Huế. (Dĩ nhiên có cả sự góp sức của nước xả lũ, dù đã được điều tiết). Và danh hiệu “Đặc sản Huế” dành cho Mưa Huế như một số người đề nghị trước đây, qua trận lụt này chắc cũng sẽ được công nhận.
-Và nước mắt.
Nước sông Hương, nước mưa, mấy ngày nay đã cùng hoà nhau thành… nước mắt. Không khóc mà sao vẫn cay mắt quá. “Bao năm, nước mắt như suối nguồn, chảy vào tim con, mái tóc đã đầy tuyết sương” (Lòng Mẹ – Y Vân) Có phải đó cũng là một tính cách của người Huế, luôn che dấu cảm xúc của mình. Yêu ghét, giận hờn, thường để nước mắt chảy ngược vào lòng. Cơn lụt đã nhận chìm sinh mạng, nhà cửa, tài sản, tiền bạc và cả sức khoẻ, của người dân Huế qua 3 trận lụt lớn chỉ trong vòng mấy ngày. Nhiều gia đình mất trắng còn cõng thêm món nợ ngân hàng và không biết sẽ bắt đầu lại từ đâu. Mình cũng đã từng như vậy từ lụt 99. Nước mắt cho sự mất mát quá lớn. Bệnh viện ngập chìm trong nước. Nhìn hình ảnh các y bác sĩ đưa bệnh nhân lên tầng cao tránh lụt, hình ảnh các tu sĩ mang cơm, cháo vào bệnh viện trao cho bệnh nhân… cảm xúc dâng trào. Một số vùng trũng của Huế suốt hơn 10 ngày qua vẫn còn ngập nước và chưa biết khi nào mới khô ráo trở lại. Nhưng người Huế đã không cô đơn chiến đấu với lũ lụt. Cảm động với chính quyền, những đoàn Thiện Nguyện tại địa phương và các nơi, góp công, của giúp người dân nơi đây tạm thời vượt qua khó khăn. Những hộp cơm nghĩa tình từ các bếp ăn tự phát, những gói mì tôm, những chai nước uống và cả những hộp sữa từ các ca nô, ghe máy, chuyển vào cho người dân trong vùng bị chia cắt. Những ánh mắt rưng rưng của người nhận và người cho. Cũng không thể kìm được cảm xúc khi một thành phố xanh, sạch đẹp chỉ một tuần trước đây đã biến thành một bãi rác khổng lồ đầy ô nhiễm. Những bãi rác này đang được các công nhân vệ sinh môi trường cật lực dọn dẹp, mong sớm trả lại môi trường trong lành cho Huế. Trong lúc Huế chưa “lai tỉnh” thì lại đang chuẩn bị đón Bão 13: Bão Kalmaegi, với dự báo có cường độ lớn và mưa lớn khi hoàn lưu bão đi qua, trong đó không ngoại trừ Huế. Không biết là dòng sông vừa tạm thời bước lui có quay lại tiếp tục hành dân Huế nữa không? Nhưng tin rằng Nước mắt rồi sẽ làm trôi đi những rác rến, sẽ làm trong lại, đẹp thêm dòng Hương yêu kiều, và những cơn mưa Huế lại sẽ trở lại những cơn mưa thuần khiết, rắc lên kinh thành những hạt mơ màng, lãng mạn, như nó vốn có. Chắc chắn rứa, bởi quy luật của cuộc sống là biến dịch không cùng! Sáng 5-11-2025 Chuẩn bị “đón” bão Kalmaegi. (Ảnh copy trên mạng và trang Huế online) Thanh Nhã. FB thanh nha Đang
Ở Nghinh Lương Đình (đối diện Phu Văn Lâu)
***
Mời các bạn đọc tiếp bài thơ của một cô giáo dạy Văn trường Đồng Khánh – Hai Bà Trưng, từng đạt giải Văn Việt (Văn đoàn độc lập) của Nhà văn Nguyên Ngọc:
AI ĐEM NỖI HUẾ RA THƯA
Ai đem nỗi Huế ra thưa Lưu ly Thành Nội phủ mờ ô long Nước dâng qua cổng Ngọ Môn Cuộn trôi mái ngói rụng hồn Kinh đô
Tháng mười phố hoá thành sông Cầu cong dáng lụa đò không bến rồi Hai lần nước đã chơi vơi Lần ba nghe ngóng rụng rời tay chân
Thôi thì phó mặc trần gian Cho mưa rửa sạch những tàn những điêu Kim Long tối đặc tiêu điều Đèn chong leo lét người phiêu diêu người
Con đò nằm nép vật vờ Như con cá nhỏ hết hơi giữa đồng Huế buồn và rất bao dung Ôm mưa vào ngực che từng mái hiên
Hôm nay nắng vỡ bên miền Con chim chao cánh Huế nghiêng rũ mình Bờ tre mái ngói hồi sinh Vẫn câu răng rứa vẫn bình minh lên