• ÔI !. SÀI GÒN TRONG TÔI. NHỚ ƠI LÀ NHỚ !!! …

    ÔI!. SÀI GÒN TRONG TÔI. NHỚ ƠI LÀ NHỚ !!! …
     LÊ MINH ĐỨC (YK 1967-1974)

    Không biết các anh chị ghé duyên về sống ở vùng đất Saigon vào lúc nào? 

    Để tôi kể lại: 

    – Quê tôi ở Bến Tre từ trước năm 1954, Ba tôi làm sở Bưu Điện mà hồi xưa hay gọi là nhà dây thép. Ba tôi nhận nhiệm sở ở Vũng Tàu không có đem gia đình theo cùng. Má tôi và gia đình nhỏ tá túc ông nội tôi ở Bến Tre, cách nhà ông ngoại cô bạn cùng lớp Phương Khanh có vài ba căn phố trên đường từ sở thú ra đến bến sông Bến Tre. Muốn tới bến sông, phải băng qua ngã tư. Đến ngã tư, rẽ trái sang Cầu Cá Lóc về Giồng Trôm, rẽ phải ra chợ Bến Tre và Tòa Bố (tên gọi Văn Phòng tỉnh lỵ thời xưa). Từ đầu ngã tư này đến cổng vườn  thú (sau này xây trường trung học Bến Tre) là nhà ông nội tôi, đi xa hơn nữa là hồ Trúc Bạch, sau này có tên khác là hồ Chung Thủy. Ở châu thành Bến Tre, ai cũng đi qua nơi này. Sau khi Nhật đảo chánh Tây, ba tôi thất nghiệp cho tới Tây trở lại Đông Dương sau thế chiến. Lúc đó, nhà nước mới triệu hồi ra làm việc.

    Lần này, Ba tôi lên Saigon nhận nhiệm sở ở Bưu Điện Trung Ương vào năm nào tôi không rõ và từ đó tôi trở thành dân Sài Gòn.  

    Ba tôi làm công chức tuy là có đồng vào, đồng ra, nhưng chạy tiền mua nhà rất vất vả, đành ở thuê. 

    Tôi theo gia đình di chuyển từ Nancy qua Khánh Hội (xưa có tên là Xóm Chiếu), nằm trong quận Tư, thành phố Saigon. 

    Sau đó, từ Khánh Hội, đổi chỗ cư ngụ qua Lê Lai gần nhà thờ Huyện Sĩ, rồi quay trở lại Khánh Hội. 

    Năm 1963, một lần nữa tôi  lại dời nhà về Gò Vấp, Gia Định, và ở tại đó cho đến  năm 1975.  

    Cư ngụ từ nhà sàn, sang nhà gạch, đến nhà phố, đời tôi đã gởi gắm nhiều về Saigon. 

    Khi trí nhớ tôi bắt đầu lúc tôi 8 tuổi, hình ảnh Saigon càng ngày càng ghi đậm trong lòng tôi. Theo thời gian, từ lúc đón nhận người Bắc di cư năm 1954, truất phế Vua Bảo Đại, đến giặc Bình Xuyên, rồi Đệ Nhất Cộng Hòa qua với 2 lần đảo chánh, một lần ném bom tại dinh Tổng Thống.

    Từ sau năm 1963, tiếp theo nền đệ nhất Cộng Hòa sụp đổ. 

    Từ đó, Saigon trầm luân trong cuộc chiến, thay đổi chính phủ, không lúc nào yên, nổi bật nhất vào những năm 1968, 1972. Saigon liên tục thay đổi theo sự nhọc nhằn với chiến tranh. 

    Sài gòn trở mình vì biến đổi xã hội nhanh chóng. Người Mỹ mang một nền văn minh mới lạ đôi khi va chạm với nền đạo lý truyền thống của người Việt. Đời sống giao động theo chiến tranh và kinh tế lạm phát mãi tận đến ngày không bao giờ quên là ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Lúc đó, tôi mới đành từ giả Saigon lưu lạc xứ người. Nay đã hơn 40 năm trên xứ người, Saigon không phai mờ trong trí óc. Saigon một thời là nhịp thở của tôi.

    Có lẽ thời gian sau năm 1954 là thời gian mà Sài gòn chuyển mình mạnh nhất về xã hội, kinh tế, giáo dục và văn hóa. Con người và nếp sống tự do ngắn ngủi trong chừng 20 năm, mang rất nhiều vương vấn, thương nhớ Sài gòn. 

    Sài gòn có từ hơn 300 năm, Sài gòn trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm, trở mình lớn dậy từ buổi sơ khai do di dân từ đời chúa Nguyễn, tiếp nối Triều Nguyễn qua nhiều triều đại cho đến khi trở thành thuộc địa của Pháp. 

    Dầu sống dưới hình thức thể chế nào đi nữa, người dân Saigon chưa bao giờ phủ nhận là mình không phải là người Việt Nam mặc dầu về kinh tế, giáo dục, văn hóa tiếp cận Âu Tây sớm hơn người dân ở ngoài Trung, ngoài Bắc. 

    Trong lịch sử, có nhiều cơ hội để miền Nam tách ra thành một quốc gia độc lập, nhưng người Miền Nam và dân Saigon vẫn một lòng với chúa, với vua, giữ trọn đạo cương thường. 

    Saigon từ xưa vốn không phải là nơi đặc biệt dành cho người Nam Kỳ mà là nơi có nhiều sắc dân từ lâu sinh sống chung đụng hài hòa: người miền Nam, miền Bắc, miền Trung, người Hoa, người Miên, Chàm, Ấn Độ, Pháp. 

    Ai muốn giữ ngôn ngữ, tiếng nói của mình thì giữ, không có sự đồng hóa.  

    Người Tàu, người Việt (Bắc, Trung), người Pháp ngay cả người Miên, Ấn Độ vẫn có trường học dạy tiếng của họ.

    Tại Saigon có đủ chùa, đình, miếu, nhà thờ, mosque hồi giáo. Họ sống hòa đồng, quý mến nhau, không gay gắt kỳ thị.

    Ai đã từng ở Saigon, thở không khí Saigon, sống giữa những trưa hè oi ả.  Nghe tiếng ve sầu kêu vang suốt mùa, hay lặng nhìn những cơn mưa rào nặng hạt trên mái hiên, những con đường lầy lội, phập phồng chiếc bong bóng nước. Những buổi tan trường khi cơn mưa ập đến, đành đội mưa mà đi, tuy quần áo ướt sũng mà lòng phơi phới hân hoan không cần ô dù, cứ để mặc nước tuôn vào người. Nhớ hoài cái cảm giác lâng lâng, cái cảm nhận sâu sắc về cơn mưa rào trong lòng người Saigon.

    Có những lúc, cả nhà ngồi quây quần bên chiếc Radio nghe tuồng cải lương với tình tiết ly kỳ, những màn thoại kịch bi hài: Vũ Đức Duy, Dân Nam, Kim Cương, Túy Hồng, tay phe phẩy quạt muỗi giữa khí trời nóng nực, tha hồ mà ngậm ngùi rơi lệ với tuồng Lá Sầu Riêng hay Đời Cô Lựu. 

    Lại có bữa khác, hồi hộp nghe Huyền Vũ truyền thanh trận banh quốc tế, sao mà mê tơi , thấy mình như là cầu thủ đang vẻ vời những đường banh ngoạn mục trên sân cỏ. Trên những con đường phố xưa, sau buổi cơm chiều, bắt ghế bố, ngồi hóng mát trước sân, cùng hàng xóm chia sẻ nỗi buồn vui cuộc đời. Sống ở Saigon là thế.

    Lòng rộn ràng được cô chú dẫn đi xem một tuồng cải lương, một buổi đại nhạc hội, say sưa thả hồn theo màn trình diễn nghe ca sĩ Anh Ngọc với bài ” Em đến thăm anh một chiều mưa” !!! 

    Nghe Ban Thăng Long với” Ngựa Phi Đường Xa”, ngậm ngùi nghe Trần văn Trạch với “Chuyến xe lửa mùng Năm”, rơi lệ với Kim Cương trong thoại kịch Trà Hoa Nữ… 

    Saigon ôi nhớ ơi là nhớ.

    Có đôi khi trốn học ghé vào những rạp xi-nê tình tứ trong góc hẻm Lê thánh Tôn chéo chợ Bến Thành (rạp Lê Lợi thì phải – rạp Vĩnh Lợi), rạp Eden trong hẻm Eden, rạp hát Catinat trong ngõ hẻm vắt ngang đường Charner (Nguyễn Huệ) và đường Catinat (Tự Do). 

    Lạ lùng, đó là những rạp ciné nhỏ trang trí khá sang trọng chứa ít người. Người xem ăn mặc chỉnh tề như vào những rạp có tiếng là sang: Rex, Majestic, Casino.

    Tuy vậy, không có gì vui bằng vào rạp Cathay gần Ngân Hàng Quốc Gia, mặc quần tiều (xà lỏn) ướt sũng vì mưa, ngồi chồm hổm trên ghế cho khô quần, say mê xem phim “Canon de Navarone”, “Gunfight at the O.K.Corral”. 

    Thời đó thiếu gì rạp hát chiếu với giá 5 đồng 2 phim, đặc biệt là phim hay đứt nửa chừng. Mình ngồi ngáp dài chờ nối phim. Xem chớp bóng (Xi cờ la ma) với cung cách đó chỉ thấy ở những rạp bình dân ở Saigon.

    Người Saigon tìm giải trí về những tuồng Cải Lương trên sân khấu, ngày càng nở rộ, những buổi Đại nhạc Hội đầy kịch tính và những bài hát đa dạng về đồng quê, tình yêu nước, tình duyên ngang trái. Nghe Radio và sau này trên truyền Hình (TV) là lối giải trí rẻ tiền của người dân Saigon.

    Tuổi thơ Saigon có gì vui? nhiều lối chơi lắm: trong nhà, nhất là khi trời mưa: Bắn thun, bắn bì, diễn tuồng. Ngoài sân: tụm ba tụ bảy với hàng xóm, trời không mưa: đá banh, táng trống, đánh đáo, chơi bông vụ, đá cầu lông, bắn bi chai, đá dế, đá cá lia thia, tạc hình, nút phén đập dẹp, bao thuốc lá, ném đá trên lưng người cổng. Trời mưa: tắm mưa ngoài phố, trượt xi măng láng, bắt cá bằng lồng bẫy chuột trong cống dẫn nước từ sông Saigon chảy ngược vào.v.v.

    Còn nữa chưa hết: trèo lên nóc nhà thả diều, bẫy chim khoen, bắt dế cơm ở Ngân Hàng Quốc gia bên kia cầu Mống lúc trời tối. Đánh lộn với trẻ con của khu phố khác. Cờ bạc: Hốt lú, đánh bài, tạc hay khẻ tường, đổ xí ngầu ăn bò vò viên, ăn bò bía. Ban đêm: u mọi, bỏ khăn, chờ xe taxi qua cộng số xe theo bài cào để  định hơn thua  mà thay phiên nhau cổng. Tuổi thơ của tôi ở Khánh Hội, Saigon” là vậy đó.

    Ăn hàng vặt ở Saigon thì muôn hình vạn trạng: Trẻ con được vài đồng mỗi buổi sáng cha mẹ cho là vui rồi, số tiền đó vừa ăn vừa dè sẻn mới có được những trò chơi ở trên (nhất là trò chơi cờ bạc). Vài đồng thì ăn được cái gì hở? một tô cháo huyết, cháo đậu xanh với đường thẻ, cháo lòng. Một gói xôi đậu xanh và dừa nạo, bọc bánh phồng, xôi bắp kiểu Nam, kiểu Bắc, cốm dẹp trộn dừa, bánh mì chang sốt cà, một đỉa cơm tấm bì nhỏ, bánh ướt với một nửa bánh đậu chan nước mắm cay vừa cay vừa hít hà, bánh cuốn thanh trì chờ lâu vì tráng bánh, một tô bánh hoành thánh nước lèo, một đĩa ốc gạo với nước mắm chanh, một đĩa ốc len xào dừa, một tô bánh canh nhỏ, một đĩa bánh tằm bì, bánh bèo bì.

    Chắc tạm đủ, thêm những lặt vặt khác: như kẹo kéo, kẹo đậu phộng kẹp bánh tráng, một chiếc chuối nướng bọc nếp, một chiếc chuối nướng trên lò than, đập dẹp chan nước dừa. Một miếng khô mực nướng, khô cá đuối nướng, khô mực nướng tráng mỏng chấm tương ớt. Một trái cóc chẻ ngâm cam thảo, một trái ổi, một miếng xoài tượng ăn với mắm ruốc hay muối ớt, một miếng khóm ngọt.v.v. Còn chè thì đủ loại: táo soạn, chè thưng, chè trôi nước, chí mà phù, chè đậu xanh, chè đậu xanh bột bán, chè đậu đỏ, sương sa hạt lựu nước dừa, đá nhận chan nước siro, cà rem cây đậu xanh đậu đỏ…v.v.. anh chị nhớ mệt nghỉ.

    Ở Saigon, hàng sách báo tự do mở khắp nơi, nhật báo, tuần báo, nguyệt san, báo Xuân. Nhà sách lớn nhỏ, cho đến những quán sách vỉa hè đông đúc người đọc. Chờ báo Hồng Kông với truyện kiếm hiệp của Kim Dung, tiểu thuyết mới xuất bản của Quỳnh Dao là một trong món ăn tinh thần  đầy lôi cuốn của người dân Saigon. Người Saigon có cách đọc báo thú vị: ăn sáng trong quán cà phê, tiệm nước, hay ngồi vắt vẻo trên xích lô khi không có khách, hay ngồi chồm hổm, hay trên chiếc ghế đẩu thấp tè tè, miệng phì phèo điếu thuốc, đọc ngấu nghiến từng trang báo. Hình ảnh này, có từ hồi nhà văn Phú Đức cho ra tiểu thuyết trinh thám từng kỳ: Châu Về Hiệp Phố. Món ăn tinh thần phong phú đến đổi sau này  mỗi một góc phố Saigon, đều có hiệu sách thuê. Cứ thuê mà đọc khỏi phải mua.

    Sau năm 1954, phong trào văn nghệ phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, từ báo chí, đến sách vở, tiểu thuyết, truyện dịch. Số nhà văn, nhà thơ tăng lên gấp bội. Nhạc sĩ, ca sĩ cũng vậy, ta có nhiều nhạc phẩm tuyệt vời còn lưu lại đến bây giờ. Phòng trà, quán cà phê ca nhạc bỏ túi, phong trào nhạc trẻ và những danh ca ngoại quốc len lỏi vào tâm hồn giới trẻ: Sylvie Vartan, Francoise Hardy, Christophe, the Beatle, the Animal, Elvis Presley, Pat Boone v.v.

    Chỉ có Saigon mới có những ngày Giáng Sinh thật tưng bừng. Nó đến như ngày vui quốc lễ, không phân biệt tôn giáo, ai cũng vui vẻ đón mừng. Những hang đá làm bằng giấy bồi, những ngôi sao có ren tua thấp sáng báo tin Chúa ra đời, những chiếc thiệp với lời chúc nồng ấm. Phố xá đông nhiều hơn, mua bán nhiều hơn. nhộn nhịp hơn . Dân bát phố đổ ra đường nhiều hơn, chen chân mà đi. Hàng quán lung linh ánh đèn chớp, đóng cửa trễ. Đúng là rộn ràng một nỗi vui. Đêm Giáng Sinh, con đường dẫn đến nhà thờ Đức Bà đông hơn bao giờ hết. Tan lễ rồi, ai vội vã về nhà ăn réveillon thì về, ai muốn thưởng thức phố khuya thì lang thang trên những con đường đang vào cơn ngủ muộn.

    Nhớ nhiều những rộn ràng cả tuần lễ trước Tết, khí hậu êm dịu, mát lạnh. Hàng hóa tuôn về thành phố. Những quầy hàng dưa hấu lớn có, nhỏ có. Gian hàng treo những ngọn đèn khí đá. Cây cảnh, quất tắc, mai, đào đươm nụ chờ đến ngày tết. Hàng quán bánh mứt, pháo đỏ, rượu hồng chưng bày làm tăng nét yêu kiều chào đón mùa xuân mới. Những bài hát Xuân lập đi lập lại trên đài phát thanh không ngừng nghỉ, những phong pháo, hàng vải lụa là mới tinh. Những cánh thiệp xuân treo dài trong sạp báo nhỏ. 

    Đi chợ hoa Nguyễn Huệ là một thú vị, xem người và hoa lấp lánh ánh xuân nồng. Mùa Xuân và Tết làm cho lòng người Saigon, háo hức, chộn rộn chờ đón Tết đến từ rằm tháng chạp, giao thừa, đến mùng 3, đi du xuân khoe áo mới khắp nẻo đường Saigon, đùa vui với tiếng pháo rộn rã liên tục, từ khu phố này đến khu phố khác. Đâu đâu cũng chan hòa niềm vui.. 

    Sài gòn trong tâm tư của tôi không bao giờ xóa hết cho đến khi tôi rời xa Sài gòn năm 28 tuổi và lưu lạc đất khách hơn 40 năm. Tôi nghĩ, anh chị dầu là người Bắc, người Trung, người Hoa đã sống ở Saigon, tâm hồn anh chị thế nào cũng chất chứa nỗi nhớ nhung Saigon. 

    Không phải chỉ tổng quát Saigon, mà từng con đường, từng khu phố, ngõ hẻm, từng công viên, từng chiếc lá me, lá chuồn chuồn tung bay trước gió, từng khu chợ, từng món ăn chơi trên vỉa hè, món chè món cháo không nơi nào mà không lưu dấu chân kỷ niệm của các anh chị về những địa danh quen thuộc: Đa Kao, Phú Nhuận, Tân Định, Chợ Cũ, Bàn Cờ, Xóm Chiếu, Khánh hội, Vĩnh Hội, Tân Thuận, Bình Tây, Chợ lớn, Phú Lâm, Cầu kho, Đồn Đất, Ba son, Bến Bạch Đằng, Bến đò Thủ Thiêm, Chợ Đũi, Chợ Quán, Ngã Sáu, Ngã bảy, Ngã tư Bảy Hiền, Phú Thọ, Phú Nhuận, Hàng Xanh, Ngã ba Chú Ía.v.v.

    Làm sao quên được tiếng rao hàng lanh lảnh giữa đêm. Tiếng mì gõ ở cuối ngõ. 

    Tiếng súc sắc tẩm quất. Tiếng gánh hàng kẽo kẹt giữa đêm về sáng. Tiếng chân ngựa thồ gõ từng nhịp bước trên đường phố. Rất thú vị bước lang thang độc hành dưới ánh đèn đường héo hắt khi thành phố Saigon đang yên giấc, ngủ vùi trong đêm. Nhớ câu hát: Nửa đêm lạnh qua tim, phố đã vắng thưa rồi, có người mãi đi tìm một người không hẹn đến, mà tiếng bước buồn thêm…thấm thía và nhớ nhiều về Saigon nếu ai đó đã từng lang thang giữa đêm khuya

    Ngày xưa, anh chị còn nhớ, khi tan trường về, nhìn những tà áo dài trắng và chiếc nón lá của nữ sinh phất phơ trước gió. Từng nhóm nhỏ, họ đi bộ hay xe đạp về hướng trung tâm thành phố như những cánh bướm trắng yêu kiều bay từng đàn nhỏ trên cánh đồng xanh và chỉ một thoáng sau đó, có vài giờ, những tà áo trắng ấy tan biến đi trong ngày nắng vội.

    Sài Gòn ôi đẹp làm sao những giờ phút ngắn ngủi đó. Lúc xưa nó ở quanh ta, mà giờ chỉ còn là hoài niệm. 

    Sài gòn nay vắng bóng những tà áo dài trắng yêu kiều  phất phơ ngoài Phố. Saigon vĩnh viễn mất đi hình tượng ấy rồi .

    Sài Gòn ngày ấy vẫn còn vương vấn mãi không biết cho đến bao giờ. 

    Bây giờ đã ngoài 70, mà ký ức xa xưa vẫn còn lãng vãng đâu đây.

    Tất cả tâm tình như đã gửi gắm ở phần trên kích động trong tâm tôi.

    Tôi phải làm gì đây để khơi lại những gì liên hệ đến Thành Phố Saigon này?

    Có những ngày trong căn phòng vắng, ngoài trời mưa lê thê không buồn trôi, ngồi thả hồn nhớ lại một Saigon xa xưa mà giờ đây chỉ còn là hồn thu thảo, bóng tịch dương và tôi viết bài này từ những gì tồn đọng trong ký ức của tôi với hy vọng gợi lại những lưu dấu về Saigon trong anh chị, cùng để lòng tràn dâng một niềm nhớ Sài Gòn dấu yêu.

    Ôi Saigon của tôi ! 

    Xin anh chị dành một phút suy tư về một nơi chốn đã chìm dần vào một bóng tối thăm thẳm của niềm nhớ. Phải chăng Saigon xưa chỉ còn hư ảo ? 

    Mà thật, Saigon bây giờ khác, khác hơn Saigon xưa nhiều.. nhiều lắm.

    Thân thương

    Lê Minh Đức (YK67-74)

    (Phan Nữ Lan chuyển từ bạn)

  • ÁO TRẮNG ĐỒNG KHÁNH XƯA

    Thơ Huệ-Tâm

    Nhạc Mộc Thiêng

    4 cô nữ sinh Đồng Khánh Huế nhà Lê thị Tường Vân đi học về, ngõ gần cầu Bến Ngự – ngược phía trên là Nam Giao (năm 1969).

    ÁO TRẮNG ĐỒNG KHÁNH XƯA

     Áo trắng hôm nào em qua  đây
    Mượt mà buông thả mái tóc mây
     Thanh thanh dáng ngọc đôi guốc mộc
     Nón lá chao nghiêng thoảng hương bay.

    Sân trường Đồng Khánh lá rơi đầy
    Tường vôi hồng thắm rợp bóng cây
    Thướt tha áo trắng tay ôm cặp
    Em vào lớp học mắt thơ ngây.

    Một sớm mai nào Huế vào thu
    Hương giang huyền ảo đậm sương mù
    Đường xưa thức giấc, giờ tan học
    Nặng đò Thừa Phủ, nhẹ tiếng ru.

    Mấy nhịp Trường Tiền cầu xưa ấy
    Áo trắng đi về gió heo may
    Em có biết chăng tôi vẫn đợi
    Ngắm nhìn tà áo trắng tung bay…

              Huyền Tôn Nữ Huệ-Tâm

                        Huế, tháng 8, 2010

    (Trích tập thơ Hương Cuộc Đời, NXB Đà Nẵng 2011)

    Mời nghe bài hát:

    Hình lớp ĐỆ NHỊ C2 ĐỒNG KHÁNH HUẾ NK 1967– 1968 là lớp của Huệ Tâm
    (Thu Hương đang ôm HT)
    Hình lớp ĐỆ NHỊ C2 ĐỒNG KHÁNH HUẾ NK 1967– 1968 là lớp của Huệ Tâm (HT ngồi ở vị trí 1 trái sang)

    .

  • Thơ ĐỜI ÔNG GIÁO GIÀ

    Cứ mỗi lần đến ngày 20/11 hằng năm tôi lại tìm bài thơ của Cụ Văn Thần-Lê Đình Phu (1900-1989) để mà nghiềm ngẫm bài thơ xưa vì bây giờ mình cũng đã trở thành ông giáo già rồi.

    Tôi vui mừng được hội ngộ với bài thơ ĐỜI ÔNG GIÁO GIÀ của thầy giáo Lê Đình Phu đã từng dạy tại trường Trung Học Nguyễn Tri Phương (Huế) thân sinh của thầy giáo Lê Đình Châu (T-HTK), bạn thân của tôi!

    BS Trần Đức Thái (cùng thế hệ với thân hữu khóa HTK, cựu HS Nguyễn Tri Phương 63-70)

    Đời ông giáo già

    Ngày xưa có kẻ từ quan
    Lui về quê quán sửa sang ruộng vườn
    Sông mê, bể hoạn chán chường
    Ra đi lòng chẳng vấn vương chút nào.
    Phong phiêu phiêu
    Châu diêu diêu
    Gió lay tà áo, thuyền xuôi mái chèo
    Người xưa xử thế thanh cao
    Tới lui đúng lúc, ra vào đúng khi
    Ta thời chẳng bận nghĩ suy
    Yêu nghề, mến trẻ không gì đắn đo
    Ba mươi năm khoác áo thầy đồ
    Vui nơi trường ốc già nua mới về
    Giao du sẵn có bạn bè
    Túi thơ bầu rượu đề huề gió trăng
    Giang hồ ai dám đón ngăn
    Bổng hưu ta rút lần lần mà tiêu
    “Kẻ có rương vàng lo sợ thiếu
    Mình trong Kho Bạc mãi luôn còn”
    Bác Thảo Am ơi, bác Thảo Am
    May đâu dưới đó bác còn lãnh hưu
    Dinh hư sự thế đáo đầu
    “Lạc phù thiên mạng” sầu tư ích gì.

    *

    Lui về sang sửa mảnh vườn xưa
    Tùng cúc nhường ngôi dãy sắn dưa
    Đu-Đủ, đủ dùng còn đủ biếu
    Mảng-Cầu, cầu đủ chẳng cầu thừa

    Bốn mùa rực rỡ màu hoa phượng
    Ba mặt sum sê cánh lá dừa
    Cái kiếp phong lưu còn nặng nợ
    Lân la rượu sớm với trà trưa.

    1978

    Văn Thần Lê Đình Phu (1900-1989)

    Bài thơ này trích trong Thi tập Tuyết Xưa của cụ Văn Thần, viết sau năm 1975. Cụ Lê Đình Phu là thân phụ người bạn rất thân của tôi là thầy giáo Lê Đình Châu. Những năm cuối đời của cụ, tôi thường lui tới thăm cụ và nghe cụ đọc thơ, bài thơ Đời Ông Giáo Già là một trong những bài thơ mà tôi tâm đắc. Nội dung của bài thơ rất phù hợp với tâm trạng của tôi bây giờ. Cụ Văn Thần là thầy giáo của nhiều thế học trò từ thời Pháp thuộc, cụ về hưu khá sớm. Trước năm 1975 cụ còn lãnh lương hưu, nhưng sau năm 1975 cụ không còn được lãnh lương hưu để sinh sống, nên trong bài thơ có đoạn cụ viết về tình cảnh đó.

    Có lần tôi hỏi cụ: Sao ôn lại lấy bút hiệu là Văn Thần. Cụ giải thích Văn Thần chỉ là bầy tôi của văn chương mà thôi.

    Trần Đức Thái

  • Những ngày xưa ấy

    Thu hát cho người – Vũ Đức Sao Biển

    Chi Lê

    Mình giận Bạn ấy đã hơn nửa tháng rồi, không thèm gặp. Tan học, mình đứng trên lầu nhìn xuống thấy Bạn ấy đứng tựa cột đèn chờ là mình đi về cửa khác.

    Hôm qua mình nhận được lá thư của Bạn ấy gửi từ Bưu Điện về nhà. Bạn nói sắp “đi xa”, muốn gặp mình. Hồi đó làm gì có điện thoại di động để a lô cho nhau?

    Sáng nay, lớp mình tan học trể hơn các lớp khác 15’ vì Thầy bắt cả lớp ôn bài chuẩn bị thi Lục cá nguyệt. Mình ra cửa sổ nhìn xuống đã thấy Bạn ấy tựa cột đèn. Không vội vàng. Mình lấy cái lược trong cặp ra chải lại mái tóc. Và cột gọn gàng bằng một cọng thun. Đuôi tóc giống như cái đuôi gà vậy.

    Mình xuống sân, ra cổng. Mình mạnh dạn đến trước mặt Bạn ấy và nói:

    – Tui gặp nhưng tui vẫn còn giận nha.

    Mình thoáng thấy hình như Bạn ấy đang cố giấu nụ cười. Uh, đứng đó cười đi.

    Mình quay đi. Nhà trường đã có thông báo cấm hẹn hò bạn trai đưa đón trước cổng trường. Phải đón tuốt đằng xa. Vi phạm sẽ bị kỷ luật.

    Bạn chạy xe theo sau. Khi đi ngang với mình, Bạn nói:

    – Thứ 2 tới anh đi Mỹ rồi.

    Mình im lặng. Bạn nói tiếp:

    – Anh sang đó học lái phi cơ.

    Mình vẫn im lặng. Mình đang giận mà. Bạn cũng im lặng.

    Con đường về nhà trưa nay đầy nắng. Nắng cuối năm như đốt lửa trên má mình. Mình hỏi bâng quơ:

    – Lái phi cơ có gì khó mà phải qua tuốt bên Mỹ học?

    Mình liếc thấy Bạn cười, vẫn như trêu chọc mình:

    – Lái phi cơ không khó. Lái phi công mới khó.

    À há. Hiểu mà. Người thông minh nên nói là hiểu liền mà. Mình quay đi:

    – Xíiiiiiiii. Ai thèm lái mà khó với dễ.

    Bạn ấy hay nói câu đó cho đến lúc thành “giặc lái” và bay mất trên bầu trời Sài Gòn yêu dấu của mình.

    Buổi trưa cùng nhau chạy xe trên những con đường quen thuộc. Một câu xin lỗi nhẹ nhàng. Một nụ cười nhẹ nhàng.

    Nắng Sài Gòn như trãi lụa dưới những vòng xe qua.
    Đã qua lâu rồi những ngày xưa ấy. Làm sao để mình có được một vé trở về ngày xưa?

    “Có sáng nắng – Có chiều mưa
    Có con đường nhỏ anh đưa em về.” (KC)

    Nguồn: FB Chi Lê

  • LŨ LỤT PHÚ YÊN VÀ HUẾ – AI MỚI LÀ “CÔNG THẦN” CẮT LŨ THỰC SỰ?

    FB. Vũ Quốc Huy

    Người thực hiện: Thầy Thuận Thiên (Viện trưởng Viện Phong Thủy – Chuyên gia Nghiên cứu Văn hóa Phương Đông)

    MƯA HUẾ VÀ CÂU CHUYỆN CÁI “THAU” HỨNG NƯỚC

    Tôi viết bài viết này với 2 điều.

    01. Khuyến khích mọi người cố gắng tăng Mộc trong mỗi nhà, mỗi nơi, (xin đọc đoạn vườn quốc gia Bạch Mã ở trong bài viết).

    02. Là trả lời ý của độc giả Huỳnh Luyên: “thầy nói đúng hay nhưng chưa đầy đủ vì Huế cũng là miền Trung nhưng tại sao lượng mưa ở huế có nơi 1600mm mà Huế ngập ít hơn Phú Yên” (Tại Sao Mưa Huế Lớn Mà Ngập Ít Hơn)

    Câu hỏi này đã chạm đúng vào “Long Mạch” của vùng đất Cố Đô. Huế – mảnh đất Thần Kinh, nơi các bậc Đế Vương xưa kia chọn làm kinh đô, quả thực sở hữu một hệ thống “Phòng thủ Thủy chiến” (kết hợp cả tự nhiên và nhân tạo) vô cùng đặc biệt mà hiếm nơi nào có được.

    Để trả lời cho câu hỏi tại sao vùng “rốn mưa” 1600mm vẫn giữ được sự bình ổn, câu trả lời nằm ở hệ thống liên hồ chứa được ví như “Thiên La Địa Võng” bủa vây thượng nguồn.

    Huế sở hữu 3 “Gã Khổng Lồ” đứng canh gác ngày đêm. Nếu 3 gã này “ngoan”, Huế bình yên, nếu 3 gã này “nổi loạn”, Huế thất thủ.

    Để hiểu tại sao Huế “đỡ” hơn Phú Yên, chúng ta phải so sánh hai yếu tố cốt tử: Lưu Vực (Nguồn nước về) và Dung Tích (Nơi chứa nước). Nói một cách hình tượng, đó là sự khác biệt giữa “Cái Thau” và “Cái Ca”.

    Hôm nay, chúng ta sẽ giải mã bí mật của dòng Sông Hương và hệ thống hồ chứa nơi đây.

    PHẦN I: GÓC NHÌN DƯƠNG – KHOA HỌC KỸ THUẬT & THỦY LỢI

    Nhìn vào bản đồ thủy lợi của Huế, ta thấy hiện lên một thế trận “Thập Diện Mai Phục” (10 mặt giáp công) để trị thủy vô cùng bài bản:

    – Thượng Nguồn (Nguồn sinh thủy): Rừng Quốc gia Bạch Mã (Giữ nước, giữ đất).

    – Trung Du (Hồ chứa cắt lũ): Tả Trạch, Bình Điền, Hương Điền (3 cái thau hứng nước khổng lồ).

    – Nội Đô (Hệ thống tiêu thoát): Hộ Thành Hào, Sông Ngự Hà, Hồ Tịnh Tâm (Mao mạch tản nước).

    – Hạ Lưu (Hệ thống kiểm soát): Đập Thảo Long (Cửa van cuối cùng).

    – Cửa Thoát (Minh Đường): Phá Tam Giang & Cửa biển Thuận An (Bụng chứa khổng lồ).

    GIẢI MÃ “THẾ CHÂN KIỀNG” TRẤN GIỮ CỐ ĐÔ.

    Huế may mắn sở hữu “Tam Kiếm Hợp Bích” (Tả Trạch – Bình Điền – Hương Điền) án ngữ thượng nguồn. Cụ thể sức mạnh của từng vị trí như sau:

    01. Hồ Tả Trạch: “Vị Tướng Quân” Hùng Mạnh Nhất (Cứu Tinh Của Sông Hương): Đây là công trình quan trọng số 1, là “Ông Trùm” trong việc bảo vệ TP. Huế.

    Vị Trí: Nằm trên dòng chính Tả Trạch (nhánh lớn nhất của sông Hương), thuộc xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy.

    Bản Chất: Đây là Hồ Thủy Lợi (kết hợp phát điện phụ).

    Khác Biệt Cốt Tử: Vì là Thủy Lợi nên mục tiêu số 1 là An toàn cho dân, không phải là lợi nhuận ở điện. Do đó, quy trình vận hành của nó linh hoạt hơn nhiều so với các hồ thủy điện đơn thuần.

    Sức Mạnh: Với dung tích toàn bộ lên tới 646 triệu m³, Tả Trạch sở hữu một dung tích phòng lũ (Cái Thau Rỗng) cực lớn! Vào mùa lũ, nó luôn để dành một khoảng trống khổng lồ để sẵn sàng “nuốt trọn” những trận mưa lớn nhất từ thượng nguồn đổ về nhánh Tả Trạch.

    Vai Trò: Chặn đứng dòng nước từ dãy Bạch Mã đổ xuống. Nếu không có Tả Trạch, nước lũ sẽ lao thẳng về ngã ba Tuần, hợp với Hữu Trạch và nhấn chìm Đại Nội chỉ trong vài giờ.

    Đây chính là “Người hùng thầm lặng”, nhiệm vụ số 1 là CẮT LŨ.

    02. Thủy Điện Bình Điền “Tả Hữu Hộ Pháp” (Trấn Giữ Nhánh Hữu Trạch): Nếu Tả Trạch trấn giữ bên Trái (nhìn từ biển đông), thì Bình Điền trấn giữ phía trước.

    Vị Trí: Nằm trên sông Hữu Trạch, thuộc xã Bình Điền, thị xã Hương Trà.

    Bản Chất: Là hồ Thủy Điện.

    Sức Mạnh: Dung tích 423 triệu m³, cột nước cao, địa hình dốc.

    Thế Trận: Sông Hữu Trạch và Tả Trạch gặp nhau tại Ngã Ba Tuần (Bằng Lãng) để tạo thành sông Hương chảy vào thành phố.

    Nguy Cơ & Thực Tế: Nếu Bình Điền và Tả Trạch cùng lúc “Xả Hết Công Suất”, thì tại ngã ba Tuần sẽ xảy ra hiện tượng “Thủy Kích Cộng Hưởng”, nước dâng lên đột ngột khiến TP. Huế không đỡ nổi.

    Tuy nhiên, quy trình vận hành liên hồ buộc hai ông này phải “nhìn mặt nhau”. Ông Tả Trạch (Thủy lợi) thường sẽ hy sinh giữ nước nhiều hơn để ông Bình Điền (Thủy điện) xả từ từ, tránh để hai dòng lũ gặp nhau cùng lúc.

    03. Thủy Điện Hương Điền “Ông Vua” Vùng Phía Bắc – Tay Phải (Trấn Giữ Sông Bồ): Đây là cái tên ít được nhắc đến hơn sông Hương.

    Vị Trí: Nằm trên sông Bồ (con sông chảy song song phía Bắc sông Hương), thuộc thị xã Hương Trà.

    Sức Mạnh: Dung tích 820 triệu m³ (Lớn hơn cả Tả Trạch về tổng dung tích). Đây là hồ chứa có khả năng cắt lũ cực tốt cho lưu vực sông Bồ.

    Mối Liên Hệ: Sông Bồ không chảy qua Đại Nội, nhưng nó đổ về Phá Tam Giang (cùng chỗ thoát với sông Hương).

    Nếu Hương Điền xả mạnh, Phá Tam Giang đầy nước, nước sông Hương sẽ không thoát ra được biển, gây ngập ngược lại cho TP. Huế (Hiệu ứng dềnh).

    (Muốn biết thêm về hiệu ứng dềnh, vui lòng xem dưới bình luận)

    Tổng Kết Cục Diện: Nhờ 3 cái “túi” khổng lồ này, dù mưa tại chỗ 1600mm, nhưng lượng nước đổ về hạ du đã được giữ lại phần lớn trên núi, sau đó xả từ từ.

    04. “Huyền Vũ” Vững Chãi – Vườn Quốc Gia Bạch Mã (Sức Mạnh Của Hành Mộc): Tại sao hồ Tả Trạch, Hữu Trạch lại phát huy tác dụng tốt?

    Là nhờ sau lưng nó có một “Hậu Phương Mộc” vĩ đại: Vườn Quốc Gia Bạch Mã.

    Góc nhìn Khoa học: Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh giữ rừng tốt nhất miền Trung. Khối núi Bạch Mã với thảm thực vật dày đặc đóng vai trò như một miếng bọt biển khổng lồ. Nó giữ lại nước, giảm xói mòn đất. Do đó, nước lũ đổ về hồ ở Huế thường ít bùn đất hơn, dòng chảy đỡ hung hãn hơn so với các vùng đồi trọc.

    PHẦN II: HỆ THỐNG “MAO MẠCH” VÀ “THỦY QUAN” HẠ LƯU

    Các yếu tố trong nội thành Huế là những yếu tố cực kỳ đắt giá. Nếu “Vĩ mô” là: Đập lớn trên núi, Phá lớn ngoài biển. Thì “Vi mô” là: Hệ thống tiêu thoát nước ngay trong lòng thành phố.

    01. “Vũ Khí Bí Mật” Trong Lòng Phố: Hộ Thành Hào & Hồ Điều Hòa:

    Nếu 3 con đập trên núi là cái “Thau lớn”, thì hệ thống đường nước trong lòng Kinh thành Huế chính là những chiếc “ống dẫn” và “bể chứa mini” cực kỳ thông minh mà người xưa để lại.

    – Hệ Thống Hộ Thành Hào & Ngự Hà: Kinh thành Huế không chỉ có tường thành, mà được bao bọc bởi hệ thống hào nước sâu và rộng, kết nối với sông Ngự Hà chảy xuyên qua nội thành.

    Thời bình, nó là đường giao thông thủy, thời chiến là hào phòng thủ, còn khi mưa lũ, nó chính là hệ thống kênh thoát nước khổng lồ. Nước mưa trong nội thành sẽ nhanh chóng dồn xuống các hào này rồi thoát ra sông Hương.

    – Các “Túi Nước” Nội Đô: Huế nổi tiếng với các hồ sen, hồ trong các phủ đệ, lăng tẩm (Hồ Tịnh Tâm, Hồ Tân Nguyệt…) và hệ thống ao hồ dày đặc trong các khu nhà vườn (Kim Long, Vỹ Dạ).

    Đây là hàng trăm cái “hồ điều hòa mini” phân tán khắp thành phố. Khi mưa lớn, các ao hồ này sẽ “uống” bớt một phần đáng kể, giúp giảm tải cho hệ thống cống rãnh.

    02. “Mộc Thổ Trấn Thủy Lụt” – Kiến trúc Nhà Vườn & Công viên Sông Hương: Khác với Hà Nội hay Sài Gòn (đất chật người đông, bê tông kín mít), Huế giữ được một đặc sản vô giá trong trị thủy:

    – Hệ thống “Nhà Vườn” (Kim Long, Vỹ Dạ, Phú Mộng…): Nhà rường Huế truyền thống không bao giờ xây kín đất. Tỷ lệ xây dựng thấp (20-30%), còn lại là Vườn cây, Ao cá.

    Mỗi khu nhà vườn là một bề mặt thấm nước tự nhiên. (Khác hoàn toàn với Đà Lạt) Hàng nghìn ngôi nhà vườn chính là hàng nghìn cái “giếng thấm” giúp giảm tải cho cống thoát nước.

    (Muốn biết thêm về Đà Lạt ngộp thở, vui lòng xem bài Đà Lạt Ngập Lụt cũng trong trang này)

    – “Thủy Mộc Tương Sinh” dọc bờ Sông Hương: Hai bên bờ Sông Hương đoạn qua thành phố (Thương Bạc, Phu Văn Lâu…) không bị kè bê tông dựng đứng cứng nhắc. Người Huế giữ lại thảm cỏ, cây cổ thụ và bãi bồi. Khi nước dâng, cây cối và đất đóng vai trò “giảm xóc”, làm chậm dòng chảy và giữ lại phù sa.

    03. “Thủy Quan” Trấn Giữ – Đập Thảo Long: Nếu bỏ qua công trình này là một thiếu sót lớn. Nằm ở cuối sông Hương, đây là đập ngăn mặn lớn nhất Đông Nam Á (thời điểm xây dựng). Mùa khô nó đóng ngăn mặn, mùa lũ nó mở toang các cửa van để tống nước ra Phá Tam Giang nhanh nhất có thể. Nó chính là cái “Van xả áp” cuối cùng, nếu vận hành sai, nước sông Hương sẽ bị dềnh ứ.

    PHẦN III: GÓC NHÌN ÂM – PHONG THỦY & ĐỊA LINH

    Không phải ngẫu nhiên nhà Nguyễn chọn Huế. Thế đất này có khả năng “Tụ Thủy” và “Giải Sát” cực tốt.

    01. Sông Hương “Khúc Thủy Hữu Tình”: Khác với các con sông dốc đứng hung dữ ở miền Trung, Sông Hương là dòng sông “Danh Giá”. Dòng chảy uốn lượn mềm mại qua điện Hòn Chén, Nguyệt Biều, Kim Long trước khi vào thành phố.

    Trong phong thủy, đường cong (Khúc) giúp làm giảm tốc độ dòng chảy, biến “Sát Thủy” (lũ) thành “Sinh Thủy” (nước hiền). Nước sông Hương dâng lên từ từ, rút đi êm đềm.

    02. Phá Tam Giang “Minh Đường Tụ Thủy Khổng Lồ”: Phá Tam Giang – Cầu Hai là hệ thống đầm phá lớn nhất Đông Nam Á, đóng vai trò như một “Hồ Điều Hòa” khổng lồ cuối nguồn.

    Khi nước sông Hương, sông Bồ đổ về, Phá Tam Giang mở rộng vòng tay đón nhận (Cái Bụng Rồng), chứa chấp lượng nước dư thừa trước khi thoát ra cửa biển Thuận An và Tư Hiền. Nhờ cái “Bụng Rồng” này mà nước không bị dồn ứ tức thời.

    03. Thế Đất: “Long Chầu Hổ Phục” Hệ thống núi Ngự Bình (Tiền Án) và dãy Trường Sơn bao bọc (Huyền Vũ) tạo thế che chắn gió bão. Bạch Mã là thế “Huyền Vũ” cần tĩnh và cần xanh. Nhờ “Mộc khí” vượng ở thượng nguồn, nên “Thủy khí” được điều hòa ngay từ trong trứng nước. Huế thường chỉ “ngâm nước” (lụt đẹp, lụt ngấm) chứ ít khi bị “xóa sổ” bởi lũ quét.

    PHẦN IV: ĐỐI CHIẾU VỚI PHÚ YÊN – BI KỊCH “CÁI CA HỨNG VÒI RỒNG”

    Ngược lại với Huế, Phú Yên chịu trận bởi con Sông Ba (Đà Rằng).

    – Lưu Vực Khổng Lồ: Sông Ba hứng nước từ cả 3 tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk) dồn về.

    – Hồ Chứa Bé Nhỏ: Hồ Sông Ba Hạ (chốt chặn cuối cùng ở Phú Yên) có dung tích quá nhỏ so với lượng nước khổng lồ từ Tây Nguyên. Nó giống như lấy cái Ca uống nước ra hứng vòi cứu hỏa. Nước về cái là đầy tràn ngay lập tức, buộc phải xả lũ cấp tập ồ ạt.

    Kết Luận Khoa Học: Huế ngập ít hơn không phải vì mưa ít, mà vì Huế có cái “Thau” to hơn (Tả Trạch/Tam Giang) để đựng nước. Đó là Thiên Thời và Địa Lợi.

    LỜI KẾT CỦA VIỆN TRƯỞNG

    Nhìn vào bản đồ, ta thấy một thế trận “Tam Long Tranh Châu” rất ngoạn mục:

    01. Thế “Thiên Quan Trấn Thủy”: Ba con đập (Tả Trạch, Bình Điền, Hương Điền) giống như 3 cánh cổng trời (Thiên Quan) khóa chặt 3 con rồng hung dữ trên núi. Nhờ có 3 “cái khóa” này, dòng Sát Thủy được thuần hóa thành Sinh Thủy trước khi đi vào vùng đất Đế Đô.

    02. Huyệt Kết “Minh Đường”: Tất cả nước cuối cùng đều tụ về Phá Tam Giang. Huế ngập ít hay nhiều phụ thuộc vào việc: 3 ông ở trên xả xuống có nhịp nhàng để cái “Bụng Rồng” (Tam Giang) kịp tiêu hóa ra biển (Cửa Thuận An) hay không. Nếu 3 ông cùng xả, cộng thêm triều cường bít cửa biển thì Bụng Rồng phình to, vỡ trận.

    03. Ngũ Hành Tương Sinh: Huế là nơi hiếm hoi mà “Mộc khí” (Cây xanh) vượng hơn “Kim khí” (Bê tông). Thủy sinh Mộc. Khi nước lũ (Thủy quá mạnh) dâng lên, nếu gặp Bê tông (Thổ) thì nó sẽ phá (phản vũ).

    Nhưng nếu gặp Cây (Mộc), thì Cây sẽ uống nước, nước sẽ vì Mộc (con nó) mà dịu đi. Chính màu xanh bạt ngàn của Huế đã biến dòng “Lũ dữ” thành dòng “Nước mát”, nuôi dưỡng long mạch thành phố thay vì tàn phá nó.

    LỜI KẾT

    Sự bình yên của Huế hôm nay trong cơn mưa 1600mm là minh chứng cho Trí Tuệ của việc quy hoạch và sự phối hợp nhịp nhàng giữa Thiên tạo và Nhân tạo.

    So Sánh Huế Và Phú Yên Để Thấy: Con người có thể thắng Thiên nhiên một nửa nếu biết Quy hoạch đúng. Huế trụ vững là nhờ quy hoạch “Thuận Thiên” đỉnh cao. Người Huế xưa không lấp ao hồ để phân lô bán nền, mà họ giữ lại nước để nuôi dưỡng sinh khí và phòng khi “thủy hỏa đạo tặc”.

    Tuy nhiên, chớ vội chủ quan. “Nước chảy đá mòn”, biến đổi khí hậu đang khiến quy luật cũ bị phá vỡ. Người Huế vẫn phải sống chung với những cơn “Lụt mòn lụt mỏi”. Nhưng ít nhất, trong cơn bĩ cực của miền Trung, Huế vẫn giữ được chút phong thái ung dung của vùng đất Kinh Kỳ nhờ sự che chở của Long Mạch và Trí Tuệ trị thủy.

    Thương về miền Trung, và mong các tỉnh bạn cũng sớm có được những “Cái Thau” – những hồ cắt lũ thực thụ như Huế để chúng ta bớt khổ.

    Thầy Thuận Thiên.

    Lưu Ý: Quy tắc của trang tôi, tài khoản ảo, tài khoản khóa trang, tài khoản đi quảng cáo, tài khoản không có bài viết, không có hình ảnh người thật, tôi sẽ không trả lời.

    Vì nói chuyện với người không có mặt mũi họ không biết điểm dừng, nói dây dưa làm phiền độc giả khác, nên tôi sẽ chặn luôn. Nếu họ làm tài khoản khác, thì vẫn lâu hơn tôi chặn.

    Các hình minh họa phía dưới, để tránh nói dùng A.I nên tôi chụp màn hình các báo lớn, cũng như có nguồn, nên hơi khó coi, mong các Bạn thông cảm!

    Để hiểu tại sao Huế “đỡ” hơn Phú Yên, chúng ta phải so sánh hai yếu tố cốt tử: Lưu Vực (Nguồn nước về) và Dung Tích (Nơi chứa nước). Nói một cách hình tượng, đó là sự khác biệt giữa “Cái Thau” và “Cái Ca”.
    Với dung tích toàn bộ lên tới 646 triệu m³, Tả Trạch sở hữu một dung tích phòng lũ (Cái Thau Rỗng) cực lớn! Vào mùa lũ, nó luôn để dành một khoảng trống khổng lồ để sẵn sàng “nuốt trọn” những trận mưa lớn nhất từ thượng nguồn đổ về nhánh Tả Trạch.
    Hồ Tả Trạch: “Vị Tướng Quân” Hùng Mạnh Nhất (Cứu Tinh Của Sông Hương):
    Đây là công trình quan trọng số 1, là “Ông Trùm” trong việc bảo vệ TP. Huế.
    Hồ Chứa Bé Nhỏ: Hồ Sông Ba Hạ (chốt chặn cuối cùng ở Phú Yên) có dung tích quá nhỏ so với lượng nước khổng lồ từ Tây Nguyên. Nó giống như lấy cái Ca uống nước ra hứng vòi cứu hỏa. Nước về cái là đầy tràn ngay lập tức, buộc phải xả lũ cấp tập ồ ạt.

    Nguyễn Khoa Diệu Huyền (VH-LVC) chuyển

  • Thơ và nhạc Ừ THÌ EM LÀ GÁI HUẾ

    Ừ thì em là con gái Huế!
    Tóc mướt dài, áo trắng mộng mơ
    Nắng sông Hương vẳng vẳng câu hò
    Chiều Tịnh Tâm đi về qua lối cũ.


    Ừ thì em là con gái Huế!
    “Dạ thưa”, em nói mãi thôi
    “Mô, tê, răng, rứa” vụng dại lời
    Đừng có nhìn mà em lúng túng.


    Ừ thì em vốn là gái Huế!
    Huế không thương, em phải tha hương
    Vạn dặm theo chồng lòng vấn vương
    Em vẫn nhớ Hoàng thành quê cũ!


    Ừ thì em là người gốc Huế!
    Dù đi mô em cũng nhớ quê nhà
    Nhớ An Cựu, nhớ chợ Đông Ba
    Nhớ Tết đến sương mờ giăng Thành Nội.


    Ừ thì em là người xa Huế!
    Chiều ba mươi lòng lại bồi hồi
    Nhớ ngày ba mạ còn trên đời
    Mồng một tết được đi chùa Thiên Mụ!


    Ừ thôi, đừng nhớ nhiều nữa nhé!
    Nay mai sẽ trở lại quê nhà
    Gốc Huế xưa thơm ngát hương hoa
    Làm vốn sống cho tháng ngày xa xứ!


    Huyền Tôn Nữ Huệ-Tâm
    Ngày giáp Tết Bính Thân nhớ nhà xưa cảm tác
    28/1/2016

    Thơ: HUYỀN TÔN NỮ HUỆ TÂM

    Nhạc: MỘC THIÊNG

    Ca sĩ tự do: AI

    ChatGPT – Chương trình Suno

    Mời nghe bài hát:

  • Thơ: Người đi

    Bành Phi Lân (SĐ-HTK)

    Thân tặng những người bạn đã rất nhiều năm xa xứ . . .

    Người đi từ giã mái trường
    Bỏ dòng sông nhỏ, con đường ngày xưa
    Biển đêm trăng sáng vô bờ
    Bập bềnh sóng vỗ đón chờ nắng mai

    Tách cà phê, ngắm mưa bay
    Giảng đường năm ấy nghe đầy bão dông
    Xuân hè rồi đến thu đông
    Mấy mùa thay đổi lạ lùng quê hương!

    Bước đi chân có ngập ngừng
    Ngậm ngùi đi ở mà vương khói chiều
    Xứ người bóng nhỏ liêu xiêu
    Rộn ràng phố thị, đêm nhiều trở trăn

    Ngày về còn đó vầng trăng
    Vẫn con đường nhỏ nắng vàng lung linh
    Rặng tre, bến nước, mái đình
    Năm mươi năm vẫn đậm tình trước sau!

    BPL, 28/11/25.

    Mời xem thêm hình ảnh theo đường link:

    https://www.facebook.com/share/p/1CgTWW8qiY/?mibextid=wwXIfr

  • Hành trình gian nan săn chim quý hiếm trên đỉnh Fansipan


    Bùi Văn Hải

    24/11/2025 08:53 GMT+7

    Vườn Quốc gia Hoàng Liên là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nằm ở độ cao 1.000 – 3.000 mét, trong đó có đỉnh Fansipan cao nhất Đông Dương 3.143 mét. Trong vườn quốc gia có hệ động, thực vật phong phú, đa dạng với nhiều loài quý hiếm như bách xanh, thiết sam, đỗ quyên, vượn đen tuyền hay cheo cheo. Đây cũng là nơi sinh sống của hơn 300 loài chim.

    Hệ động thực vật ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên nói chung, đỉnh Fansipan nói riêng, rất đa dạng, phong phú và độc đáo nhất Việt Nam, trong đó có nhiều loài chỉ còn tìm thấy ở Hoàng Liên mà không có ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.

    Trên tuyến đường leo lên đỉnh Fansipan, không khó để có thể nhìn thấy loài chim nhỏ bé với chiếc mào cong nổi bật tên là khướu mào họng đốm (Yuhina gularis). Loài này sống ở độ cao khoảng 1.500m trở lên
    ẢNH: LÊ HÙNG

    Các nhà khoa học chia Vườn Quốc gia Hoàng Liên thành 3 loại rừng: Rừng xanh trên vùng bán sơn địa, Rừng lá rụng trên núi nhiệt đới và Rừng xanh thấp lùn trên cao.

    Theo sự phân loại này, Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm ở ngã ba của ba quần xã sinh vật, có sự hòa trộn phức tạp của hệ thực vật khu vực núi cao vùng Đông Nam Á, không giống bất kỳ khu vực nào trên thế giới.

    Tại đây, thống kê được 2.024 loài thực vật thuộc 171 chi nằm trong 200 họ, chiếm 25% các loài thực vật đặc hữu của Việt Nam; 66 loài thú; 61 loài bò sát; 553 loài côn trùng; 347 loài chim.

    Khướu mỏ cong – một trong số những loại chim ít được nhìn thấy trên đỉnh Fansipan
    ẢNH: LÊ HÙNG
    Khướu mỏ cong – một trong số những loại chim ít được nhìn thấy trên đỉnh Fansipan
    ẢNH: LÊ HÙNG

    Có thể nói, Vườn Quốc gia Hoàng Liên là kho tàng gene quý hiếm và là Trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất của Việt Nam, trong số 701 loài đặc hữu của Bắc bộ thì có 22 loài tìm thấy ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên.

    Đặc biệt có 9 họ và 1 chi chỉ tìm thấy ở Hoàng Liên. Nhiều loài động thực vật ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên thuộc loài đặc biệt quý hiếm đã được ghi vào Sách đỏ Việt Nam.

    Thời gian gần đây, tùy vào điều kiện thời tiết thuật lợi, theo Ban quản lý Vườn quốc gia Hoàng Liên, nhiều loài chim quý hiếm đã xuất hiện trên từng tầng độ cao khác nhau. Trong đó, một số loài thường được bắt gặp sinh sống chủ yếu ở độ cao 3.143 mét và khoảng 2.800 mét.

    Khướu lùn đuôi hung (Actinodura strigula). Loài khướu cũng là loài chim nổi bật và đặc trưng của khu vực vùng núi cao
    ẢNH: LÊ HÙNG

    Ban quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên cũng cho biết không phải lúc nào cũng có thể bắt gặp chúng xuất hiện, mà phải dành rất nhiều thời gian nằm trong các túp lều nhỏ tệp với màu cỏ cây mới có thể “săn” được những dáng vẻ đẹp lộng lẫy của chúng. Nhiều loài chim có tiếng hót rất hay như các loài khướu, họa mi, đớp ruồi…, bộ lông của chim rất nhiều màu sắc khác nhau, đôi khi màu lông con trống khác con mái, có những loài đẹp đến mê hồn.

    Khám phá đời sống các loại chim lạ, quý hiếm từ lâu đã là ao ước của nhiều người yêu chim cũng như giới nhiếp ảnh gia. Chính vì thế, gần đây Ban quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã tạo nhiều điều kiện để mọi người có đủ điều kiện sức khỏe có thể leo núi và ngủ lại tại các láng trại của đội kiểm lâm để chụp ảnh.

    Ảnh trên là loài khướu vằn (Trochalopteron subunicolor) với lông vũ được xếp tạo thành lớp vảy đẹp mắt.
    Ảnh trên là loài khướu vằn (Trochalopteron subunicolor) với lông vũ được xếp tạo thành lớp vảy đẹp mắt.
    Ảnh dưới là khướu cánh đỏ (Trochalopteron formosum) là loài khướu rất hiếm gặp do loài này bị con người tìm kiếm và săn bắt làm cảnh
    ẢNH: LÊ HÙNG
    Ảnh dưới là khướu cánh đỏ (Trochalopteron formosum) là loài khướu rất hiếm gặp do loài này bị con người tìm kiếm và săn bắt làm cảnh
    ẢNH: LÊ HÙNG

    Theo nhiếp ảnh gia Lê Hùng – người vừa thực hiện chuyến leo núi săn ảnh 10 loài chim quý hiếm trên đỉnh Fansipan, cung đường thuận lợi nhất là đi tuyến cáp treo lên tới đỉnh Fansipan, rồi từ đó men theo lối mòn để đi ngược xuống núi, tới độ cao khoảng 2.800 là điểm thường thấy các loài chim xuất hiện nhất. “Là một người chuyên săn ảnh chim, màu sắc và cách sinh sống của các loài chim núi rừng Hoàng Liên luôn mê hoặc người chụp. Với lượng máy, ống lens các tiêu cự khác nhau rất nặng, nên chúng ta cần phải thuê một người khuân vác (porter), phần vì để giảm bớt rủi ro trơn trượt khi leo núi và phần để bảo vệ được máy móc an toàn cho việc chụp”, anh Hùng nói thêm.

    Cũng theo anh Lê Hùng, tùy vào mùa mà các loài chim sẽ di cư đến sinh sống ở những độ cao khác nhau. Nếu đi vào mùa đông thì phải dựng lều trại ở khu vực có độ cao khoảng 1.800 đến 2.200 mét, còn nếu rơi vào mùa thu phải dựng trại ngủ đêm và trekking ngược lên núi săn ảnh chim trong độ cao từ 2.800 đến 3.100 mét…

    “Khi màn đêm buông, nhiệt độ xuống khá thấp, rét buốt tê cả tay chân nhưng nếu đợi đến sáng hôm sau gặp phải thời tiết quang đãng, chụp được hết các loại chim quý thì những cái lạnh, cái mệt này không là gì cả. Còn nếu đợi 2 ngày vẫn không thấy chim xuất hiện thì chúng tôi buộc phải leo ngược lên đỉnh để đi cáp treo trở lại dưới đất. Một chuyến đi săn ảnh chim coi như thất bại”, anh Hùng cho biết thêm.

    Chích đuôi cụt bụng vàng (Cettia castaneocoronata) là loài chim rất bé. Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong vùng sinh thái trên dãy Hoàng Liên Sơn – là phần kéo dài của miền núi với Tây Vân Nam (Trung Quốc) – Hymalaya, tiếp giáp với dãy Trường Sơn. Vườn Quốc gia Hoàng Liên là nơi có hệ động thực vật đa dạng và phong phú với rất nhiều loại quý hiếm, nhiều loại có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới, trong đó có nhiều loại đặc hữu mang tên Sa Pa

    ẢNH: LÊ HÙNG

    Đây là hình ảnh của chú chim hút mật, có thể là loài hút mật bụng vàng (Aethopyga gouldiae) – một loại chim rất hiếm khi thấy được vào mùa lạnh nhất trong năm trên dãy Hoàng Liên Sơn
    ẢNH: LÊ HÙNG
    Khướu mỏ dẹt họng đen ( tên khoa học: Suthora nipalensis)
    ẢNH: LÊ HÙNG
    Ảnh trên: Khướu đá cánh vằn thường sinh sống trong những khu rừng rậm và tre nứa ở độ cao 2.450 – 2.900 mét.
    Ảnh trên: Khướu đá cánh vằn thường sinh sống trong những khu rừng rậm và tre nứa ở độ cao 2.450 – 2.900 mét.
    Ảnh dưới: Khướu mặt đen (Garrulax yersini). Đây là loài chim đặc hữu của Việt Nam thuộc họ khướu có kích thước trung bình khoảng 25cm
    ẢNH: LÊ HÙNG
    Một loài Khướu mặt đen (Trochalopteron affine) thường thấy với bộ lông màu nâu, đầu có hoa văn đen trắng nổi bật, cánh và đuôi có màu vàng ánh kim. Chúng được tìm thấy ở khu vực đông Himalaya, từ phía đông Nepal đến Arunachal Pradesh ở Ấn Độ, Bhutan, đông nam Tây Tạng. Loài chim này thường sống ở độ cao 2.500 – 3.000 mét trên dày núi Fansipan
    ẢNH: LÊ HÙNG

    Nguồn: https://thanhnien.vn/hanh-trinh-gian-nan-san-chim-quy-hiem-tren-dinh-fansipan-185251118115306147.htm?utm_source=likr&utm_medium=web_notification&utm_content=web_notification00&avivid_manual=6

  • Người Thầy Cũ: Thầy LÊ XUÂN  CÔNG – Giáo Sư Trưởng Khu Giải Phẩu và Cơ Thể Học Đại Học Y Khoa Huế.

    Trần Tiễn Ngạc

    Thầy Lê Xuân Công

    Sáng hôm nay như thường lệ, khi công việc nhẹ đi, khoảnh khắc rảnh rỗi, tôi đứng nhìn ra khung cửa kính, hàng cây mận trồng dọc ven hồ đang trổ bông trắng xoá, vài con vịt bơi lội nhởn nhơ, rẽ làn nước đi tìm thức ăn. Ánh nắng lấp lánh cùng bầu trời xanh phản chiếu trên mặt hồ báo hiệu mùa Xuân đang về. Trên mặt bàn, những tạp chí nằm chờ đọc, phần lớn được gởi từ các đại học quanh vùng, mục đích giới thiệu những công trình khảo cứu đặc biệt hay những nhân vật xuất sắc mong thu hút bịnh nhân đến tham khảo.

    Trang đầu của tạp chí Đại hoc Y khoa Stanford có tấm hình một cô gái Á châu, trang nghiêm, nụ cười hiền hoà. Thật tình mà nói, trong con người, tự ái dân tộc khi nào cũng cao.  Đọc  tạp  chí  trong  ngành,  thấy  bóng người Á châu, cứ mong đó là người Việt, rồi nếu tác giả có họ Trần, Lê, Nguyễn, Phạm… thì lòng thầm sung sướng. Lần nầy, một niềm vui quá lớn vì đã nhìn ra đây là Lê Quỳnh Thư, con gái thứ của Thầy Lê Xuân Công.

    Quỳnh Thư sinh ra ở Huế, thời kỳ tiểu học và mấy năm đầu trung học nổi trôi theo vận nước, từ Huế vào Sài Gòn, vượt biển sang Ý mãi cho đến 1981 gia đình mới định cư ở San Jose. Sau khi tốt nghiệp trung học, Quỳnh Thư đã được chọn vào trường đại học nổi tiếng Caltech (một M.I.T. của miền Tây). Trong thời gian theo học ở đây, cô thường xuyên đi làm thiện nguyện ở South Africa, đặc biệt ở bịnh viện đại học Durban,  nơi  đây  chăm  sóc  rất  nhiều  người bịnh nghèo khổ, cảm nhận được nổi đau nầy, cô quyết định trở thành một bác sỹ y khoa. Tiếp theo Caltech, cô vào học y khoa ở UCSF (University of California, San Francisco), sau đó, làm nội trú và thường trú cũng tại bịnh viện đại học nầy về bộ môn Ung thư xạ trị (radiation oncology). Năm 1997 Quỳnh Thư gia nhập ban giảng huấn đại học Stanford. Bốn năm sau, vào mùa Thu năm 2011 cô được tước vị giáo sư và trưởng khoa bộ môn Xạ trị ung thư. Như thế, cô con gái của đất thần kinh đã trở thành người phụ nữ đầu tiên đứng đầu bộ môn nầy, và đây là một bộ môn có lịch sử lâu dài nhất và tiến bộ nhất trong tất cả các trung tâm tương tự trên toàn nước Mỹ.

    Lần đầu tiên gặp Quỳnh Thư, lúc đó cô bé mới lên 3 hay 4 tuổi, níu tay mẹ nhảy lên những bậc thềm cao của một ngôi nhà xinh xắn, nằm trên đường Nguyễn Huệ, ngay phía trước đồn Quân cụ, bẵng đi một thời gian dài, hơn mười mấy năm sau gặp lại ở khu Campbell, San Jose, hai anh em đi bộ từ chung cư nầy đến chung cư khác tìm phòng để thuê. Từ đó lại như những nhánh sông chia xa, người đi học, kẻ đi hành vật lộn trong đời sống mới. Nay qua tạp chí trên mới thấy được cái lý lịch xuất sắc của Quỳnh Thư, một niềm hãnh diện cho người Việt xa quê hương nói chung và cho những người sinh ra từ xứ Huế nói riêng.

    Sự thành công của cô trên một bình diện nào đó là từ sức mạnh trí tuệ cá nhân, nhưng không thể nào phủ nhận phần công sức cha mẹ đã dìu dắt, hướng dẫn và khuyến khích, vả lại yếu tố di truyền cũng có dự phần vào đây. Họ đã là những nhà giáo dục có tiếng ở Huế. Mẹ, cô Thanh Tâm dạy trường trung học Nguyễn tri Phương, ba là giáo sư trưởng khoa Giải phẩu và Cơ thể học đại học Y Khoa, một vị Thầy quí mến. Từ những năm trước Mậu Thân, thành phố Huế đã nghe tiếng Thầy, khi đó Thầy còn làm ở khu giải phẩu quân y viện Nguyễn tri Phương, đồng thời là thành viên trong Hội đồng giám định y khoa. Tính cương trực và thẳng thắn, Thầy chán ngán những trò lừa dối trong lúc phân loại thương bịnh binh để được giải ngũ. Những đụng chạm tất nhiên phải xẩy ra, vì thế, Thầy quyết định từ bỏ quân y viện, dự thi tuyển vào làm giảng nghiệm viên Đại học Y khoa. Đã từng là cựu nội trú các bịnh viện Saigon nên Thầy dể dàng được thâu nhận vào ban giảng huấn năm 1969.

    Ngày nay khi đã được tiếp cận với một nền y tế đứng hàng đầu thế giới mới thấy được những ngày cũ, nơi quê nhà mọi việc thật là đơn giản, nhưng chính trong cái thiếu thốn đó mới thấy tài nghệ của người thầy thuốc giỏi. Khi không có những thử nghiệm cận lâm sàng tiến bộ, đôi tay và trí óc mới là điều quan trọng. Thầy chỉ định một lối làm việc cẩn thận cho tất cả mọi người. Nội trú và sinh viên phải khám bịnh rất kỹ, y lệnh xét nghiệm chừng mực nhưng cần thiết, nhân viên chuẩn bị tiền phẩu hết sức chu đáo, trong cuộc mổ phải theo đúng trình tự quy định và giải quyết tận cùng nguyên nhân, theo dõi, chăm sóc hậu phẩu chặt chẽ, cuối cùng, số bịnh nhân ra viện với kết quả tốt rất lớn. Trong chừng mực nào đó, khoa ngoại 2 bịnh viện Huế, dưới sự hướng dẫn của Thầy đạt nhiều tiếng vang từ 1970-1975.

    Những năm tháng làm việc và phụ mổ với Thầy mới thấy thêm một khía cạnh khác, Thầy thương học trò. Vẻ bên ngoài nghiêm trang, ít khi có nụ cười nở rộng, nhưng Thầy thường xuyên dìu dắt và nâng đỡ họ. Chỉ khi có cas mổ thành công, người nội trú mới nhận được cái vỗ vai thân mật từ Thầy và một lời khen trước mặt các nhân viên và sinh viên thực tập.

    Thầy không ngại khó, nhớ chăng những ngày thành phố Huế bị pháo kích liên miên, có những đêm làm việc liên tục, tưởng chừng như không bao giờ hết bịnh, lúc nào cũng có Thầy đứng bên hỗ trợ, khuyến khích cũng như giải quyết những trường hợp khó cho đến khi xong việc.

    Năm 1973-1974 Thầy đi du học ở Úc về Giải phẩu tiết niệu. Sau tháng 4 năm 1975, gia đình Thầy ở lại, toàn miền Nam bị nhấn chìm trong biển đỏ mà những ngọn sóng chuyên chính vô sản, nghi ngờ, đố kỵ, kềm kẹp tự do đã đánh tan tác lòng người. Lao động là vinh quang đã đưa người thầy thuốc lên núi cao trồng sắn hoặc làm lao công cho những công trường Nam sông Hương hay sông Thạch Hãn. Tại trường Y khoa, bờ hồ bên nầy, thầy trò, làm sạch nuôi cá, thả rau muống; canh đất phía sau, cuốc xẻng cày bừa trồng lúa cải thiện đời sống. Ý nghĩa lao động đã được triển khai một cách sai lệch, việc làm chỉ có hình thức chứ không đạt được một tiêu chuẩn thực tế nào bởi vì người bác sỹ là một nhóm lao động được đào tạo chuyên biệt để khám bịnh, điều trị và chăm sóc bịnh nhân.

    Chính quyền mới tạo nhiều áp lực, ngoài việc học tập cải tạo lại còn xét việc biên chế, nên những ai xuất thân từ quân đội Việt Nam Cọng Hoà đều có phần ưu tư. Làm một con người chính trực thật khó sống trong giai đoạn nầy, vậy mà Thầy đã biểu lộ tư cách của một cá thể uy vũ bất năng khuất, coi nhẹ chuyện biên chế, rời trường đi vào Nam. Ngày đó, nước sông Hương vẫn hờ hững chảy dưới chân cầu Trường Tiền, nắng còn hanh trên con đường Lê Lợi, khu cơ thể học vẫn tấp nập sinh viên thực tập, nhưng khi nghe tin nầy tôi thấy lòng cô đơn, buồn bã vô cùng. Gia  đình  Thầy  vượt  biên  thành  công  năm 1979, khi đang còn lênh đênh trên Thái bình Dương  thì  được  một  thương  thuyền  của  Ý vớt và đưa về đó tạm cư. Tại đây mọi người đi hái cà chua đến hoa cả mắt, Thầy còn được mời  đi  đóng  phim  nữa.  Thời  gian  sót  lại, Thầy ôn lại bài vở và thi đậu văn bằng bác sỹ tương đương Hoa Kỳ (ECFMG) và đạt đủ tiêu chuẩn để có thể làm việc trên nước Ý.

    Hai năm sau, định cư tại Mỹ, Thầy hoàn tất chương trình nội trú và hành nghề trở lại. Lúc đầu,  mở phòng mạch tư ở Rancho Cordova, thủ phủ Sacramento, nhưng một lần nữa với tính cương trực và không chịu đựng được sự đòi hỏi đôi khi là quá đáng của bịnh nhân, Thầy quyết định đi làm việc cho bịnh viện tiểu bang cho đến khi về hưu. Duyên phận cõi trần mênh mông như trời cao lồng lộng, mắc xích nào đây mà nối lại với nhau. Tình thầy trò cũng như phận vợ chồng là những từ trường tự phát, bỗng dưng hút lại nhờ yếu tố “Duyên”, biết bao nhiêu con người trong cõi ta bà nầy mà tự dưng có hai cá thể riêng biệt kết lại làm thầy và trò.

    Những năm đại học, sau khi chọn một phân khoa, một ngành chuyên môn và nhất khi được làm nội trú là một cái duyên rất lớn. Thầy trò liên hệ mật thiết trong việc điều hành trại bịnh và trực gác, người nội trú học hỏi được rất nhiều, từ đó mới thấy kiến thức chuyên môn của Thầy rất rộng. Những trường hợp khó, hiếm hay cá biệt đều được lưu trữ để làm tài liệu cho những luận án tiến sỹ về sau. Thầy tận tâm truyền lại kiến thức cho học trò, từ những buổi sáng đi khám bịnh, cái sai, cái đúng được bàn cãi thẳng thắn, cho đến những phiên trực cấp cứu, trong đó những quyết định nhanh chóng, chính xác đưa đến những can thiệp kịp thời cứu sống nhiều bịnh nhân đã là những kinh nghiệm quí báu làm hành trang cho học trò vào đời về sau.

    Rồi những lần gặp gỡ khác, tưởng không bao giờ có thể xẩy ra, vẫn cứ tới cho dù trong muôn một. Có ai tưởng tượng rằng nước mất nhà tan như chuyện 1975. Sau tháng 4 năm đó , nhân viên giảng huấn lần lượt trở về trường cũ. Cuối năm, trong vài ngày mưa lê thê của xứ Huế, phái đoàn bịnh viện Việt Đức, dẫn đầu bởi bác sỹ Tôn thất Tùng vào làm việc với trường Đại học Y khoa, tiền trạm của nền giáo dục miền Nam. Bác sỹ Tùng, ngôi sao Bắc đẩu của nền y tế miền Bắc, cha đẻ Phương pháp cắt gan có qui phạm, mái tóc bạc trắng, dáng dấp tựa như nhạc sỹ Phạm Duy, đi giày tây, mặc áo bỏ ngoài quần, giọng nói sang sảng. Ông rất muốn tìm biết về nền giáo dục miền Nam, cho nên đã đặt ra rất nhiều câu hỏi về giải phẫu và cơ thể học, dĩ nhiên bộ phận gan vẫn là ưu tiên một. Sự phân chia thùy gan được đề cập đến và khi nghe các anh em trẻ ở lại trình bày từ hệ thống cổ điển của giáo sư C. Couinaud cho đến cập nhật hoá phương thức phân chia mới do chuyện giun chui ống mật của chính ông, xuyên qua các tài liệu đã đọc những năm trước đó bằng tiếng Pháp, thì dễ dàng nhận ra cái ngỡ ngàng pha lẫn thiện cảm ông dành cho các thành viên trong bộ môn Giải phẫu Y khoa Huế. Ông đi thăm bịnh, chẩn đoán và cùng mổ, tuy nhiên rất tiếc, trong thời gian quá ngắn, không chuẩn bị trước, chỉ có một bịnh nhân nằm viện, tưởng là ung thư gan tiên phát nhưng khi giải phẩu lại là ung thư buồng trứng di căn lan rộng, nên không học được gì về lối cắt gan bằng các ngón tay như mong đợi.

    Nước mất, nhà tan, sau bốn năm chịu đựng để sống còn, một ngày, người học trò cũng lên tàu đi vượt biên, một sống, mười chết trên biển cả. Từ bàn tay trắng, trí tuệ đong đếm bằng những bài học cũ từ các thầy nơi Đại học Huế, kiếm việc làm để sống, vào các trung tâm học thi, chạy tìm chỗ nội trú, mấy năm sau mới bắt đầu trở lại nghề, để rồi một hôm nơi trại bịnh, tôi kinh ngạc khi thấy giáo sư Norman Shumway, người đầu tiên giải phẩu thay tim trên con người  thành  công,  lừng  lững  bước  vào.

    Làm việc nhiều nơi, tình cờ gặp nhiều bác sỹ giải phẩu nổi tiếng, so sánh lại, tha thiết nhớ quê nhà và càng quý mến Thầy mình hơn, nhớ vì bịnh viện mình ngày đó đơn sơ và thiếu thốn phương tiện. Quý vì cá tính đạo đức, không kiêu căng, lối giải phẩu từ tốn, thứ lớp, cẩn trọng. Quý hơn nữa, cách sống  chan  hòa  của  Thầy,  dung  hợp  với học trò cho dù trong trại bịnh hay ngoài sân tennis làm mọi người đều quý mến.

    Nổi nhớ chồng chất, dẫn dắt con người trở lại quê cũ, thường để tìm lại quá khứ vì phần lớn kỷ niệm khi nào cũng đẹp. Làm sao quên được căn nhà xưa, ngôi trường cũ, nấm mộ mẹ cha và đám bạn bè thời đi học. Bịnh viện Huế giờ thay đổi nhiều, những dãy lầu mới ngang dọc, được xây bởi tiền tài trợ của Pháp, Nhật, Đức… Phòng mổ cũ không dùng nữa, khi bước vào, những bồn rửa tay vẫn còn đó trơ trọi, tấm bảng đen phân công mổ đóng bên tường trống trơn, hết rồi những chữ viết chi chít của anh y tá trưởng, các phòng mổ lặng câm, một trang sách được khép lại.

    Sinh lão bịnh tử là lẻ tuần hoàn tạo hoá, thân thể Thầy bị suy mòn theo năm tháng nhưng trí tuệ còn minh mẫn, vẫn chất chứa hoài  bão  đóng  góp  phần  mình  cho  một nước Việt Nam tự do và nhân bản. Ngày rời Huế, Thầy đã mong có một ngày về, vì mấy ai rời mảnh đất nầy mà lại không luyến tiếc. Một thành phố hiền hoà có một dòng sông xanh rất đẹp. Không gian nhiều dấu ấn vương giả, thành quách, điện đài, lăng tẩm. Tinh thần tuy có hoài cổ, nhưng nếp sống đầy giáo dục. Tiếc thay chủ nghĩa xả hội đã lấy đi sự tự do, niềm hạnh phúc, tinh thần độc lập của người dân để rồi ai ra đi cũng ngậm ngùi bỏ lại xứ Huế đằng sau. Cám ơn số phận cho con được gặp Thầy, được đi cùng Thầy một đoạn đường khá xa. Bắt đầu quãng đời thanh xuân yên bình, vui vẻ ở khoa ngoại 2, phòng khám bịnh trên đường  Huỳnh  thúc  Kháng,  khu  Cơ  thể  học Đại học Y  khoa, qua mấy năm đau buồn ủ dột sau 75 cho đến những ngày lang thang từ New Jersey qua New York đi tìm tương lai. Thầy đã vượt qua mọi khó khăn tạo dựng lại cơ nghiệp.

    Cầu mong Thầy Cô thân tâm an lạc, tiếp tục cuộc sống hạnh phúc, trải dài hơn mấy mươi năm, từ thuở ban đầu trên bãi biển Nha Trang cho đến thành phố Freemont hôm nay. Đây là lúc Thầy nghỉ ngơi, vui với sự thành công của con cái. Chắc chắn những môn sinh mà Thầy đã ra công dạy dỗ sẽ tiếp tục đem cái học chính thống đó chuyển lại cho thế hệ kế tiếp góp phần làm xã hội nầy tốt đẹp hơn.

    Trần Tiễn Ngạc

    Trích đặc san Kỷ niệm  10 năm thành  lập website ykhoahuehaingoai.com

    Nguồn:

    Nhấp để truy cập 16.NguoiThayCuThayLXCong_TTNgac.pdf

  • BẢY NHÀ TOÁN HỌC VĨ ĐẠI NHẤT THẾ KỶ XX

    Diễn đàn Toán học Việt Nam

    Thế kỷ XX là thời đại mà Toán học không còn là vùng đất trừu tượng của vài bộ óc lập dị, mà trở thành nền tảng cho vật lý lượng tử, thống kê, tối ưu hóa, mật mã học, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo và sau này là dữ liệu lớn. Đây là thời đại của những cuộc cách mạng tri thức – nơi một định lý mới có thể làm thay đổi triết học, công nghệ và cách con người hiểu về chính tư duy của mình. Vì vậy, để chọn ra bảy nhà toán học vĩ đại nhất thế kỷ XX, chúng ta cần một bộ tiêu chí rõ ràng. Thứ nhất là ảnh hưởng học thuật lâu dài: tư tưởng của họ phải sống trong giáo trình, bài giảng và được sử dụng ở nhiều lĩnh vực. Thứ hai là đóng góp nền tảng hoặc mang tính cách mạng – một nhà toán học vĩ đại không chỉ giải bài toán khó, mà đặt lại câu hỏi cho cả nhân loại. Thứ ba là ảnh hưởng liên ngành, từ vật lý đến kinh tế, từ mật mã đến công nghệ số. Tiêu chí thứ tư là sức sống thế kỷ XXI: lý thuyết của họ còn được dùng hay không? Và cuối cùng là ảnh hưởng đến cộng đồng và học trò, bởi nhiều thiên tài đã thay đổi thế giới thông qua những con người họ đào tạo. Dựa trên những tiêu chí ấy, bảy tên tuổi dưới đây không chỉ đại diện cho trí tuệ, mà còn đại diện cho sự phi thường của con người trong hành trình chinh phục tri thức.

    BẢY NHÀ TOÁN HỌC VĨ ĐẠI NHẤT THẾ KỶ XX

    1. Kurt Gödel – Thiên tài cô độc nhìn thấy giới hạn của chân lý

    Kurt Gödel được xem như người đã phá vỡ “giấc mơ toàn năng” của toán học. Năm 1931, với hai định lý bất toàn nổi tiếng, ông khẳng định rằng dù ta có cố gắng tiên đề hóa đến đâu, luôn sẽ có những chân lý toán học không thể chứng minh bằng chính hệ thống đó. Câu phát biểu của ông – “Không một hệ tiên đề nào có thể chứa toàn bộ sự thật” – khiến Toán học lần đầu đối diện với chính giới hạn của mình. Ngoài thiên tài, Gödel còn có cuộc đời đầy bi kịch và ám ảnh. Tại Princeton, ông và Einstein trở thành đôi bạn tri kỷ, ngày nào cũng đi dạo cùng nhau, thảo luận về thời gian và bản chất của thực tại. Einstein nói: “Tôi đến viện chỉ để có thể trò chuyện với Gödel.” Nhưng thiên tài ấy lại sợ bị đầu độc, chỉ ăn thức ăn vợ nấu. Khi vợ ông ốm nặng, Gödel ngừng ăn và qua đời trong suy kiệt. Tư tưởng của ông lan vào Việt Nam qua giáo trình logic, triết học toán và khoa học máy tính – nơi sinh viên vẫn phải đối diện với câu hỏi mà ông để lại: liệu Toán học có hiểu nổi chính nó?

    2. John von Neumann – Bộ não đi trước thời đại nửa thế kỷ

    John von Neumann là người mà giới khoa học gọi là “bộ não xuất sắc nhất thế kỷ XX”. Ông đọc một trang sách trong vài giây và nhớ toàn bộ nội dung; chỉ bằng cái nhìn thoáng qua, ông có thể sửa lỗi trong chứng minh của người khác. Nhưng điều khiến ông vĩ đại không chỉ là trí nhớ tuyệt đối, mà là khả năng nhìn thấy tương lai. Von Neumann đặt nền móng cho kiến trúc máy tính mà cả thế giới ngày nay sử dụng; xây dựng lý thuyết trò chơi, nền tảng của kinh tế học hiện đại; khai sinh mô phỏng Monte Carlo – công cụ của khoa học dữ liệu; và định hình toán học của cơ học lượng tử. Trong đời sống, ông hài hước, thích tiệc tùng, nói chuyện duyên dáng, lái xe nhanh và sống như một quý ông châu Âu. Ông từng nói: “Nếu bạn không thể giải quyết vấn đề, hãy biến nó thành vấn đề khác.” Ở Việt Nam, tư tưởng tối ưu hóa và mô hình hóa – đặc biệt trong công trình của GS Hoàng Tụy – chịu ảnh hưởng gián tiếp từ con đường do von Neumann mở ra.

    3. Alexander Grothendieck – Thiên tài ẩn dật xây lại hình học đại số từ gốc

    Nếu có một người làm cả thế giới toán học phải học lại từ đầu, đó là Alexander Grothendieck. Từ tuổi thơ lang bạt do chiến tranh, ông lớn lên trong nghèo khó rồi trở thành biểu tượng của hình học đại số hiện đại. Grothendieck không chỉ tìm lời giải, ông tạo ra ngôn ngữ mới: lược đồ, topos, đồng điều học – những khái niệm thay đổi cách con người hiểu về cấu trúc không gian. Ông từng nói: “Ta không phá cửa bằng búa, ta mở một cánh cửa rộng hơn bên cạnh.” Nhưng thiên tài ấy rời bỏ toán học khi đang ở đỉnh cao, lui về sống ẩn dật trong rừng gần 20 năm, từ chối mọi giải thưởng. Với Việt Nam, ảnh hưởng của ông đến qua GS Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán đầu tiên của Việt Nam, học trò xuất sắc của ông. Bà mang tinh thần đại số – hình học tiên tiến về nước, tạo thành nền móng cho nhiều thế hệ trẻ sau này.

    4. Andrey Kolmogorov – Người biến ngẫu nhiên thành khoa học đúng nghĩa

    Trước Kolmogorov, xác suất là nghệ thuật phỏng đoán. Sau Kolmogorov, xác suất trở thành ngành toán học nghiêm ngặt nhờ hệ tiên đề năm 1933. Chính ông biến sự ngẫu nhiên thành một đối tượng có thể nghiên cứu bằng toán học. Nhưng ít ai biết rằng Kolmogorov còn là nhà giáo dục tận tâm: ông viết sách cho học sinh, xây dựng chương trình chuyên toán, và tin rằng trẻ em có thể hiểu những khái niệm sâu sắc hơn chúng ta tưởng. Ông nói: “Vẻ đẹp của toán học nằm trong trật tự ẩn sau hỗn loạn.” Ở Việt Nam, mọi giáo trình xác suất – thống kê đều bắt nguồn từ tư tưởng của ông, đặc biệt qua thế hệ du học Liên Xô như GS Nguyễn Cảnh Toàn, GS Phan Đức Chính, GS Nguyễn Minh Châu.

    5. David Hilbert – Người vạch đường cho toán học của cả thế kỷ

    David Hilbert là người có khả năng nhìn xa đến mức ông thiết kế cả tương lai của Toán học. Năm 1900, tại Paris, ông công bố danh sách 23 bài toán nổi tiếng, trở thành kim chỉ nam cho các nhà toán học thế kỷ XX. Ông là linh hồn của trường Göttingen – trung tâm toán học hùng mạnh nhất thời đó, nơi xuất hiện Weyl, Courant và đặc biệt là Emmy Noether. Hilbert từng nói câu trở thành danh ngôn khoa học: “Chúng ta phải biết. Chúng ta sẽ biết.” Tinh thần tiên đề hóa và hệ thống hóa của Hilbert chính là cột xương sống của nhiều giáo trình đại số, giải tích và hình học hiện nay – trong đó có các giáo trình đang được sử dụng tại Việt Nam.

    6. Alan Turing – Người mở cánh cửa cho trí tuệ nhân tạo

    Alan Turing là biểu tượng của trí tuệ, lòng dũng cảm và cả sự bi kịch. Ông phát minh ra máy Turing – nền tảng của mọi máy tính hiện đại, đặt nền móng cho khoa học tính toán và đặt câu hỏi mà cả thế giới đang theo đuổi: “Máy móc có thể nghĩ được không?” Trong Thế chiến II, Turing giải mã Enigma, rút ngắn chiến tranh và cứu hàng triệu người, nhưng chiến công bị giữ bí mật hàng chục năm. Sau chiến tranh, vì giới tính, ông bị nhà nước Anh cưỡng ép điều trị hormone. Năm 41 tuổi, Turing qua đời trong cô đơn. Nhưng di sản của ông thì không bao giờ mất. Từ các thuật toán mà sinh viên Việt Nam đang học, đến AI và ChatGPT ngày nay – tất cả đều đứng trên vai ông.

    7. Emmy Noether – Người phụ nữ thay đổi nền đại số và vật lý hiện đại

    Nếu có ai được gọi là “người mẹ của đại số hiện đại”, thì đó là Emmy Noether. Bà xây dựng đại số trừu tượng với khái niệm vành, môđun, đối xứng – những cấu trúc nền tảng của toán học thế kỷ XX. Trong vật lý, “định lý Noether” là một trong những phát hiện vĩ đại nhất: mỗi định luật bảo toàn đều xuất phát từ một đối xứng của tự nhiên – nền tảng của cơ học lượng tử và thuyết trường. Einstein từng nói: “Noether là thiên tài toán học sáng tạo nhất từng sống.” Dù vậy, bà phải giảng dạy dưới tên người khác vì sự phân biệt giới tính thời đó. Nhưng học trò của bà – Weyl, Artin, Van der Waerden – trở thành trụ cột của toán học thế kỷ XX, chứng minh sức mạnh vô biên của tư duy Noether.

    Bảy thiên tài, bảy số phận rất khác nhau: có người ra đi trong cô độc vì những ám ảnh nội tâm khó gọi tên, có người phải đối mặt với những định kiến khắc nghiệt của thời đại mình; có người chọn rời xa ánh đèn học thuật để sống ẩn dật, có người rực rỡ giữa hội trường, bục giảng và những buổi trò chuyện bất tận. Nhưng dù con đường mỗi người đi qua nhiều khúc quanh đến đâu, những tư tưởng mà họ để lại vẫn lặng lẽ chảy trong từng dòng giáo trình, từng đoạn mã lệnh, từng bài giảng Toán hôm nay. Và biết đâu, giữa một lớp học nhỏ ở Việt Nam, có một bạn trẻ đang đọc những câu chuyện này, chợt nhận ra rằng tình yêu Toán học cũng có thể dẫn ta đến những chân trời rất xa – và âm thầm nuôi trong mình một ước mơ lớn hơn cho tương lai.

    Tháng 11/2025.

    Nguồn: FB Diễn đàn Toán học Việt Nam