Sáu mươi năm so chiều dài lịch sử của đất nước thì chưa nhiều, nhưng so với một đời người xem như đã gần trọn ( 60 năm cuộc đời ! ). Đặc biệt nhất là khoảng thời gian Năm Mươi Năm sau biến động lớn của lịch sử, đã để lại trong lòng những người đi qua nó bao nỗi nhớ không phai.
Sáu mươi năm! Nhớ sao hết các thế hệ học sinh trưởng thành ra trường, bao thế hệ thầy cô giáo đã dừng chân nơi đây, đã từng một thời gắn bó với những học trò thân thương, đưa các em sang sông rồi tiếp tục chống con đò của đời mình ra đi đến những bờ bến khác …! Tôi là một trong số những người đưa đò của những năm tháng ấy, ngắn ngủi thôi, hai năm, từ 1974 đến 1976, khi trường Bắc Bình hôm nay còn là trường trung học gồm cả đệ nhất cấp và đệ nhị cấp mang tên Phan Lý Chàm – Bình Thuận.
Thời gian từ bấy đến nay quả thật quá dài, các sự kiện đã quên nhiều, còn chăng là cảm xúc trong tôi về những năm tháng ấy vẫn còn vẹn nguyên mỗi khi nhớ về…
NĂM HỌC 1974-1975:
Từ trường Đại Học Sư Phạm Huế (chế độ Sài Gòn ), chúng tôi là các sinh viên nhiều bộ môn, vừa tốt nghiệp ngành Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp ( giáo viên cấp 3 bây giờ) chọn nhiệm sở về Ty Giáo Dục Bình Thuận, sau đó chọn về các trường trung học trong tỉnh từ đầu năm học 1974 – 1975 như trường Phan Bội Châu, trường Hòa Đa, trường Tuy Phong, Hải Ninh, ….
Về trường Phan Lý Chàm có tôi ( Phan Hữu Phước (ban Lý Hóa) và Thầy Nguyễn Đôn Đường ( ban Sử Địa). Ngoài ra còn có một số giáo sư trung học đệ nhất cấp cũng về các trường.
Thầy Hiệu trưởng Lư Văn Hiệu vào đón chúng tôi ở Ty Giáo Dục Bình Thuận. Đường từ Phan Thiết về Phan Lý Chàm khoảng 70 km ngược quốc lộ I ra phía bắc, hai bên có nhiều đồn bót, kẽm gai giăng đầy, ruộng đồng quanh đó bỏ hoang, bằng chứng của chiến tranh đang hiện diện khá khốc liệt ở đây, tuy nhiên, là thế hệ thanh niên lớn lên trong khói lửa, hình ảnh đó cũng không có gì lạ với chúng tôi.
Xuống xe ở Ngã Ba Sông Mao, đi vào trong xóm người Chăm, ra gần đồng lúa là đến Trường Phan Lý Chàm. Trường không lớn, có 4 dãy phòng học và nội trú cho cả cấp 2 và cấp 3. Một hội trường nằm ngay chính giữa, có hai dãy phòng quay lưng lại với sân trường tạo cảm giác hơi bức bối. Ngoài thầy cô ở địa phương như Thầy Thông Trọng, Thầy Đặng Tịnh, Cô Thanh, Thầy Kim Ngọc Thành, Thầy Bố Xuân Hổ, Thầy Lâm Quang Tọa,… còn có nhiều thầy cô từ Sài Gòn, Đà Lạt, Phan Thiết , Huế… về dạy. Tôi chỉ còn nhớ một số tên Thầy Cô như Cô Đào, Cô Bạch, Cô Nguyệt, Cô Hương Quế, Cô Nết, Thầy Hùng (Toán), Thầy Quí, Thầy Lâm ( Sinh), Thầy Đường,…Theo Thầy Hiệu trưởng thì năm học 1974- 1975 là năm mà giáo viên của trường đầy đủ nhất, mạnh nhất, không phải thỉnh giảng giáo viên từ trường Hòa Đa lên dạy nữa, vì vậy mà Thầy rất vui. Học sinh trong trường gồm người Chăm, người Nùng và người Kinh học tập hòa thuận bên nhau. Các em ngoan hiền và khá chăm chỉ.
Bao quanh trường là xóm người Chăm, ở đây không có các hoạt động vui chơi như nơi khác, muốn giải trí phải ra khu vực người Kinh, nhưng bù lại người Chăm sống rất đoàn kết, tình cảm, chân thành. Chúng tôi đã có những ngày tháng vui vẻ, chan hòa với bà con nơi đây. Tôi, Thầy Đường và vài thầy khác thường đến nhà Thầy Hiệu, Thầy Thành, Thầy Tọa chơi, riêng tôi còn học thêm tiếng Chăm, được một Cô giáo xinh đẹp người Chăm giúp đỡ, nhờ vậy học rất nhanh! Xin cảm ơn.
Là những giáo viên mới ra trường từ xa đến, được đồng nghiệp và học sinh quí mến nên dù xa quê, chúng tôi vẫn rất vui, đem hết những hiểu biết, cộng hưởng với tình yêu thương chân thành, chúng tôi tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức đến các em. Quí hóa thay, những học sinh ngày ấy ít nhiều đều thành đạt và dù hơn 50 năm trôi qua nhiều em vẫn giữ được tình cảm thầy trò mặn nồng như ngày nào.
Từ tháng 3 năm 1975: Tin tức các tỉnh cao nguyên và miền trung làm mọi người băn khoăn, lo sợ. Sang đầu tháng 4, Nha Trang rồi Phan Rang thất thủ, nhiều thầy cô đã rời trường về quê. Nhận thấy đường bộ về Phan Thiết không an toàn, tôi xuống Phan Rí Cửa lên tàu biển vào Phan Thiết.
Ngày 19/4/1975 : giải phóng xong Phan Thiết, các thầy cô lần lượt đến trình diện chính quyền mới. Sau ngày 30/4, chúng tôi được gọi đi học chính trị rồi về lại trường cũ để tiếp tục và kết thúc năm học 1974-1975, chuẩn bị cho năm học mới. Ty giáo dục Bình Thuận phân công tôi làm Trưởng ban điều hành trường.
Trường cũ sau vài tháng nghỉ học trở nên hoang vắng, ngổn ngang. Bàn ghế, dụng cụ văn phòng bị các nhà dân và cơ quan mới ở xung quanh mang về sử dụng, giáo viên có người trở lại, có người đi luôn, học sinh cũng vậy. Sau nhiều lần thông báo triệu tập, học sinh đã trở lại khoảng hai phần ba, một số em nghỉ học do thay đổi cuộc sống, một số em theo cha mẹ về quê. Bản thân tôi và các thầy cô trở lại đã làm việc hết mình, không nề hà nặng nhẹ. Chúng tôi khiêng vác bàn ghế, sơn kẻ khẩu hiệu, tổ chức cho các em ôn tập, kiểm tra, kết thúc năm học.
NĂM HỌC 1975 – 1976:
Năm ấy trường không nghỉ hè, bởi sau khi kết thúc năm học, tất cả giáo viên vào Phan Thiết học chính trị và nghiệp vụ. Rất nhiều chuyên đề tôi không còn nhớ lắm như: “ Nền văn hóa nô dịch , phản động và đồi trụy của Mỹ Ngụy”; “Ba cuộc cách mạng: CM Khoa học kỹ thuật; CM quan hệ sản suất; CM văn hóa tư tưởng”, trong đó CMKHKT là then chốt; “ Các hình thức sở hữu: sở hữu tập thể, sở hữu toàn dân”;…Về nghiệp vụ được học: cách xác định mục đích yêu cầu của bài giảng, các bước lên lớp, các nội dung mới về các môn xã hội như văn, sử, địa. Các môn tự nhiên cũng có thay đổi nhưng ít hơn. Thật ra chúng tôi cũng mới nghe lần đầu nên chưa hiểu lắm vào lúc đó, tuy nhiên năm học mới vẫn tiến hành theo những điều vừa được trang bị.
Đây là năm học đầu tiên sau 1975, rất nhiều cái mới, rất nhiều khẩu hiệu được lên trưng lên : “Vì lợi ích mười năm trồng cây – Vì sự nghiệp trăm năm trồng người” , “ Học đi đôi với hành – Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất – Nhà trường gắn liến với xã hội”…..
Thời gian này, nhà trường hoạt động trong điều kiện rất khó khăn. Ty Giáo dục Bình Thuận chỉ cấp cho trường một số giấy tờ văn phòng phẩm, vở và giấy kẻ ngang cho giáo viên….Rất nhiều việc cần chi tiêu nhưng không có kinh phí, phải ra ngoài UB huyện Phan Lý Chàm nhờ giúp đỡ. Lương giáo viên vẫn chưa có, mỗi người chỉ được lĩnh một ít tiền tượng trưng, một ít gạo hay thực phẩm thay gạo để xoay xở trong tháng. Tuy vậy, mọi người đều rất cố gắng làm việc, ai cũng hăng say cống hiến, không hề tính toán.
Do trường chỉ có một Trưởng ban điều hành là tôi, không có các phó ban nên tôi ngoài công tác quản lý, lo đối nội đối ngoại, còn phải kiêm nhiệm công tác chuyên môn. Cũng may về công tác lao động có Thầy Nguyễn Đôn Đường nhiệt tình phụ trách cho. Tôi còn nhớ trên cái gò cao ở khoảng giữa hội trường và dãy 2 phòng học, Thầy Đường cho dựng 2 tấm bảng ghi các nội dung: “Lao động là vinh quang” và “Bàn tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”, để khuyến khích, động viên tinh thần lao động của học sinh. Thầy muốn san cái gò đó thành một bãi đất để trồng rau nhưng… cái gò đó sao mà cứng quá, toàn đá sỏi lâu năm, rồi nghe các thầy cô người địa phương nói đó là gò thiêng nên cuối cùng đành …thôi. Bù lại, Thầy tổ chức học sinh làm lại con đường dẫn vào trường, làm cỏ quanh trường, làm vệ sinh tất cả các phòng học giúp quang cảnh trở nên sạch đẹp và khang trang hơn. Thầy còn cho học sinh trồng lúa ở hai thửa ruộng của trường sau dãy nhà nội trú cũ gọi là để có cái bỏ bụng về sau!
Cảm ơn người bạn thân “ cùng một lứa bên trời lận đận” ( – Cũng vẫn mày tau tới tận chừ!)
Nhớ lại lúc bấy giờ bản thân thầy cô và học sinh có rất nhiều tâm tư, trăn trở: Gia đình có người đi học tập cải tạo, công việc hoặc buôn bán không còn như xưa…nhưng do niềm vui hòa bình đang òa vỡ, choáng ngợp trong mỗi người dân Việt Nam sau bao năm chiến tranh, do tin tưởng vào một ngày rất gần tương lai đất nước đầy sán lạn, những người thân sau một khoảng thời gian ngắn học tập về chính trị để hiểu nhau hơn, xóa bỏ hận thù dân tộc, sẽ được trở về cùng toàn dân ta chung tay xây dựng lại đất nước phát triển nhanh chóng… nên mỗi người tự động viên mình và người thân, học trò của mình hãy cố lên làm việc, học tập.
Tôi ra vào Ty Giáo dục Bình Thuận ở Phan Thiết nhiều lần, hai bên đường những đồn bót, dây kẽm gai ngày xưa giờ không còn, đâu đó đồng lúa lên xanh, rải rác các xóm chợ nhỏ tự phát họp hai bên đường. Các mái trường cấp một, cấp hai tuy dấu vết bom đạn vẫn còn loang lổ trên tường vôi, mái lợp nhưng đã rộn rã tiếng cười trẻ thơ, thấp thoáng hình bóng thân yêu của học sinh vui vẻ đến trường,… lòng tôi cũng ánh lên những mừng vui và hy vọng qua những hình ảnh đổi thay, thanh bình ấy.
Trường thiếu thầy cô nhưng mọi người sẵn sàng dạy đủ số tiết mỗi môn, không để trống tiết. Bản thân tôi đi họp nhiều, thầy cô khác dạy thay bằng môn của mình, tôi về sẽ dạy bù, mỗi tuần có thể đến 30 tiết, gồm 3 môn Toán, Lý, Hóa. Lúc này không có chế độ giờ thừa nhưng các thầy cô không hề so đo hơn thiệt. Có thể ngày ấy phần soạn về mục đích yêu cầu bài giảng còn nhiều lúng túng, thậm chí bài giảng theo theo thiết kế mới còn vụng về nhưng không khí làm việc trong trường thì thật tuyệt vời, có lẽ khó tìm lại được những tháng ngày làm việc, cống hiến vô tư và hết mình như những ngày tháng đó!
Năm học sôi động, miệt mài, tin yêu cũng dần qua.( Suốt những năm tháng còn lại của đời dạy học, tôi không bao giờ tìm lại được cái không khí làm việc tuyệt đẹp như năm học ấy nữa. Không bao giờ!). Gần nghỉ hè có một số thầy cô từ ngoài Bắc vào chi viện, trong đó có thầy Nguyễn Văn Nhiễn, giáo viên chính trị, người mà chúng tôi lúc ấy rất khâm phục, thầy hiểu biết về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội rất rõ, có những điều khi học chính trị chưa rõ lắm, đem hỏi thì thầy trả lời thao thao bất tuyệt.
Sở Giáo dục Thuận Hải ( gồm hai ty giáo dục Ninh Thuận và Bình Thuận) đặt ở Phan Rang triệu tập tôi ra Sở để giao nhiệm vụ mới : Thành lập Trường Cấp 3 Vừa Học Vừa Làm Hàm Thuận. Thầy Nguyễn văn Nhiễn sẽ thay tôi điều hành trường Phan Lý Chàm từ năm học mới.
RA ĐI
Khi ra đi nếu biết là mãi mãi
Thêm một lần xin mãi mãi chia tay
( Lord Byron )
Gần cuối hè năm 1976, tôi chuẩn bị vào Hàm Thuận, mang một theo phong bì dán kín do ông Nguyễn Trung Hậu, Giám đốc Sở giáo dục Thuận Hải gửi cho Bí thư huyện Hàm Thuận ( ông Năm Nhẫn), một thư giới thiệu tôi về chuẩn bị thành lập trường vhvl Hàm Thuận, và còn có một thư tay viết cho riêng tôi của một người tôi không quen, ký tên là Nguyễn Tạo (?) Trưởng phòng Tổ chức Sở giáo dục Thuận Hải, với lời lẽ rất cảm động, thân thiết, động viên tôi, như một người anh dặn dò em mình trước lúc lên đường nhận công việc khó khăn mới!
Một sự tình cờ làm ngày đi của tôi phải chậm lại một ngày. Hè năm đó, thời tiết quanh khu vực trường có những biến đổi bất thường. Trước hè, một cơn lốc lớn vào ban đêm cuốn bay cả phần mái trên của hội trường ra ngoài ruộng hơn cả trăm mét, vương vãi nhiều nơi, Thầy Đường phải huy động học trò thu nhặt mang về phân loại để có kế hoạch tận dụng lại. Rồi trước ngày tôi đi, mưa tầm tả, đến chiều tối thì hai đám ruộng của trường ở phía sau vừa mới chín bị ngập hoàn toàn trong nước. Thầy cô địa phương cho biết cần phải thu hoạch ngay nếu không thì lúa bị nước ngâm lâu sẽ hỏng hỏng. Thật khó vì học sinh đang nghỉ hè, nhưng còn nước còn tát, các thầy cô ở gần trường đi thông báo, huy động một số học sinh đến gặt lúa giúp. Cũng đã đưa ra phương án nếu không được phải nghĩ đến chuyện thuê người. Ai ngờ, sáng hôm sau, tuyệt vời làm sao, khoảng hai chục em học sinh xuất hiện trước cổng trường, mang theo dụng cụ để gặt lúa! Nhân lực được chia thành hai tốp, một tốp chủ lực sẽ gặt, bó lúa, tốp thứ hai gồm học sinh và một số giáo viên ôm lúa mang lên dựng quanh hành lang các lớp học cho mau ráo nước! Lẽ ra phải lên đường đi Hàm Thuận nhưng cứu lúa cũng nóng như cứu lửa, tôi ở lại cùng đồng nghiệp và học sinh cũ ! ( Ngậm ngùi làm sao khi phải gọi như vậy!)
Ôi, bì bõm trong nước lạnh ngập thắt lưng trên nền ruộng lổm chổm cuống rạ, tay ôm từng bó lúa lần đầu tiên trong đời sát vào người, đã tạo nên trong tôi một cảm giác vừa lạ lẫm, vừa thân thương khó tả đối với một người chỉ quen sống ở thành thị! Làm sao tôi có thể quên?!
Quá trưa thì công việc hoàn thành. Tôi tranh thủ phơi quần áo ướt, ăn cơm, nghỉ mệt và chuẩn bị lên đường. Khoảng 4 giờ chiều, tôi mang hành lý chuẩn bị ra quốc lộ để đón xe vào Phan Thiết thì thấy lao xao phía cổng, một tốp học sinh chạy vào giữ hành lý, níu tôi lại, trách tôi sao đi mà không cho các em biết (có lẽ buổi sáng khi gặt lúa một vài giáo viên hỏi tôi về chuyện ra đi nên một số em nghe được), tôi nói do yêu cầu công tác và không muốn bịn rịn thêm. Các em không chịu, đề nghị tôi ở lại thêm một đêm để thầy trò tâm sự từ biệt, một số em còn sụt sùi khóc, tôi đành phải chấp nhận.
Trời vừa tối, các em gánh vào trường một gánh lỉnh kỉnh như bán hàng rong, đó là gánh cháo vịt! Đêm hôm đó, tôi và một vài bạn giáo viên, cùng với một số học sinh mà đã quá lâu tôi không còn nhớ chính xác: Kim ngọc Nhân, Ngô văn Hưng (Dĩ), Võ duy Quang ( Võ Đen), Đào văn Trung, Nguyễn Lạnh,Thái Thanh, Nồng Trinh, Linh, Loan Tao (con ông Tao), Loan Việt Nam (nhà may Việt Nam), Loan Mỹ Trang ( nhà may Mỹ Trang), Lê thị Hiếu, Cao thị Tuyết Lâm,…gần như thức trắng đêm (còn nhiều em nữa mà lâu quá tôi không nhớ hết). Thầy trò ôn lại chuyện vui buồn trên lớp, dặn dò cố gắng học tập, rồi tôi đệm đàn cho các em hát các bài ca tranh đấu của phong trào sinh viên học sinh miền Nam mà tôi đã dạy các em, hát các bài ca cách mạng vừa mới biết… Một đêm sinh hoạt đầy niềm vui, nỗi buồn, lòng cảm động, tình yêu thương gắn bó chan hòa khiến bước chân tôi khi ra đi sáng hôm sau thêm trĩu nặng. Xin tri ân tình nghĩa thầy trò những tháng ngày gian nan !
Quyến luyến mấy rồi cũng đến giờ chia tay. Các em đến mang hành lý cho tôi ra ngã ba Sông Mao, đón xe khách bịn rịn tay nắm chặt tay tiễn tôi lên đường!
Tuy lòng lưu luyến nhưng tôi không buồn vì trước mắt còn phải nghĩ suy bao nhiêu việc làm mới, đến một vùng đất mới, xây dựng trường học mới, tiếp đón thầy cô mới, thu nhận học sinh mới… Tôi vẫn cảm thấy thú vị pha chút khinh bạc của tuổi trẻ, những khó khăn đều coi là chuyện nhỏ, niềm tin yêu vào cuộc sống tươi đẹp sau chiến tranh vẫn lấp lánh mạnh mẽ trong lòng tôi. Tôi vui vẻ mạnh dạn ra đi để thành lập trường cấp 3 vừa học vừa làm Hàm Thuận mà hành trang chỉ một tấm lòng đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, một lý tưởng trong veo như tuổi học trò! Ôi đẹp làm sao!
Thời gian trôi qua, trường cũ của tôi sau đó đổi tên thành Trường Trung Học Phổ Thông Bắc Bình và dời ra thị trấn Chợ Lầu. Tôi có ghé trường mới vài lần theo đoàn công tác của Sở Giáo dục Bình Thuận (trong dịp Thanh tra, coi thi,…). Đồng nghiệp ngày xưa không còn ai, một vài học sinh cũ giờ thành giáo viên của trường. Cũng những tiếng chào thầy rất đổi thân thương trìu mến gợi nhớ tháng ngày xưa cũ ấy, nhưng tôi vẫn chạnh lòng bởi cảm thấy mình trở nên lạc lõng trong lao xao tiếng nói cười của số đông thầy cô mới và những khuôn mặt lạ hoắc của học sinh. Cảm giác ấy thoáng qua thôi rồi nhường chỗ cho niềm vui mừng khi thấy trường ngày càng xanh hơn, lớn hơn, đẹp hơn sau mỗi lần trở lại!
CHỈ CÒN LÀ KỶ NIỆM!
Mỗi chúng ta khi lớn lên, đi vào thực tế cuộc sống, những mơ ước và hy vọng rất đẹp đầu đời có thể thay đổi, thậm chí trở thành cay đắng ! Với tôi cũng vậy, nhưng, những kỷ niệm về một mái trường nơi mình mới chập chững vào nghề và đặc biệt là những tháng ngày đã đem sức trẻ của tuổi thanh xuân, cháy hết mình với lý tưởng mình cho là cao đẹp, vẫn mãi là ngọn lửa sưởi ấm trái tim suốt cả cuộc đời.
P/S: Những nhân vật trong bài viết đều là người thật, việc thật nhưng do thời gian qua đã lâu và bài viết quá vội, không kịp tìm lại tư liệu nên có thể họ, tên người bị nhầm hoặc bị sót. Mong được thông cảm và tha lỗi.
Bài viết cũ, đăng lại để thân tặng quý đồng nghiệp và các em học sinh cũ của tôi nhân 20/11.
Lê Thí (SĐ-HTK)
THẦY NÀO TRÒ NẤY!
Nguyễn Duy Hiệu có tên chữ là Hữu Thành, quê ở làng Thanh Hà, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, nay là phường Cẩm Hà, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh năm Đinh Mùi, Thiệu Trị thứ 7 (1847), là năm mà hai tàu chiến của Pháp Gloire và Victorieuse, do Trung tá Rigault De Genoully chỉ huy bắn phá vào cửa Hàn, báo động một thời kì đen tối của lịch sử quê ông.
Năm 1876, ông thi đỗ Cử nhân, ba năm sau, trong khoa thi Hội năm Kỉ Mão (1879) đỗ Phó bảng. Năm 1882, được vua Tự Đức bổ làm Giảng tập ở Dưỡng Thiện Đường để dạy cho hoàng tử Ưng Đăng, người sau này lên ngôi là vua Kiến Phúc. Được cử đảm nhận việc dạy cho hoàng tử là một vinh dự lớn, thể hiện sự đánh giá cao của nhà vua không những về học vấn mà còn về nhân cách.
Năm 1885, ông từ quan. Triều đình ban cho ông tước Hồng Lô tự khanh, vì vậy người đương thời thường gọi ông là Hường Hiệu hoặc Hường Thanh Hà.
Lúc nhỏ Nguyễn Duy Hiệu theo học với cụ Cử nhân Lê Tấn Toán (1) những bài học vỡ lòng không những về kiến thức mà cả về tiết tháo, đạo đức của một kẻ sĩ, về lòng yêu nước thương dân. Còn cụ cử Toán đã gửi cả hoài bão lớn lao không thành của mình vào cậu học trò nhỏ, thông minh tuấn tú, giàu lòng yêu nước và hết sức nghĩa khí là Nguyễn Duy Hiệu. Tình thầy trò vì thế đã trở thành tri kỉ.
Sau khi vua Tự Đức mất (1883) triều đình trở nên rối ren với cảnh:
Nhứt giang lưỡng quốc nan phân Thuyết,
Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường.
(Một dòng sông mà hai nước khó mà nói chuyện//Bốn tháng ba vua là điều không rõ ràng)
Lấy cớ phải phụng dưỡng mẹ già trên 80 tuổi, Nguyễn Duy Hiệu xin về trí sĩ, dù lúc đó chỉ mới 36 tuổi.
Năm 1886, khi phong trào Cần Vương của Quảng Nam (thường gọi là Nghĩa Hội Quảng Nam) gặp khó khăn, Trần Văn Dư (1832-1885), thủ lĩnh của phong trào bị sát hại, Nguyễn Duy Hiệu được tôn làm Hội chủ, tiếp tục lãnh đạo công cuộc kháng Pháp. Phong trào từ đó trở nên rất mạnh, ông xây dựng cả một triều đình, lãnh thổ kéo dài từ Quảng Nam cho đến Bình Định. Triều đình Huế và thực dân Pháp tìm mọi cách để lôi kéo ông về hàng và tiêu diệt phong trào.
Tuần vũ Quảng Nam lúc bấy giờ là Châu Đình Kế bèn tổ chức một bữa tiệc rượu và cho mời cụ cử Toán đến với mưu đồ ép buộc thầy viết thư gọi học trò ra hàng (vào thời đó, học trò không nghe lời thầy, để thầy bị vạ lây sẽ bị mang tiếng là bất nghĩa). Giữa tiệc rượu sau khi hết lời ca ngợi tài đức của cụ cử, Châu Đình kế nói khích: “Thiên hạ khen thầy là người đức độ. Triều đình mong thầy, đào luyện học trò thành tài để giúp nước. Ngờ đâu thầy lại có một đứa học trò như Hường Hiệu, thật là thằng giặc”. Đang cầm chén rượu trên tay, không dằn được nộ khí, cụ Cử Toán liền đứng dậy ném chén rượu xuống nền nhà và mắng vào mặt Châu Đình Kế: “Thời thế này biết ai là giặc, ai là vua. Quan Tuần nên cẩn thận lời nói”. Mắng xong cụ đùng đùng bỏ về. Châu Đình Kế bị một phen mất mặt.
Hành động nghĩa khí của người thầy khả kính đã làm cho học trò càng thêm quyết chí dốc lòng vì Nghĩa hội.
Cuối năm 1887, triều đình Đồng Khánh và thực dân Pháp quyết chí tiêu diệt phong trào nên dồn lực lượng để tiêu diệt phong trào. Quân triều và quân Pháp tấn công vào tận sào huyệt của nghĩa quân ở căn cứ Trung Lộc (Quế Sơn). Cả gia đình Nguyễn Duy Hiệu đều bị giặc bắt, Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến (2) phải chạy xuống vùng biển An Hòa (phía Đông Nam Tam Kỳ). Sau khi tổ chức cho Phan Bá Phiến tự tử để giữ toàn bộ bí mật cho tổ chức. Nguyễn Duy Hiệu đã đem thân cho giặc bắt nhằm nhận hết trách nhiệm về mình tránh cho các đồng nhân khỏi bị tội.
Ngày rằm tháng Tám năm Đinh Hợi (1-10-1887), Nguyễn Duy Hiệu ra pháp trương đền nợ nước. Trước khi chết, ông có để lại hai bài thơ nổi tiếng, trong bài thứ hai có câu: “Hàn sơn kỷ đắc cô tùng cán/ Đại hạ yên năng nhất mộc chi/ Hảo bả đan tâm triều liệt thánh/ Trung thu minh nguyệt bạn ngô qui”. Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch: “Núi lạnh tùng côi xơ xác đứng/ Nhà to cột một khó ngăn ngừa/ Về chầu liệt thánh lòng son đấy/ Tháng tám trăng rằm sẵn nhịp đưa”. Pháp và Nam triều cho ngựa trạm đặc biệt hỏa tốc đưa thủ cấp của ông về Điện Bàn, quê ông, bêu lên nhằm răn đe dân chúng. Mảnh đất dùng để bêu đầu ông ngày ấy nay là khuôn viên trường THPT Nguyễn Duy Hiệu.
Trước đó, ngày 6-9-1887 (20-7 Đinh Hợi), thầy giáo Cử nhân Lê Tấn Toán bị bắt đưa về Tỉnh đường Quảng Nam và bị buộc tội làm quân sư cho “ngụy hội”, phải thọ hình “tam ban triều điển”, ông khảng khái nhận chén thuốc độc để giữ tròn nghĩa khí. Nghe tin thầy mất các học trò của thầy Lê Tấn Toán đã tụ tập trước tỉnh đường Quảng Nam, mua một tấm lụa phong kín thi thể của thầy, lấy khăn điều bịt đầu kết lại thành võng đưa thầy về quê ở làng Hà Lộc mai táng trọng thể.
Thầy giáo Lê Tấn Toán và học trò Nguyễn Duy Hiệu được người đời khen ngợi: “Thầy ra thầy, trò ra trò”, “Thầy nào trò nấy”.
(1)) Người làng Hà Lộc, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, nay là phường Điện Bàn Đông, thành phố Đà Nẵng. Ông đỗ Cử nhân năm 1861.
(2) Người làng Kỳ Lộc, huyện Hà Đông nay là xã Tam Tiến, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đỗ Cử nhân năm 1882, là cánh tay mặt của Nguyễn Duy Hiệu, phụ trách toàn bộ giấy tờ sổ sách của Nghĩa Hội.
(3, 4) Nguyễn Sinh Duy, Phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam, Nxb Đà Nẵng, năm 1998.
Cứ mỗi giờ nghỉ, bọn SV khoa Địa Lý năm 4(1974-75) lại ào ra giành nhau hành lang lầu của ĐH Văn Khoa. Từng 3, 4 bạn đàng này và đằng kia hành lang dài chừng 50 mét, sắp hàng rồi rảo bước đều đặn, mắt chăm chú nhìn những viên gạch bông 20×20 sáng bóng dưới chân mình trong im lặng… Họ tập bước cho thật đều chân để tính ra được “bước chân bình quân” của mình- một ứng dụng đo đạc địa hình không dùng thước hoặc máy trắc địa!
Tôi tập nhiều nơi và quen dần với bước chân dài 54cm (nhớ không quên)
Rồi mua la bàn của Mỹ ở nhà sách Văn Minh, cùng các bạn thực hành đo góc ngôi trường VK. Đo góc bao nhiêu độ Nam, rồi Bắc Đông Tây… ghi vào. Mỗi lần chuyển góc lại đều đặn đếm các bước chân từ đầu trường (đường Duy Tân cũ) đi dọc đường Lê Lợi đến điểm cuối ở đường Hoàng Hoa Thám, ghi chép nhân lên rồi trừ cọng dung sai.. Lại đo tiếp các trục kia, đối chiếu độ góc và chiều dài. Xong là vẽ ra theo tỷ lệ trên giấy A4,A3… Ngôi trường có hình chữ nhật, ấy mà tôi vẽ ra gần như hình bình hành và 4 góc nối lại thiếu mất một đoạn (thành 5 điểm toạ độ); đo vẽ lại lần 2 mới tạm đúng! (cứ nghe các anh sĩ quan pháo binh kể việc đo phương giác, toạ độ, tưởng đâu dễ ăn!)
Nhóm của bạn Minh Tâm thực hành đo chợ Đông Ba còn bị Cảnh Sát mời vô bót làm việc. Hi hi. Chắc họ tưởng đề lô GP đi ghi chép toạ độ?
Tôi không mấy ưa vị Giáo Sư này, chẳng qua tôi không có hoa tay nên đến các bài vẽ biểu đồ, bình đồ thường không đạt, ăn mãi các điểm C, thậm chí bị một lần điểm D phải thi lại! Vậy mà về sau chữ viết của tôi lại đẹp hơn (lúc ĐH thì viết nhanh, tốc ký nên chữ càng thêm xấu), vẽ hình tốt hơn nhứt là ứng dụng cho việc vẽ các bản vẽ xây dựng.
Thầy dạy môn Vẽ và Thực hành Địa lý (?) do Giáo Sư Nguyễn Đức Tiến giảng dạy. Thầy học ở nước ngoài về bổ sung việc giảng dạy trực quan, thực hành sống động trong Đại Học. Tiếc thay Thầy bỏ dạy sau 1976 vì không hạp gì đó?
Thật nhớ ơn Thầy! Cùng quý Thầy trong Ban Địa Lý ĐHSP & VK HUẾ.
Cũng nhờ vào các kiến thức Địa Lý mà tôi đã áp dụng hiệu quả với nghề thợ mộc thợ hồ và thường khoa trương lúc ghi lý lịch trích ngang: Nghề xây dựng công trình, rồi về già học thêm một nghề mới trong ngành Địa Lý…
Hoa thơm ngày Nhà Giáo
Chân thành nén tâm hương!
Quách Đào Vệ
Một Nhạc Sỹ tài hoa lại sang Anh học ngành Địa Lý- môn học khó!
Thầy Tiến không chỉ là nhạc sĩ Chung Quân tài hoa, mà còn là một bậc thầy chấm lá số tử vi, thầy vào sống cùng người em ruột ở vùng kinh tế mới Dầu Tiếng từ sau 75.
***
Nhạc sĩ Chung Quân:
Tên thật: Nguyễn Đức Tiến (1936-1988)
Nhạc sĩ Chung Quân (1936 – 1988) là tác giả ca khúc Làng tôi nổi tiếng.
Chung Quân tên thật là Nguyễn Đức Tiến, sinh năm 1936. Năm 1952, khi mới 16 tuổi, bản Làng tôi của ông đã giành được giải của công ty điện ảnh, tuồng cải lương Kim Chung ở Hà Nội để làm bản nhạc nền cho phim Kiếp hoa, một trong số ít những phim Việt Nam thực hiện trong thời kỳ này.
Năm 1954, Chung Quân cùng gia đình di cư vào Nam, định cư ở vùng Khánh Hội. Nhờ đã từng học sư phạm chuyên ngành về nhạc và danh tiếng của Làng tôi, Chung Quân được Bộ Quốc gia Giáo dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi. Thời gian giảng dạy ở trường Nguyễn Trãi, Chung Quân là thầy dạy nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng sau này như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Đức Huy, Nam Lộc… Cũng khoảng thời gian 1955 – 1956, ông có soạn bản hợp xướng Sông Bến Hải, theo một vài ý kiến thì đó là một trường ca có giá trị nghệ thuật, viết về cuộc di cư năm 1954, nhưng về sau không thấy phổ biến rộng rãi.
(Sai: Theo một vài bài viết của các học trò nhạc sĩ Chung Quân thì trước 1975, ông từng học tại New York, sau đó tốt nghiệp tiến sĩ văn chương tại Anh). Nhac si Chung Quan tot nghiep tien si nganh Su Dia tai My (New York). Ong ve nuoc nam 1973 va day tai Dai hoc Van Khoa Hue cho den 30/4/1975.Toi la SV cua ong. Sau năm 1975 ông ở lại Việt Nam và qua đời vào năm 1988.
Nhạc phẩm Làng tôi của Chung Quân trùng tên với hai ca khúc khác cũng rất nổi tiếng của Văn Cao và Hồ Bắc. Ngoài ra ông còn một vài sáng tác khác như Cô gái quê…
Nhạc sĩ Chung Quân nổi tiếng vì là tác giả bản nhạc ‘Làng Tôi’ đã trúng giải của công ty điện ảnh kiêm tuồng cải lương Kim Chung ở Hà Nội năm 1952 để làm bản nhạc nền cho cuốn phim có tiếng nói đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam; Đó là phim ‘Kiếp Hoa’.Khi thông báo tuyển nhạc được quảng bá, các nhạc sĩ ‘bậc thầy’ nổi tiếng thời đó đua nhau gửi những ‘đứa con tinh thần’ về công ty điện ảnh mong được trúng giải. ‘Cậu’ Nguyễn Đức Tiến – lúc đó mới 16 tuổi – cũng dự thi với bản Làng Tôi. Bản nhạc có lời như sau:
‘Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh Có sông sâu lờ lững vờn quanh Em xuôi về Nam
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau Bóng tre ru bên mấy hàng cau Đồng quê mơ màng
Nhưng than ôi Có một chiều thu, lá thu rơi Có một chiều thu, lá thu rơi Oâm súng nhìn quê, tôi thầm mơ bóng ngày về
Mơ trong bóng ngày về Quê tôi chìm chân trời mờ sương Quê tôi là bao nguồn yêu thương Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn Là bao vấn vương tâm hồn, người bốn phương’
Làng tôi – NS Chung Quân – CS Như Quỳnh:
Chung Quân Nguyễn Đức Tiến đã đánh bại các bậc đàn anh – lúc đó xuất sắc với nhiều sáng tác cho tân nhạc, và không phải là ít – với chỉ một bản nhạc có lẽ là đầu tay! Bản nhạc được chấm nhất vì có tiết điệu êm đềm, bình dị, đặc biệt là rất dễ hát, dễ thuộc, và khi hát lên là người nghe cảm thấy có một cái gì đó thiết tha, trìu mến (Tương tự như bản ‘Lòng Mẹ’ của cố nhạc sĩ Y Vân). Làng Tôi lập tức được công bố, thu thanh và làm nhạc nền cho phim Kiếp Hoa!
Vì là phim có tiếng nói đầu tiên kể từ năm 1937 khi ngành phim ảnh Việt Nam được khai sinh, Kiếp Hoa nổi tiếng khiến bản nhạc Làng Tôi và tác giả của nó cũng nổi tiếng theo, cả nước đều biết.
Hai năm sau, 1954, thanh niên Nguyễn Đức Tiến 18 tuổi, di cư vào Nam, gia đình định cư ở vùng Khánh Hội. Các trường Chu Văn An từ Hà Nội, Nguyễn Trãi ở Hải Phòng cũng lục tục di cư vào Nam.
Do danh tiếng của mình từ khi đoạt giải ở Hà Nội, cộng thêm các giấy tờ đã học sư phạm chuyên ngành về Nhạc, nhạc sĩ trẻ tuổi Chung Quân được Bộ Quốc Gia Giáo Dục của Đệ Nhất Cộng Hòa ưu đãi, cho dạy môn nhạc tại hai trường trung học Chu Văn An, và Nguyễn Trãi, ăn lương theo ngạch giáo sư trung học đệ nhất cấp, tương đối là cao. Trên thực tế, về bằng cấp giáo dục, thầy Tiến lúc đó chỉ mới có bằng trung học, học trường sư phạm theo ngạch hương sư. Tôi còn nhớ khoảng năm 1955-56, vào một hôm trời mưa như trút nước, tôi được đi xem một đại nhạc hội của các học sinh trường trung học Nguyễn Trãi tổ chức tại rạp Thanh Bình. Tiết mục đáng nhớ nhất là hợp xướng ‘Sông Bến Hải’ do nhạc sĩ Chung Quân, đồng thời là giáo sư âm nhạc, sáng tác và tập cho các học sinh của trường. Đây là một trường ca có giá trị nghệ thuật cao, nói về một dòng sông chia đôi đất nước, và tâm trạng phải bỏ ‘quê cha, đất tổ’ của người di cư năm 1954. Hợp xướng này nghe thật hay, và chắc chắn không dễ tập, nhất là với mấy cậu học trò có kiến thức âm nhạc rất ‘căn bản’! Mãi đến sau này, khi được học nhạc với thầy Nguyễn Đức Tiến ở Chu Văn An, tôi mới được biết một, hai ‘bí quyết’ đọc nhạc do thầy dậy cho các học trò.
Thật là điều đáng tiếc khi không hiểu vì sao, trường ca Sông Bến Hải sau này không thấy được phổ biến, và giới yêu nhạc chỉ biết nhạc sĩ Chung Quân qua bản Làng Tôi!
Thầy Tiến dáng dong dỏng cao, hay đeo kính mát gọng vàng, và có thể nói là đẹp trai. Các giáo sư thời ấy đi dạy ăn mặc rất sang trọng. Trời nắng chang chang đổ mồ hôi nhưng cụ hiệu trưởng Trần Văn Việt vẫn luôn luôn mặc com-lê trắng, đeo cravát. Các giáo sư và các vị giám thị – tuy không bằng cụ hiệu trưởng – cũng đeo cravát, mặc áo sơ mi dài tay cài nút măng-sét. Trông các thầy thật ‘oai’! Trong các giáo-sư, người ăn mặc đẹp nhất, sang nhất, và đúng mốt nhất vẫn là thầy Tiến. Đặc biệt, khi đi dạy ở Chu Văn An, người ta đã thấy thầy lượn xe Vespa rất sớm so với các giáo sư khác. Vì là giáo sư âm nhạc, thầy Tiến đã phải ‘biểu diễn dẫn giải’ (demo) bằng ca hát cho đám học trò non dại chúng tôi, nên nhờ vậy, chúng tôi đã nhiều lần được nghe thầy hát ‘nhạc sống’ thật … sống động! Mỗi khi thầy cất tiếng hát – chắc chắn to hơn khi thầy nói! – cả lớp chúng tôi đều lắng tai nghe và mong thầy hát thật lâu để chúng tôi được thưởng thức. Tôi còn nhớ rõ những lúc thầy trịnh trọng gõ thanh nĩa chuẩn âm (gọi là ‘Aâm thoa’) bằng kim loại trắng, trước khi say sưa đơn ca bài Hòn Vọng Phu:
‘Nơi phía nam giữa núi mờ Ai bế con mãi đứng chờ Như nước non xưa đến giờ Đường chiều mịt mù, Cát bay tỏa bước ngựa phi đường trường Nếp tàn y hùng cường Vẫn còn bay trong gió Bóng chàng xa, sắp dần qua’ (Lê Thương)
trước mặt đám học trò ngẩn người, yên lặng lắng nghe – không phải một, mà nguyên cả ba – bài hát đầy những hình ảnh lịch sử này. Không có nhạc đệm mà qua tiếng thầy hát, tôi có thể như hình dung ra các hình ảnh ngựa phi, qua sông vượt núi, và tiếng đao khiên loảng xoảng nơi chiến trường …
Cho đến giờ này tôi vẫn còn có thể lẩm bẩm được những nốt nhạc của một bài dân ca phổ thông của Ý Đại Lợi, cũng do thầy Chung Quân dạy:
‘Sòn sòn, đố đố si si Phà phà, lá lá son son Mì lá son son, phà phà Pha mi rề lá son’
Mê nghe, và hát tân nhạc, nhưng tôi rất dốt, và lười về nhạc lý. Nếu không nhờ thầy Tiến chỉ dậy, không biết bao giờ tôi mới biết được sự khác nhau, cũng như cách đánh nhịp 2/4 (“Một xuống, một lên!”), ¾ (“Một, hai, ba!” theo ba cạnh của tam giác có một góc vuông), và 4/4 (tức C: “Một, hai, ba, bốn!” theo hình số 8 có 4 góc nhọn). Vì nhạc lý là môn học khô khan, nhất là phần nhớ các bộ khóa đầu bản nhạc, và làm sao tìm ra giai âm chính của bản nhạc đó, thầy Tiến đã sáng chế ra một bài lục bát thật độc đáo và hữu dụng, vừa đủ và cho đúng 7 nốt nhạc! Đó là:
Có nghĩa là nếu thấy ở đầu bản nhạc có một dấu thăng, thì bài ấy có âm giai Sol là chính; Nếu có hai dấu thăng thì là âm giai Rê, v.v. Học trò của thầy hơn người một phần là nhờ những ‘bí quyết’ này.
Chung Quân Nguyễn Đức Tiến có lối tập hợp xướng rất công phu, một phần có lẽ vì thầy ngày trước có học nhạc ở Chủng viện nên đã được huấn luyện chuyên nghiệp về hòa âm, và hợp xướng. Tôi nhớ trong năm học Đệ Ngũ, chúng tôi được thầy tập cho hợp xướng bài ‘Hè Về’ của nhạc sĩ Hùng Lân để trình diễn trong buổi văn nghệ cuối niên học. Thầy tuyển được đâu 40 học sinh có giọng tốt từ trầm đến bổng để hát 4 bè. Thầy cũng tìm được ba giáo sư có giọng, hay giỏi đàn nhạc trong trường, để mỗi thầy làm trưởng một bè.
Bốn nhóm bè, lúc tập thì tập riêng, chỉ hát phần bè của mình mà không biết ba nhóm kia hát gì. Sau khi cả bốn nhóm đã nhuần nhuyễn, ‘Oâng bầu’ Chung Quân cho ráp lại bốn nhóm hát cùng một chỗ, và chung một lúc: Tất cả 40 học sinh trong đoàn hợp ca không thể nào nghĩ rằng tiếng hát bè ‘thỉnh-thoảng-xen-vào’ của mình lại có thể vừa hay, vừa ‘quan trọng’ được góp tiếng vào một ban hợp xướng bốn bè, nghe có vẻ nghệ thuật không khác gì các ban hợp xướng chuyên nghiệp của Sài Gòn Hoa Lệ.
Có mấy ai đi học miễn phí mà lại may mắn được đi nghe và được dạy các kỹ thuật của âm nhạc thuộc loại thính phòng, có tiêu chuẩn quốc tế như tụi tôi?
Thầy Tiến viết chữ trên bảng rất đẹp. Nhiều khi hết giờ của thầy, học trò chúng tôi không nỡ xóa đi lời các bản nhạc thầy đã viết trên bảng. Chưa kể thầy còn có tài ‘vung’ phấn trên bảng đen, chỉ với một nét, thầy đã tạo được cả năm dòng kẻ nhạc, và khóa Son cùng một lúc từ đầu bên kia bảng, sang bên này bảng, thẳng tắp, và đều đặn tưởng như có dùng thước hay máy vẽ! Có lần chúng tôi hỏi, thầy trả lời nho nhỏ như không có gì đáng để ý, “Làm nhiều thì quen tay; Vậy thôi!”
Tính thầy hòa nhã nhưng rất nghiêm. Chỉ nói nhỏ nhẹ khi thật cần thiết, mực thước và nghiêm. Học với thầy hai, ba năm mà chưa bao giờ tôi thấy thầy la mắng một đứa học trò nào, và ít khi thấy thầy cười thành tiếng. Tuy say sưa dạy nhạc nhưng hình như thầy không biết tên chúng tôi: Tôi chưa bao giờ thấy thầy có nhớ, và gọi tên bất cứ một học sinh nào – trừ khi có sổ điểm trước mặt! Có thể vì thày dạy quá nhiều lớp, hay trí nhớ của thầy đã đầy những dữ kiện khác cần, và đáng nhớ hơn. Giữa thầy và trò, chúng tôi vẫn cảm thấy có một bức tường ngăn cách nào đó!
Thế mà chúng tôi vẫn mến phục thầy dù rằng ở ban B (tức là Ban Toán), nhạc chỉ là môn học phụ, có hệ số điểm thấp nhất là 1, mỗi tuần chỉ học có một giờ (giống như Vẽ, Sử, Địa, Thể Dục, Hán, v.v.). Bù lại, khác với các giáo sư các môn khác, lớp của tôi được học thầy Tiến suốt 4 năm liền của Trung Học Đệ Nhất Cấp.
Một lần đọc báo của Sứ Quán Việt Nam ở Wellington, Tân Tây Lan, tôi thấy tin thầy Nguyễn Đức Tiến đã tốt nghiệp Tiến sĩ Văn chương ở Anh quốc, trong một chương trình học bổng, và đã được nhà trường giữ lại, mời làm giáo sư diễn giảng. Tôi ngồi suy nghĩ: Như vậy thầy Tiến đã phải đi học lại từ lớp Đệ Tam ở Sài Gòn; Và trước khi có thể trình luận án tiến sĩ, chắc chắn thầy cũng phải có ít nhất tương đương cao học văn chương Anh. Văn chương Anh đâu phải là môn dễ học cho một người Việt Nam, để lấy được văn bằng cao nhất như thế? Tưởng thầy chỉ có biệt tài về Nhạc, bây giờ mới biết thầy còn có nhiều khả năng khác ít người biết …
Ngoài ra, tôi cũng được nghe phong phanh, những mảnh tin tức có khi hơi mâu thuẫn nhau – và chưa phối kiểm được (có thể vì thầy chọn lối sống rất riêng tư) – về thầy Nguyễn Đức Tiến, như:
– ‘Trước năm 1975, tôi nghe nói thầy Tiến đang học Sử học ở New York!’
– ‘Tôi nghe ai nói ông Chung Quân được học bổng du học về ngành Khảo cổ ở Texas!’
– ‘Giáo sư/Tiến sĩ Nguyễn Đức Tiến từ Anh về lại Việt nam, ở cùng với mẹ già sau năm 1975; Nhà vẫn ở khu Khánh-Hội!’
– Theo một anh bạn – trước cũng là học sinh của thầy ở trường Nguyễn Trãi – thì thầy Tiến đã qua đời.
Gửi bản thảo bài viết này cho một số thân hữu, tôi đột nhiên nhận được thư trả lời qua Liên Mạng (Internet) của một anh bạn đàn anh, thân hồi còn du học ở Tân Tây Lan, từ bên Uùc gửi qua:
“Tôi có dạy học cùng với anh Tiến ở Đại Học Huế. Sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ ở ngoại quốc về, anh Tiến đã trở thành giáo sư Ban Văn Khoa ở đại học này từ năm 1971 đến 1976. Anh Tiến là một người thông thái, nhân hậu, trọng nguyên tắc, và có tư cách. Tôi đã nhiều lần cảm phục chứng kiến anh ấy can đảm công khai phê phán những sai trái, và lố bịch của các cán bộ cộng sản trong trường, nên đã bị cho bãi nhiệm khỏi ban giáo sư của Ban Văn khoa – Đại Học Huế.
Anh Tiến đã mất năm 1988 tại Sài Gòn sau khi bị đứt gân máu trên đầu – trong lúc đang đánh cờ tướng với người em rể – khiến anh bị mê man, và bất tỉnh (coma). Tôi có lại thăm anh trên giường bệnh trong bệnh viện, nhưng chỉ có nhà tôi đến đám táng của anh (vì lúc đó tôi đang vượt biên).”
Ngỡ ngàng, tôi chẳng biết làm gì, đâm ra thành ‘Giận cá, chém thớt’: Qua đời lúc (16 + (1988 – 1952) =) 52 tuổi thì không biết trong cáo phó, tang gia đã thông báo như thế nào: ‘Hưởng Dương’ hay ‘Hưởng Thọ’? Tôi viết bài này để ghi lại những kỷ niệm đẹp chúng tôi – đám học sinh ở trường trung học Chu Văn An những năm 1960 – 1962 ở Sài Gòn – đã được may mắn có chung với thầy:
Chung Quân Nguyễn Đức Tiến, một nhạc sĩ tài hoa, đa năng đồng thời một vị giáo sư yêu nghề, và tận tụy với học trò. Dù thế nào, làm sao quên đuợc thầy Chung Quân Nguyễn Đức Tiến, nhất là khi tình cờ nghe tiếng ai hát bài Làng Tôi trên xứ người. Bài hát ấy tính ra đã (2005 – 1952 =) 53 tuổi, hơn cả người đã sáng tạo ra nó
Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Có hai chi tiết khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra ở Việt Nam, không phải ở Mỹ, chuyện hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm. Đó là việc giáo viên đối xử công bằng, đồng đều với tất cả học sinh là điều rất khó, đến nỗi nếu giáo viên hứa với học sinh của mình như thế, thì chính thầy hay cô đó biết ngay là mình đang nói dối! Thứ hai là việc học sinh tặng quà đồng loạt cho giáo viên nhân một cơ hội nào đó, tưởng là đơn giản nhưng có khi lại khá tế nhị, gây bối rối cho học sinh nếu em nào đó không có điều kiện, chỉ có thể mang đến một món quà tầm thường, khiến cả lớp phải cười nhạo. Xử lý tình huống này tuỳ bản lĩnh và cái tâm của người thầy.
Kể từ khi được đăng tải trên tạp chí Home Life năm 1976, truyện trở nên nổi tiếng, được phổ biến rộng rãi, dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều người tin đây là một câu chuyện có thật, và hơn thế nữa, còn quả quyết nhân vật chính hiện nay là bác sĩ đang làm việc tại Trung tâm Ung thư của một bệnh viện thuộc tiểu bang Iowa.
Tác giả Elisabeth Silance Ballard (một nhà hoạt động xã hội, tác giả nhiều truyện ngắn) phải lên tiếng xác nhận truyện hoàn toàn hư cấu, không có cô giáo Thompson nào, cũng không có học sinh cá biệt Teddy nào cả, tuy bà có dựa vào vài chi tiết đời tư để sáng tác.
Người đọc khỏi cần bận tâm về chuyện hư thực đó vẫn thấy được vấn đề cốt lõi của công việc người thầy là lương tâm chức nghiệp và quan hệ thầy trò được tác giả nêu lên và giải quyết khá tinh tế. Không giải thích, không bình luận, rất ít lời, chỉ những sự kiện sắp xếp cạnh nhau, ngắt câu, ngắt đoạn bất ngờ, độc đáo, văn phong giản dị. Chừng đó đủ để tạo ra một câu chuyện thú vị, gợi nhiều suy nghĩ cho người đọc, nhất là những ai đang hoặc đã từng dạy học.
Cách đây nhiều năm rồi, có một câu chuyện về một cô giáo dạy tiểu học. Tên cô là Cô Thompson. Hôm đó là ngày đầu tiên của năm học. Khi cô đứng trước lớp 5 do cô phụ trách, cô đã nói với bọn trẻ điều dối trá. Cũng như hầu hết giáo viên khác, cô đưa mắt nhìn học trò và nói là cô sẽ yêu thương và đối xử công bằng với tất cả. Nhưng điều đó có lẽ sẽ khó thực hiện, bởi ngay ở hàng ghế đầu, cô thấy ngồi lù lù thằng bé Teddy Stoddard.
Cô Thompson đã biết đến thằng Teddy từ năm ngoái và đã nhận xét rằng nó chẳng chơi được với bọn trẻ khác, áo quần thì lôi thôi lếch thếch và có vẻ như lúc nào cũng cần phải tắm gội. Tóm lại, nó thật khó ưa.
Chuyện dẫn tới mức cô giáo cứ gặp bài của thằng nhỏ là sẵn sàng đánh dấu X thật đậm – với cây bút đỏ to – và ghi chữ F thật lớn trên đầu tờ giấy. (1)
Trong trường cô Thompson dạy, như các giáo viên khác, cô phải xem lại kết quả học tập những năm trước của học sinh và cô đã để hồ sơ của Teddy đến cuối cùng mới xem.
Tuy nhiên, khi cô xem đến hồ sơ của thằng nhỏ, cô đã rất mực ngạc nhiên.
Giáo viên lớp một phê, “Teddy là một học sinh sáng dạ và vui nhộn, làm việc gì cũng ngăn nắp, cư xử tốt… Em luôn mang đến niềm vui cho những người xung quanh…”
Giáo viên lớp hai nhận xét, “Teddy là một học sinh xuất sắc, bạn bè đều yêu mến, nhưng em đang gặp khó khăn vì mẹ em đang mắc bệnh hiểm nghèo, cuộc sống gia đình hẳn là vất vả lắm.”
Giáo viên lớp ba ghi, “Cái chết của mẹ đã gây chấn động mạnh lên Teddy. Em đã cố gắng hết sức nhưng người cha thiếu quan tâm, cuộc sống ở nhà sẽ ảnh hưởng đến em nếu tình hình không cải thiện.”
Giáo viên lớp bốn phàn nàn, “Teddy buông xuôi, và không thể hiện niềm hứng thú trong việc học hành. Em không có nhiều bạn bè và thường ngủ gật trong lớp.”
Đến lúc đó, cô Thompson đã hiểu được vấn đề và thấy xấu hổ về mình. Cô càng thấy ray rứt hơn khi học sinh tặng cô quà Giáng sinh, tất cả đều được gói giấy bóng loáng và cột dải ruy băng xinh xắn, chỉ trừ quà của Teddy.
Quà của thằng nhỏ được gói vụng về trong một tờ giấy nâu thô ráp, có lẽ lấy từ bọc giấy đựng đồ tạp nham nào đó. Cô Thompson thấy nhói đau khi mở gói quà của Teddy giữa những món quà khác. Một số đứa đã bật cười khi cô lấy ra một vòng đeo tay bằng đá thiếu mất vài hột và một lọ nước hoa chỉ còn một phần tư.
Nhưng cô đã làm cho những tiếng cười kia im bặt khi cô khen chiếc vòng đẹp, rồi đeo vào tay, và thoa một ít nước hoa lên cổ tay.
Và hôm đó Teddy Stoddard đã nấn ná ở lại trường một lát chỉ để nói, “Cô ơi, hôm nay cô thơm như mẹ em trước đây vậy.”
Bọn trẻ về hết, cô giáo khóc cả tiếng đồng hồ. Và cũng từ ngày đó, cô không chỉ dạy đọc, dạy viết, dạy làm toán, cô bắt đầu dạy dỗ bọn trẻ. Cô đặc biệt quan tâm đến Teddy.
Và do được cô theo sát, đầu óc thằng nhỏ như sinh động hẳn lên. Cô càng khích lệ thì nó càng đáp ứng nhanh. Đến cuối năm học, Teddy trở thành một trong những học sinh xuất sắc nhất lớp, và, tuy cô đã nói dối là sẽ yêu thương bọn trẻ như nhau, Teddy đã trở thành “học trò cưng“ của cô giáo.
Một năm sau, ở bục cửa nhà mình, cô thấy có tờ giấy nhỏ của Teddy, nói rằng cô là người thầy tuyệt với nhất nó từng gặp trong đời.
Sáu năm sau cô lại thấy một mảnh giấy khác của Teddy. Nó viết rằng nó đã học xong trung học, được xếp hạng ba trong lớp, và cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất.
Bốn năm nữa trôi qua, cô lại nhận một lá thư khác của Teddy, cậu nói rằng tuy có lúc gặp khó khăn bất ổn trong đời, cậu vẫn theo đuổi việc học và sắp tốt nghiệp thủ khoa đại học. Cậu đoan chắc rằng cô vẫn là người thầy tuyệt vời, mà cậu yêu quý nhất trong đời.
Rồi lại bốn năm nữa trôi qua, lại một bức thư nữa được gởi đến cô. Lần này cậu giải thích là sau khi đỗ cử nhân, cậu quyết định tiến xa hơn. Bức thư nói rằng cô vẫn cứ là người thầy tuyệt vời, được yêu quý nhất trong đời cậu. Nhưng giờ đây, tên của cậu đã dài hơn, tên cậu ký bây giờ ghi thế này: Theodore F. Stoddard, Bác sĩ Y khoa.
Thế nhưng, câu chuyện chưa dừng lại ở đây. Đến mùa xuân lại có một bức thư khác. Teddy kể là cậu đã gặp một cô gái và họ sắp kết hôn. Cậu nói là cha cậu đã mất mấy năm trước, cậu hỏi rằng liệu cô có thể đến dự đám cưới và ngồi vào vị trí vẫn thường dành cho mẹ chú rể không.
Tất nhiên cô Thompson nhận lời. Bạn thử đoán chuyện gì xảy ra. Cô đã đeo chiếc vòng tay khuyết mấy hạt đó. Và cô cũng đã xức thứ nước hoa cũ mà Teddy nhớ là mẹ cậu vẫn thường dùng trong dịp lễ Giáng sinh cuối cùng họ ở cùng nhau.
Hai cô trò ôm choàng lấy nhau, và Bác sĩ Stoddar thì thầm vào tai cô, “Thưa Cô, con cám ơn cô đã đặt niềm tin vào con. Cám ơn Cô rất nhiều vì cô đã làm cho con có cảm giác mình là quan trọng, chỉ cho con thấy rằng con có thể tạo ra điều khác biệt. ”Cô Thompson, mắt đẫm lệ, khẽ đáp: “Teddy, em nhầm hoàn toàn rồi. Em mới chính là người đã dạy cho cô rằng cô có thể làm nên điều khác biệt. Thực ra cô không biết dạy như thế nào cho đến khi cô gặp được em.”
—————————————————
Dấu X để đánh dấu chỗ sai trong bài làm, F là điểm kém.
Vào 11 giờ 04 phút trưa hôm qua (07/11/2025), kinh độ hoàng đạo Mặt trời là 225°, chiếu thẳng vào 16°19′ Bắc – chính thức mở ra tiết Lập Đông (立冬) – tiết khí đầu tiên trên danh nghĩa của mùa Đông. Từ thời khắc này, Bắc bán cầu bước vào giai đoạn “Đông tàng”, khi ánh dương suy yếu dần, nhiệt độ dần giảm xuống, thiên nhiên dần khép mình, tích tụ năng lượng cho một chu kỳ mới.
Theo cổ thư, Lập Đông là một trong “Tứ lập” (Lập Xuân – Lập Hạ – Lập Thu – Lập Đông), đánh dấu sự khởi đầu của ba tháng mùa Đông sắp đến. “Lập” nghĩa là “bắt đầu, dựng nên”, còn “Đông” mang nghĩa “trì”, tức sự co lại, cất giữ, chuẩn bị cho mùa nghỉ ngơi. Tổ tiên ta gọi đây là mùa của tàng dưỡng, bởi “Xuân sinh – Hạ trưởng – Thu liễm – Đông tàng”, vạn vật thuận theo đạo Trời, khép lại để hồi phục, lắng lại để sinh sôi.
Người xưa xem Lập Đông là tiết nghỉ của sinh khí, là lúc bếp lửa được nhóm lên, nồi hương được châm, trà nóng được rót, tượng trưng cho việc giữ dương khí trong nhà và trong thân thể. Theo Đông Y, đây là thời kỳ âm khí cực thịnh, dương khí suy vi, nên dưỡng dương, giữ ấm, ăn chín uống sôi và ngủ sớm là nguyên tắc vàng. Thực phẩm nên chọn loại ấm, béo, giàu năng lượng như thịt bò, cá hồi, gạo nếp, gừng, quế, mật ong… nhưng nhớ “ăn ít mà tinh”, vì chất lượng quan trọng hơn số lượng. Giữ ấm thân thể – ấm lòng – ấm nhà cửa, chính là giữ hạnh phúc mùa Đông.
Dưới góc độ khí hậu, Lập Đông là tiết nắng đầu tiên của mùa Đông, cũng là thời điểm bắt đầu chuyển mùa rõ rệt nhất trong năm ở Việt Nam, không khí lạnh sẽ bắt đầu hoạt động mạnh và thường xuyên từ cuối tiết. Năm nay, thời điểm Lập Đông trùng với giai đoạn bão số 13 (Kalmaegi) vừa tan, đợt mưa lũ kéo dài 23 ngày ở Trung Trung Bộ kết thúc, như một cánh cửa khép lại để mở ra một tiết trời khô ráo, trong lành hơn. Dù chưa có không khí lạnh mạnh ngay đầu tiết, nhưng dự kiến từ giữa cuối tháng 11, các đợt gió mùa Đông Bắc sẽ tăng cường, báo hiệu mùa lạnh thực sự sắp tới.
Vào thời Lập Đông, người xưa có tục “tạ Thu nghênh Đông”, bày mâm cúng trời đất, cảm tạ mùa màng, đốt trầm, uống rượu nếp, ăn bánh ú hoặc thịt vịt để “nạp khí”. Đây cũng là lúc nhà nông nghỉ tay, nhìn lại thành quả vụ mùa và chuẩn bị cho năm mới sắp đến. Cảnh sắc cũng sẽ dần đổi thay, lá ngả vàng, sương giăng dày, nắng nhạt, báo hiệu sự trầm lặng và an yên của thiên nhiên. Trên cánh đồng hay triền núi, khói lam chiều hòa cùng sương sớm, tiếng trâu bò, tiếng chày giã, tiếng trẻ con ríu rít như dệt nên bản hòa ca cuối năm, giản dị mà ấm áp.
Dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, ranh giới bốn mùa ngày nay đã trở nên mờ hơn. Mùa Đông đến muộn, rét ngắn nhưng gay gắt hơn, mưa trái mùa vẫn có thể xuất hiện. Dù khí hậu có đổi thay, vòng tuần hoàn của thiên nhiên sẽ vẫn kiên định tiếp diễn như nhịp thở của đất trời. Lập Đông không chỉ là sự khởi đầu của mùa lạnh, mà còn là khởi đầu của sự tĩnh lặng và tái sinh.
Mong rằng trong tiết Lập Đông 2025 này, bạn có thể chậm lại đôi chút, ấm lòng hơn một chút, sẵn sàng đón một mùa mới an lành, đầy ánh sáng và hy vọng phía trước nhé!
Theo Radio khí tượng
Ảnh: Những con đường Thành Nội nắng mênh mang đầu Đông | Nguyễn Đính 08/11/2025.
Tôi lướt mắt qua chồng sách mới mượn, nhẩm đọc tên từng cuốn.
“Đọc cuốn mỏng nhất vậy, mình có thể đọc xong cuốn “The Princess Bride” này trong một ngày. Còn dư thời gian để ngẫm nghĩ và chuẩn bị cho những ngày làm việc sắp tới.” Tôi lẩm nhẩm trong đầu. Tôi bị cuốn hút ngay từ lời dẫn truyện. Một kỷ niệm về một cô giáo thời tiểu học với những lời khích lệ chân tình đã theo cậu học trò bao nhiêu năm. Thời gian trôi và cậu học trò lơ đãng thuở bé đã trở thành một cây viết thành công. Cậu đã gởi đến cô giáo một cuốn sách của mình với lời nhận xét của cô giáo ngày xưa.
Tôi gấp sách lại, nhìn ra sân cỏ xanh bên cửa sổ. Tôi quyết định ngưng đọc để viết một bài về thầy giáo của mình. Tôi phải làm cái việc đã dự tính trong đầu từ khi còn học trong lớp của thầy. Tôi đã dự tính rằng khi nào mình thành công thì sẽ về thăm thầy hoặc là sẽ vinh danh thầy qua báo chí, sách vở. Nhưng rồi tôi không giỏi, cũng không tài năng để nổi tiếng, để vinh danh thầy như dự tính. Song tôi đã nhiều lần viết về thầy. Đó là những bài essay cho các lớp ESLvà English.
Chẳng biết các giáo sư có cảm nhận tấm lòng biết ơn của tôi với người thầy yêu kính ngày xưa không, bởi những bài viết của tôi đỏ chói với những lỗi văn phạm và câu cú, cùng với những câu hỏi về lối hành văn chẳng Mỹ tí nào. Bài viết này thì chắc chắn không tiếng tăm như của Goldman nhưng tôi hy vọng cuối cùng sẽ đến tay thầy cùng với tấm lòng biết ơn của tôi. Tôi mở computer và bắt đầu đánh máy. Hình ảnh của những giờ Toán năm học lớp 12 ở trường Trần Cao Vân năm nào từ từ trở về trong trí nhớ.
Một con bé ốm tong teo trong cái áo trắng đã ngả vàng đứng giải bài khảo sát hàm số trên bảng. Thầy giáo đẹp và sang giống như trong những truyện Tuổi Hoa mà con bé từng lén đọc. Chỉ có điều là con bé chỉ là một đứa học trò bình thường, quê mùa, không tiếng tăm về sắc đẹp lẫn học hành và thầy đang chăm chú theo dõi nó trình bày bài toán.
Cả lớp bỗng dưng yên lặng đến lạ. Con bé chỉ nghe có tiếng phấn cọ vào bảng và tiếng trống thình thịch trong ngực. Tất cả bắt đầu từ một nhỏ ngồi chung bàn với nó, bị thầy gọi lên bảng làm toán nhưng bị bí. Con bé ngồi bàn đầu nên thì thào ráng nhắc cho bạn bước tiếp theo. Thầy xem bài giải của Tuấn “khều” vừa xong, quay qua bắt gặp con bé đang nhép miệng nho nhỏ. Thầy nheo mắt hỏi: “Cô kia có biết làm không mà nhắc?” “Dạ biết.” “Đừng cầm vở, lên bảng làm tiếp được không?” “Dạ được.”
Con bé không tin đó là những câu trả lời từ miệng mình. Tự tin và bướng bỉnh, mặc dầu có thưa gởi đàng hoàng. Con bé cũng đọc trong mắt thầy sự ngạc nhiên nhưng không có sự tức giận.
Sự bướng bỉnh gần như thách đố của con bé không phải là không có nguyên nhân. Con bé không thích thầy ngay từ ngày đầu tiên thầy bước vào lớp 12 của nó. Thầy đẹp và sang trọng trong bộ đồ rất mới với cặp da trên tay bước vào lớp. Đôi giày da của thầy vang lên trong lớp giống hệt như những ông thầy được viết trong truyện trước năm bảy lăm. Chữ thầy viết đẹp như in. Giọng thầy không lớn, chỉ vừa đủ nghe và vừa đủ để giữ khoảng cách giữa thầy và trò. Chẳng hiểu sao con bé không thích cái hoàn hảo rất giáo sư của thầy, cái hoàn hảo chỉ có trong truyện mà con bé rất thích. Có lẽ vì thầy quá xa vời với cái thế giới nghèo của nó.
Ngày hôm sau trong khi cả lớp trầm trồ với cái xe cúp màu mận chín của thầy, con bé càng thấy không thể có thiện chí với thầy. Cái thời buổi mà thầy cô đi dạy hưởng theo tiêu chuẩn tem phiếu và rất nhiều học trò như con bé không đủ cơm ăn mỗi ngày thì những gì thầy có, có cái gì đó không đúng. Chiếc xe cúp màu mận chín của thầy chỉ xuất hiện trong sân trường chỉ một vài lần rồi sau đó con bé thường thấy thầy đến trường bằng chiếc xe đạp phượng hoàng. Dẫu không sang bằng chiếc xe cúp nhưng cũng đủ để con bé nghĩ rằng thầy không bao giờ cảm thông với nó. Và nó quyết định sẽ không để thầy có một cơ hội để coi thường thế giới nghèo của nó.
Chẳng biết vì cái quyết tâm “đổi đời” của con bé, hay vì thầy dạy rất hay, mà con bé học hành sáng sủa ra trong môn Toán. Bạn bè cũng phải ngạc nhiên vì sự tiến bộ của nó. Một con bé học hành lúc nào vừa đủ đậu bỗng dưng dám tranh luận những bài toán “giải tích” với những cây toán Đình Chính, Ngọc Thịnh, Quốc Việt, Hữu Sơn… Nhưng mà bây giờ thì con bé đang bí trên bảng. Con bé lúng túng vì không hiểu tại sao hàm số không đổi dấu theo như nó dự tính. Con bé nghe giọng thầy vang lên: “Nhìn lại miền xác định xem nào.” “Ô, đường tiệm cận.” Con bé nghe mình reo lên, rồi nó nghe thầy bảo: “Thôi được rồi. Em về chỗ.” Suốt giờ học đó, con bé như say với thành tích của mình. Dẫu rằng thầy có gợi ý cho nó nhưng con bé đã chứng tỏ được sự hiểu biết của mình qua bài giải.
Nhưng mà môn hình học không gian thì quả là một bức tường sắt đối với con bé. Chẳng phải mình con bé nhưng rất nhiều đứa trong lớp ngán môn này từ lớp mười một. Thầy đã làm cả lớp ngạc nhiên đến há miệng với những hình vẽ không gian ba chiều của thầy. Những viên phấn màu (thật là sang thời bấy giờ) đã làm cho những bài toán trở nên rõ ràng, dễ hiểu. Nhiều đứa ước có thể đem những hình vẽ của thầy về nhà. Con bé ước gì mình có thể vẽ được giống như thầy thì chắc hẳn những bài toán không gian sẽ không còn khó nữa. Cảm thấy bực mình với tài năng hạn hẹp của mình, một lần nữa, con bé nhận thấy cái hoàn hảo của thầy thật giống như trong truyện.
Cuối Tháng Chín, cái nắng của miền Trung vẫn còn gay gắt. Ra khỏi lớp, con bé cùng với nhỏ bạn vội vàng đạp xe về nhà. Con đường Nguyễn Du nhỏ hẹp tràn ngập với những đám học trò đua nhau đạp xe trên đường. Vượt qua vài nhóm học trò, Kiều Hạnh với tay khều nó. “Thầy kìa.”
Đúng là thầy trên chiếc xe đạp phượng hoàng, thong thả đạp như thể đang dạo mát trên đường phố. Con bé vội vàng thắng xe chậm lại đưa mắt nhìn Kiều Hạnh hỏi: “Làm răng chừ?” “Chạy chậm đằng sau ổng. Tới ngã ba Nguyễn Thái Học mình quẹo.”“Nhưng mà tau phải về nhà ngay để chị tau kịp đi bán hàng buổi chiều. Đi chậm như ổng chừng mô mới tới nhà?” Một tốp học sinh vừa lướt qua. Kiều Hạnh nháy mắt. “Lướt theo tụi nó. Ổng không nhận ra tụi mình đâu.” Con bé gật đầu nhấn bàn đạp phóng theo đám học trò. Nó mím môi đạp nhanh khi lướt qua thầy. Nhưng nghe thầy gọi tên, con bé thắng xe theo phản xạ tự nhiên, Kiều Hạnh thì đã mất dạng trong đám học trò đằng trước và nó thấy thầy đang đạp xe bên cạnh nó. “Đi đâu mà phóng xe nhanh dữ vậy?” “Dạ em phải về nhà…” Con bé dừng lại giữa chừng. Nó không muốn tiết lộ gia cảnh của nó. Con bé nghe thầy hỏi tiếp: “Em định thi vào trường nào?” “Dạ em chưa biết.” “Nhưng mà em sẽ thi chớ?” “Dạ có.” “Vậy có định ôn thi chưa?” “Dạ chưa.” “Thầy đang dạy một nhóm ôn thi, nếu em muốn, em có thể hỏi Thanh Nga” “Dạ cám ơn thầy. Thưa thầy em về ngõ này.” Nó thấy thầy gật đầu mỉm cười.
Vừa phóng xe trên đường, con bé vừa nghĩ về những gì mới xảy ra. Vậy là thầy biết tên nó, thầy nhận ra nó giữa đám đông, thầy nói chuyện với nó. Con bé cảm thấy mình dường như được nổi danh, được có tên có tuổi trong trường lớp. Con bé ngạc nhiên vì thầy muốn nó đi học chung nhóm với Thanh Nga, nhóm bạn nhà giàu. Tại sao thầy không nhận ra cái quê mùa lạc hậu trong cách ăn mặc của nó? Tại sao thầy nghĩ nhóm bạn áo quần lượt là, tha thướt kia có thể chấp nhận nó học chung? “Ơ, nhưng mà thầy chỉ hỏi nó chuyện thi đại học. Điều đó có thể nói là thầy chỉ nhận ra nó trong học tập mà thôi.” Con bé vui với suy nghĩ đó và cảm thấy thầy không còn cách xa với thế giới nghèo của nó nữa.
Con bé ghét cái lạnh và mùa mưa của miền Trung bởi lẽ nhà nó không có một cái áo mưa nào cả và nó thì phải mặc khính cái áo len cũ “bảy đời” của chị nó. Con bé biết mình không đẹp và càng cảm thấy mình xấu hơn trong miếng choàng che mưa không lành lặn cho lắm. Chưa hết, con bé thấy mình lụm sụm trong cái áo len rộng xềnh xoàng của chị mỗi khi trời lạnh. Bởi vậy mỗi khi đi học, nó cứ mặc hoài cái áo trắng cho dù ngoài trời đã chuyển sang mùa đông. Thầy nhiều lần hỏi: “Không thấy lạnh hay sao mà không mặc áo ấm?” Con bé ngượng nghịu trả lời: “Dạ em chưa thấy lạnh lắm.” Nhưng rồi một hôm con bé không thắng nổi cái lạnh. Nó gục xuống bàn và run lên cầm cập trong lúc cả lớp đang làm bài kiểm tra hình không gian. Con bé nghe giọng thầy xa xôi trong lúc nó đang ngất đi. “Em lạnh có phải không?” Sau này Thanh Tuyền ngồi kế bên kể lại: “Thầy thấy học trò cưng của thầy lạnh run. Thầy lo quá chừng. Tau mà không cởi áo lạnh của tau choàng cho mi chắc thầy sẽ làm lắm.” Con bé vội vàng ngắt lời bạn. “Nhờ vậy mà tau thoát khỏi bài kiểm tra hình học không vô, ý quên hình học không gian.”
Con bé cảm thấy thầy gần hơn với thế giới nghèo khó và khổ cực của nó khi nó biết thầy phải giúp vợ đi chở hàng buôn bán. Nhưng nó cảm thấy một chút hụt hẫng. Thầy của nó giỏi, dạy thật hay và yêu nghề dạy nhưng không thể sống với đồng lương của nghề dạy. Thầy phải bươn chải kiếm sống trong thế giới mà nó nghĩ là không phải của thầy. Rồi con bé tốt nghiệp lớp 12, rời thị xã nhỏ bé miền Trung với những dòng lưu bút của bạn bè và thầy cô trong đó có những nét chữ thật đẹp của thầy. Tiếp theo tên của nó, thầy viết: “Cô học trò nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn của thầy. Thầy không được vinh dự theo dạy các em suốt ba năm ở bậc trung học này, nhưng chỉ một năm thôi đã đủ để cho thầy thấy gắn bó với cái tập thể 12 – một tập thể trẻ trung, sôi nổi, cởi mở, say mê làm việc và làm việc có kết quả này, và trong đó nổi lên cô học trò nhỏ với khuôn mặt thông minh, cái nhìn thật trong sáng…”
Có lẽ thầy là người đầu tiên tặng cho con bé chữ “thông minh” và nó tin điều thầy nói. Lời nhận xét của thầy theo suốt những năm tháng khó khăn, tăm tối của con bé. Những ngày cúi mặt cấy lúa, làm cỏ, nhổ đậu, trồng khoai nơi miền quê heo hút ở miền Nam, những buổi tối cặm cụi trên bàn máy may những ngày đầu mới đến Mỹ, những lần đứng làm việc suốt ngày trong những assembly lines. Những lúc đó, con bé luôn nhớ lại lời thầy viết cho nó, “khuôn mặt thông minh, cái nhìn trong sáng.” Thầy nhìn thấy nơi con bé điều đó thì nó nhất định phải học được, phải trở thành cô giáo như thầy ngày xưa. Và rồi con bé ngày xưa bây giờ đã là cô giáo dạy Toán.
Tôi chẳng thể nào sánh được với thầy nhưng tôi cũng có những học trò cũ thỉnh thoảng trở lại hỏi thăm. Năm nào tôi cũng nghe vài đứa học trò hỏi:“Cô ơi! Chắc là cô lúc nào cũng được điểm A trong môn Toán phải không?” “Không có đâu. Những năm trung học, cô lúc nào cũng vừa đủ điểm để được lên lớp, ngoại trừ năm cuối cùng ở trung học thì khá hơn một chút.” Và rồi tôi thường kể cho học trò nghe về thầy với lòng kính trọng. Trong lưu bút của tôi, thầy viết: “… đôi mắt sáng ấy, cái nhìn rạng rỡ ấy khiến thầy thêm yêu nghề và càng hết lòng vì các em…”
Ngày ấy tôi không hiểu những dòng chữ của thầy. Nhưng bây giờ mỗi khi đang đứng lớp giảng bài, nhìn thấy ánh mắt những học trò chăm chú nghe giảng, tôi hiểu được những gì thầy viết năm xưa. Tôi ước mong mình có thể khích lệ niềm tự tin trong một đứa học trò như thầy đã làm cho tôi năm ấy. Cảm ơn thầy đã nhận ra em trong đám đông học trò trên đường phố. Cảm ơn thầy đã quan tâm đến một đứa học trò nghèo như em. Và hơn hết, cảm ơn thầy đã giúp em có niềm tin vào khả năng của chính mình. Cô học trò nhỏ nhắn của thầy ngày xưa đã tin vào nhận xét của thầy để rồi hôm nay cô học trò ấy bước vào đời với nghề dạy học giống thầy vậy đó.
2025
Cuối cùng tôi cũng gặp lại thầy sau gần 40 năm. Tôi ghé Sài Gòn chỉ có một vài hôm nên nhờ cô bạn mời thầy đến gặp cùng với một nhóm bạn trong lớp. Dẫu là tôi tự lên chương trình về gặp thầy nhưng tôi vẫn không thể tin điều đó xảy ra khi đến buổi họp mặt. Thầy không khác xưa mấy và trông thầy còn trẻ hơn mấy bạn nam lớp tôi. Tưởng rằng gặp thầy là sẽ nói chuyện huyên thuyên. Vậy mà lúc gặp thầy và bạn bè, không hiểu sao tôi bỗng trở thành con bé học trò nhút nhát như ngày xưa. Không dám nói chuyện nhiều với thầy và quên luôn cả việc chụp riêng với thầy một tấm hình làm kỷ niệm. Tiếc ghê! Nhưng tôi đã khoe riêng với thầy những thành quả tôi đạt được và cảm ơn thầy về những ngày tháng được học với thầy và những lời thầy khen để khuyến khích tôi học tập.
Nhớ thầy viết chữ đẹp, vẽ hình đẹp và những nét phấn màu giúp tôi tưởng như có thể chạm đến những mô hình ba chiều thầy vẽ. Bây giờ tôi đi dạy cũng có đủ phấn màu nhưng không vẽ được hình giống như thầy. Có một bữa sau khi giảng giải cho sinh viên xong, đứng lui ra nhìn hình vẽ, tôi không nhận ra được cái hình mình muốn vẽ. Thế là tôi phải tính chuyện ăn gian. Không vẽ được bằng tay thì vẽ bằng máy! Tôi tìm tòi những software giúp vẽ hình các hàm số đa biến. Nhờ đó, tôi không còn sợ vẽ hình khi giảng bài nữa.
Với hứng thú đó, tôi làm một món quà nhỏ đem về tặng thầy. Trên món quà có in hình cái vỏ sò và chiếc lá xanh được vẽ bằng những phương trình với tọa độ cực. Đó cũng là hai tấm hình tôi gởi nộp để dự triển lãm tại một hội thảo toán học. Lúc nộp tác phẩm dự thi thì tôi viết “… Toán học không chỉ là những con số và biến số x, y, z. Toán học có thể giúp ta tìm thấy những đường cong tuyệt đẹp trong thiên nhiên ẩn mình dưới những hàm số…”
(Hình: Thủy Như)
Nếu đó không phải là một triển lãm về Toán thì tôi sẽ viết như thế này. “Cái vỏ sò là tôi ngày ấy đã bị vùi sâu trong đất cát, là những cơ cực của gia đình tôi ngày xưa. Chiếc lá xanh là niềm hy vọng thầy gieo cho tôi bao nhiêu năm trước. Và chiếc lá đó vẫn còn mãi xanh trong tôi cho đến bây giờ.”
Cảm ơn Chúa đã cho tôi được học với thầy năm lớp 12 để được nghe những lời khích lệ giúp tôi đi tới ngày nay. Biết ơn thầy vô cùng về những niềm hy vọng thầy gieo cho tôi ngày ấy.
Thủy Như
(Cựu học sinh 12/1 (1984-1985) trường THPT Trần Cao Vân – Tam Kỳ, học trò cũ của nhiều thầy cô xuất thân từ ĐHSP Huế, đặc biệt rất ngưỡng mộ người thầy dạy toán. Sau này em cũng đã theo nghề của thầy ở một tỉnh ở miền Nam. Sang định cư ở Hoa Kỳ cùng gia đình, đã học tiếp lấy Master Toán và hiện nay dạy ở college)
“Huế có dòng sông Hương. Dòng sông mang tên con gái hay con gái mang tên dòng sông. Khi gọi “Hương ơi!” thì vẻ mượt mà của dòng sông hay bóng dáng yêu kiều của giai nhân đến trước ? Nếu đến để mà đi là người con gái, nhưng đến để chảy mãi trong lòng là dòng sông” (Dòng sông biệt xứ, Trần Kiêm Đoàn) Hoá thân thành người con gái yêu kiều là dòng sông Hương trong cảm xúc của nhà văn Trần Kiêm Đoàn, thành “dải lụa dịu dàng vắt ngang thành phố” là cái nhìn của nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. Và cũng dòng sông ấy biến thành “mảnh trăng – Hương Giang nhất phiến nguyệt” dưới ngòi bút của thi hào Nguyễn Du. Người Huế luôn hãnh diện và tự hào về “viên ngọc quý” này của mình, cũng là biểu tượng của thành phố thân yêu. Vậy mà hơn một tuần nay “Con sông dùng dằng, con sông không chảy” đó bỗng hung hãn, cuồng nộ lạ lùng. Cô gái mang tên Hương Giang bỗng biến thành mụ phù thuỷ dữ dằn độc ác, nhấn chìm tất cả. Thành quách, kinh thành, ruộng đồng, nhà cửa, bệnh viện, trường học, chùa chiền, nhà thờ, tu viện và cả nghĩa địa đều ngập chìm trong nước. Màu vàng đục thay cho màu xanh biếc, cảm xúc người Huế dành cho dòng sông phụ thuộc vào những con số biểu thị từ Cơ quan thuỷ văn: “Mực nước sông Hương: 4,47 m > Báo động 3 là 0,97m…” Những buồn vui, lo lắng không chỉ của người đang bị thúc thủ trong cơn lũ mà còn của những người con Huế tha hương đang từng giây phút nhìn về quê nhà để hồi hộp, đau xót và nguyện cầu cho dòng Hương thân yêu của mình bớt cơn cuồng nộ.
– Mưa
“Cũng thế, thoáng nhìn mưa Huế chỉ thấy nét trầm phai và ủ rủ nhưng đã thực sống với Huế qua những mùa Đông sẽ thấy từ trong bụi trắng thinh không của mưa Huế có những nụ hồng và hơi ấm của tình yêu, không phải chỉ tình yêu lứa đôi mà nhiều thứ tình nồng nàn góp lại. Nếu mưa Huế cứ rơi rơi trên vùng trời Huế thì mưa nghìn rơi chỉ là mưa thôi. Nhưng mưa Huế đã rơi vào lòng những người qua Huế thành những khung trời nhỏ nên mưa hoài không tạnh và những cơn mưa trong hồn cứ rây rây nhỏ hột lan ra khắp muôn phương” (Từ ngỏ Huế Xưa – Trần Kiêm Đoàn) Cám ơn nhà văn Trần Kiêm Đoàn đã thổi vào lòng người những cơn mưa lãng mạn làm thấm ướt thêm tâm hồn vốn đa cảm của người Huế. Để khi xa Huế, một trong những nỗi nhớ ray rứt của người tha hương là những cơn “mưa vẫn mưa rơi trên tầng tháp cổ “ (Trịnh Công Sơn) cùng lời nhắn gởi : “Khi mô Anh về thăm Huế xưa Nhớ gói dùm em một chút mưa. Gói thêm mớ lạnh từ chân tóc. Buốt thấu buồng tim vẫn chưa bưa” (Mưa Huế – Hồ Đắc Thiếu Anh) Và giờ đây, trong cơn lụt lịch sử những ngày này, khi các nhà dự báo thời tiết nhận định về hoàn lưu bão số 12 gây mưa là “một quả bom nước khổng lồ sẽ đổ xuống thành phố Huế” thì Hành tinh Titanic dự báo “Không chỉ là quả bom nước mà sẽ là một dòng sông nước từ trên trời sẽ đổ xuống…” Và quả vậy. Huế đã có những trận mưa rất lớn với vũ lượng đạt kỷ lục cao nhất nước đã tiếp tay nâng nước sông lên cao gây khốn khổ cho người Huế. (Dĩ nhiên có cả sự góp sức của nước xả lũ, dù đã được điều tiết). Và danh hiệu “Đặc sản Huế” dành cho Mưa Huế như một số người đề nghị trước đây, qua trận lụt này chắc cũng sẽ được công nhận.
-Và nước mắt.
Nước sông Hương, nước mưa, mấy ngày nay đã cùng hoà nhau thành… nước mắt. Không khóc mà sao vẫn cay mắt quá. “Bao năm, nước mắt như suối nguồn, chảy vào tim con, mái tóc đã đầy tuyết sương” (Lòng Mẹ – Y Vân) Có phải đó cũng là một tính cách của người Huế, luôn che dấu cảm xúc của mình. Yêu ghét, giận hờn, thường để nước mắt chảy ngược vào lòng. Cơn lụt đã nhận chìm sinh mạng, nhà cửa, tài sản, tiền bạc và cả sức khoẻ, của người dân Huế qua 3 trận lụt lớn chỉ trong vòng mấy ngày. Nhiều gia đình mất trắng còn cõng thêm món nợ ngân hàng và không biết sẽ bắt đầu lại từ đâu. Mình cũng đã từng như vậy từ lụt 99. Nước mắt cho sự mất mát quá lớn. Bệnh viện ngập chìm trong nước. Nhìn hình ảnh các y bác sĩ đưa bệnh nhân lên tầng cao tránh lụt, hình ảnh các tu sĩ mang cơm, cháo vào bệnh viện trao cho bệnh nhân… cảm xúc dâng trào. Một số vùng trũng của Huế suốt hơn 10 ngày qua vẫn còn ngập nước và chưa biết khi nào mới khô ráo trở lại. Nhưng người Huế đã không cô đơn chiến đấu với lũ lụt. Cảm động với chính quyền, những đoàn Thiện Nguyện tại địa phương và các nơi, góp công, của giúp người dân nơi đây tạm thời vượt qua khó khăn. Những hộp cơm nghĩa tình từ các bếp ăn tự phát, những gói mì tôm, những chai nước uống và cả những hộp sữa từ các ca nô, ghe máy, chuyển vào cho người dân trong vùng bị chia cắt. Những ánh mắt rưng rưng của người nhận và người cho. Cũng không thể kìm được cảm xúc khi một thành phố xanh, sạch đẹp chỉ một tuần trước đây đã biến thành một bãi rác khổng lồ đầy ô nhiễm. Những bãi rác này đang được các công nhân vệ sinh môi trường cật lực dọn dẹp, mong sớm trả lại môi trường trong lành cho Huế. Trong lúc Huế chưa “lai tỉnh” thì lại đang chuẩn bị đón Bão 13: Bão Kalmaegi, với dự báo có cường độ lớn và mưa lớn khi hoàn lưu bão đi qua, trong đó không ngoại trừ Huế. Không biết là dòng sông vừa tạm thời bước lui có quay lại tiếp tục hành dân Huế nữa không? Nhưng tin rằng Nước mắt rồi sẽ làm trôi đi những rác rến, sẽ làm trong lại, đẹp thêm dòng Hương yêu kiều, và những cơn mưa Huế lại sẽ trở lại những cơn mưa thuần khiết, rắc lên kinh thành những hạt mơ màng, lãng mạn, như nó vốn có. Chắc chắn rứa, bởi quy luật của cuộc sống là biến dịch không cùng! Sáng 5-11-2025 Chuẩn bị “đón” bão Kalmaegi. (Ảnh copy trên mạng và trang Huế online) Thanh Nhã. FB thanh nha Đang
Ở Nghinh Lương Đình (đối diện Phu Văn Lâu)
***
Mời các bạn đọc tiếp bài thơ của một cô giáo dạy Văn trường Đồng Khánh – Hai Bà Trưng, từng đạt giải Văn Việt (Văn đoàn độc lập) của Nhà văn Nguyên Ngọc:
AI ĐEM NỖI HUẾ RA THƯA
Ai đem nỗi Huế ra thưa Lưu ly Thành Nội phủ mờ ô long Nước dâng qua cổng Ngọ Môn Cuộn trôi mái ngói rụng hồn Kinh đô
Tháng mười phố hoá thành sông Cầu cong dáng lụa đò không bến rồi Hai lần nước đã chơi vơi Lần ba nghe ngóng rụng rời tay chân
Thôi thì phó mặc trần gian Cho mưa rửa sạch những tàn những điêu Kim Long tối đặc tiêu điều Đèn chong leo lét người phiêu diêu người
Con đò nằm nép vật vờ Như con cá nhỏ hết hơi giữa đồng Huế buồn và rất bao dung Ôm mưa vào ngực che từng mái hiên
Hôm nay nắng vỡ bên miền Con chim chao cánh Huế nghiêng rũ mình Bờ tre mái ngói hồi sinh Vẫn câu răng rứa vẫn bình minh lên
Sáng 30.10 sau khi đưa Hoàng Như Phước đến nơi an nghỉ, nhóm thân hữu Dalat gồm Lê Ngọc Sử (LH-LVC), VC Trương Văn Lào (LH-HTK) – Sang cùng đi với cháu Long (con của bạn Nguyễn Văn Cam) về SG, trên đường đi thật bất ngờ do Long chuyển hướng sang thị xã Giá Rai nên bọn này được ghé thăm nhà Bạn Nguyễn Văn Thế (T-HTK).
Đưa tang bạn Hoàng Như Phước xong, nhóm thân hữu Dalat ghé thăm bạn Nguyễn Văn Thế (T-HTK):
Trái qua: vợ chồng Sang – Lào, Nguyễn Văn Thế, Lê Ngọc SửSử, Thế, Lào.Sử, Thế, Lào và Long (con trai bạn Nguyễn Văn Cam)Nguyễn văn Thế, vợ bạn Thế – ngồi xe lăn đã lâu, bạn Thế phải chăm sóc hàng ngày nên không thể đi xa dự các Hội khóa vừa rồi – vợ chồng Sang – Lào.
Đa số người Việt Nam biết Huế không chỉ vì Huế có nhiều cảnh đẹp, có nhiều di tích lịch sử như đền đài, lăng tẩm, thành quách cổ kính mà còn vì những bài thơ trữ tình của các thi nhân nổi tiếng, những câu hò êm ái đượm tình quê hương và nhất là những bản tân nhạc ca tụng xứ Huế thơ mộng đã được phổ biến đến khắp mọi miền trên đất nước.
Có những người chưa bao giờ đặt chân đến Huế nhưng qua các bài hát lại thuộc lòng tên những danh lam thắng cảnh của đất cố đô như sông Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ, đài Nam Giao, thôn Vĩ Dạ, v..v… Huế là cái nôi văn hóa của miền Trung, là nguồn cảm hứng của các văn nhân, nghệ sĩ, là nơi dừng chân của các tao nhân mặc khách . Người ta biết đến Huế nhiều nhưng ít ai biết đất cố đô đã sản sinh ra bao nhiêu nhạc sĩ sáng tác tài hoa . Khi người Pháp đặt chân lên đất nước VN họ mang theo vào cả nền âm nhạc Tây phương và đem truyền bá trong dân chúng . Những nhạc sĩ của đất Thần Kinh cũng dần dần làm quen với ký âm pháp phương Tây và từ đó các nhạc sĩ sáng tác tân nhạc đầu tiên ra đời.
1 – NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN THƯƠNG
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương (1919 – 2002)
Người nhạc sĩ tiền phong của nền tân nhạc VN ở cố đô Huế là nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Ông sinh ngày 22 – 05 – 1919 và mất ngày 06 – 12 – 2002 tại Saigon, hưởng thọ 84 tuổi. Ông sinh ra trong một gia đình yêu thích âm nhạc. Năm lên 9 tuổi, ông bắt đầu học đàn nguyệt sau đó qua sách vở của người Pháp ông tự học ký âm pháp. Năm 1936, ông tốt nghiệp bậc trung, học tại trường Khải Định Huế và cũng năm này, ông sáng tác bản nhạc đầu tay “Tiếng sông Hương” là bài tân nhạc đầu tiên của xứ Huế. Lúc ấy ông mới 17 tuổi nhưng tên của ông đã bắt đầu đi vào làng âm nhạc VN. Năm 1939 ông lại cho ra đời bản “Đêm đông” là một kiệt tác của tân nhạc VN thời bấy giờ. Bài hát với nét nhạc trữ tình êm ái tiềm ẩn một nỗi buồn man mác, lời ca trau chuốt, mượt mà, đã đi vào lòng người VN qua bao thế hệ. Nữ ca sĩ Bạch Yến là người hát bài “Đêm đông” hay nhất. Bài ca này, lúc đầu được viết theo thể điệu Tango, nhưng khi Bạch Yến trình diễn thì chuyển qua Slow Rock nghe hay hơn. Trong thập niên 60, cô cũng đã trình bày nhạc phẩm này trong sô Ed Sullivan của Mỹ. Năm 1942 nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác thêm ca khúc “Bướm hoa” cũng được nhiều người ưa thích nhưng không bằng “Đêm đông”.
Sau đó, ông theo kháng chiến tập kết ra Bắc. Ở ngoài Bắc trong thời gian chống Pháp, ông viết bản “Bình Trị Thiên khói lửa”, soạn nhạc cho các điệu múa của các vở kịch “Chim gâu”, “Tấm Cám”, “Múa ô”, “Chàm rông”. Nhạc phẩm “Bài ca trên núi” ông viết cho phim “Vợ chồng A Phủ”.
Sau một thời gian tu nghiệp tại CHDC, Đức, ông trở về nước làm giám đốc Nhạc viện Hà Nội và tiếp tục sáng tác. Ông có những tác phẩm về khí nhạc như “Lý hoài nam”, “Buôn làng vào hội”, “Quê hương”. Trong thời gian ở Đức ông có sáng tác khí nhạc như “Ngày hội non sông”, “Rhapsodie 2”, “Trở về đất mẹ”. Bản giao hưởng “Đồng khởi” của ông được trình diễn ở Leipzig (CHDC Đức) năm 1971.
Cho dù các tác phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương có uyên bác đến đâu đi nữa rất ít người biết đến .
Đa số người VN chỉ biết đến ông qua nhạc phẩm “Đêm đông ” mà thôi .
Đêm đông xa trông cố hương buồn lòng chinh phu Đêm đông bên sông ngẩn ngơ kìa ai mong chồng Đêm đông thi nhân lắng nghe tâm hồn tương tư Đêm đông ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng Đêm đông ta lê bước chân phong trần tha hương Có ai thấu tình cô lữ đem đông không nhà .
Hoàn cảnh đưa đẩy nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương sáng tác bài ca bất hủ này đã được chính tác giã kể lại cho nhạc sĩ Trương Quang Lục như sau:
“Sau khi đỗ Thành Chung ở Huế tôi ra Hà Nội học để thi Tú Tài. Dịp Tết Nguyên đán năm 1939, không có đủ tiền để về quê ăn Tết, đêm giao thừa tôi đi lang thang khắp phố phường Hà Nội dưới trời mưa phùn lạnh buốt, không một bóng người qua lại trên đường. Qua ga Hàng Cỏ nghe tiếng còi vang lên trong đêm khuya càng thêm nhớ nhà da diết. Dọc phố Khâm Thiên một vài căn nhà vẫn còn sáng đèn. Nghe tiếng chân qua đường, một cô gái bước ra nhìn, thất vọng quay vào soi gương treo cạnh cửa, đưa tay vuốt mái tóc. Trời đã khuya, tôi trở về phòng trọ, gió lùa qua khe cửa rít lên từng hồi suốt đêm. Tôi trăn trở không ngủ được, nghĩ đến cuộc đời bất hạnh của những người nghèo khổ, tha hương trong đêm đông lạnh lẽo. Và bài hát “Đêm đông” ra đời trong đêm ấy.
2 – NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA
Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba (1914 – 1997)
Ông sinh năm 1914 tại làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị và mất năm 1997 tại Saigon, hưởng thọ 83 tuổi. Tuy sinh ra tại Quảng Trị nhưng suốt cuộc đời và sự nghiệp của ông đã gắn liền với cố đô Huế.
Với bút hiệu Đạo Tâm, ngoài tân nhạc ra ông là một nhà nghiên cứu, một nhạc sư cổ nhạc VN. Ông biết sử dụng nhiều loại nhạc khí cổ truyền khác nhau, là người có công phát triển và bảo tồn nền cổ nhạc miền Trung. Năm lên 8 tuổi ông bắt đầu học đàn. Năm 16 tuổi ông đã hòa nhạc cổ thu vào dĩa Beka của Đức.
Năm 1932 ông áp dụng ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc VN ở Huế. Công trình của ông rất được nhiều người tán thưởng. Năm 1938 ông đậu thủ khoa đàn nhị. Tháng 8 năm 1945, sau khi Việt Minh lên nắm chính quyền, ông về quê Quảng Trị. Nhưng cuộc đời của ông chỉ có duyên nợ với đất Thần Kinh, nên năm 1950, ông trở lại Huế. Cũng năm này ông thành lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng quốc nhạc VN, bảo tồn nhiều loại nhạc khí cổ truyền, tàng trữ sách vở về âm nhạc cũng như những tài liệu thu thanh quí giá. Chỉ cần vào cửa Thượng Tứ, rẽ trái khoảng một trăm thước ta sẽ thấy Viện Tỳ Bà của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Ông được triều đình Huế tặng thưởng huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng chức Hàn lâm viện Đãi chiếu. Sau 1954, ông vào Nam, dạy tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon, làm khoa trưởng lý thuyết các trường đại học Vạn Hạnh, Saigon, Huế. Sau đó, ông trở về làm giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế. Sau biến cố Tết Mậu Thân (1968) Viện Tỳ Bà bị tàn phá, gia đình ông dời vào Saigon. Sau năm 1975, gia đình ông thành lập một cơ sở nhỏ chuyên sản xuất các loại đàn cổ rất tinh vi ở quận Phú Nhuận, đồng thời ông cùng người con gái lớn là nhạc sĩ Tuệ Quang mở lớp dạy đàn tranh, học sinh theo học rất đông. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba là người có công truyền bá cái tinh hoa của nền quốc nhạc về nhiều phương diện như trình diễn, khảo cứu, cổ động và giáo dục. Ông đã đào tạo được nhiều học trò nổi tiếng trong ngành cổ nhạc như Phạm Thúy Hoan (Saigon), Phương Oanh (Paris), Quỳnh Hạnh (Paris).
Tác phẩm ông để lại cho hậu thế cũng khá nhiều . Về tân nhạc gồm có các nhạc phẩm như : “Quảng đường mai (1940)”, “ Xuân xuân (1947)”, “Lửa rừng đêm (1947)” , “Thu khói lửa (1950)”, “Tiếng hát quân Nam (1950)”, “Ánh dương trời Nam (1951)”. Về các tác phẩm nghiên cứu và giáo dục gồm có : “Tự học đàn nguyệt (1940)”, “Vài thiên kiến về âm nhạc (1950)”, “Bản đàn tranh (1951)”, Nhạc pháp quốc học (1960)”, “Đàn tỳ bà (1962)”, “Đàn độc huyền (1962)” “Đàn nhị huyền (1962)”, “Bài ca Huế (1962)”, “Phương pháp học đàn tranh (1962)”, “Dân ca VN (1961)”. Năm 1966, thu thanh tài liệu nhạc Huế (nhạc Cung đình và nhạc Phật giáo) cùng với Ca Huế cho cơ quan UNESCO vào dĩa 33 vòng đặt tên là VIETNAM 1. Năm 1971, thu thanh VIETNAM 2 do ông cung cấp tài liệu, với sự trợ giúp của nhạc sĩ Trần Văn Khê. Năm 1998, cả hai dĩa VN1 và VN2 được hãng đĩa Rounder Records ở Mỹ tái bản dưới hình thức CD.
3 – NHẠC SĨ VĂN GIẢNG
Nhạc sĩ Văn Giảng
Nhạc sĩ Văn Giảng sinh ngày 12 tháng 05 năm 1924 tại Huế, trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Ông nội của ông là một nhạc sĩ cổ nhạc. Lúc còn nhỏ ông học đàn mandoline. Khi lên trung học thấy người ta đàn guitare ông rất thích. Có giai thoại kể rằng, thuở đó, trong khu phố của ông có một người biết đàn guitare, ông đến xin học; nhưng ông thầy này ra điều kiện là phải mua tặng cho ông ta một cây đàn guitare mới. Nhà nghèo làm sao có tiền mua đàn để tặng, ông phải đành ở nhà tự học.. Nhưng sau môt thời gian, tài nghệ sử dụng đàn guitare cùng kiến thức về âm của ông đã vượt qua ông thầy, và chính ông này lại đến nhờ ông chỉ bảo thêm. Năm 1949, ông sáng tác bài “Thúc quân”, một bản nhạc hùng rất được nhiều người ưa thích. Cùng năm này, ông cho ra đời bài “Ai về sông Tương” với bút hiệu Thông Đạt. Nhạc phẩm này được thính gìả cả nước tiếp đón một cách nồng nhiệt qua các đài phát thanh, riêng đài Pháp Á chọn làm bài hát hay nhất trong năm 1949, và được tái bản 6 lần không kể những lần in tại hải ngoại sau 1975. Hiện nay, nhạc phẩm này được đánh giá là một trong 10 bài hát hay nhất trong âm nhạc VN. Có một giai thoại khác về nhạc sĩ Văn Giảng với bài “Ai về sông Tương” như sau : “Trong các thập niên 40, 50 ở Huế có nhà xuất bản Tinh Hoa nổi tiếng, chuyên xuất bản các nhạc phẩm của các nhạc sĩ trong nước. Một hôm, ông Tăng Duyệt, giám đốc nhà xuất bản, nói với nhạc sĩ Văn Giảng đại khái rằng, ông chỉ biết làm nhạc hùng chứ không biết làm nhạc trữ tình như các nhạc sĩ khác; vì trước đó, Văn Giảng chỉ sáng tác nhạc hùng mà thôi. Ông im lặng không nói gì cả. Về nhà, ông lặng lẽ sáng tác bài “Ai về sông Tương” và gởi đến các đài phát thanh trong nước. Ông Tăng Duyệt nghe bài hát hay quá muốn xuất bản nhưng không biết Thông Đạt là ai. Một hôm nhạc sĩ Đỗ Kim Bãng và nhà văn Lữ Hồ đến nhà Văn Giảng chơi , thấy bản thảo của bài hát này và nói cho ông Tăng Duyệt biết. Ông này liền lái xe chạy đến nhà nhạc sĩ thương lượng ký hợp đồng xuất bản. Thời đó, các thanh niên đều thuộc bài này và thường hay hát nghêu ngao:
“ Ai có về bên bến sông Tương, nhắn người duyên dáng tôi thương, sao đành nỡ dứt tơ vương…”
Trong hai thập niên 50-60, ông là giáo sư âm nhạc tại các trường trung học ở Huế như Quốc Học, Hàm Nghi, Trường đào tạo giáo viên tiểu học và trưởng ban nhạc đài phát thanh Huế. Trong thời gian này ông cho xuất bản tập nhạc “Hát mà học” gồm 10 bài hát dành cho thiếu nhi. Ông được học bổng du học ngành nhạc tại Hawai và Bloomington.
Năm 1956 ông thành lập ban hoà tấu Việt Thanh gồm các nhạc cụ cổ truyền như tỳ, nhị, độc huyền, nguyệt , sáo, vv… và ông sáng tác cho ban này bản hòa tấu “ Ai đưa con sáo sang sông” dài 60 phút. Ngoài ra ông còn cho xuất bản sách “Kỹ thuật hòa âm” dày 350 trang .
Năm 1969, ông vào Nam, dạy tại trường QGAN Saigon và soạn hòa âm cho hai hãng dĩa Asia và Sóng nhạc. Ông được Bộ Văn Hóa cử làm Trưởng phòng học vụ Nha Mỹ thuật, đảm trách học vụ các trường âm nhạc Saigon, Huế và các trường Cao đẳng Mỹ thuật.
Năm 1970, ông được Huy chương vàng giải Văn học Nghệ thuật của Tổng thống VNCH với bản “Ngũ tấu khúc” (Quintet for flute and strings). Ông còn được đề cử làm giám đốc nghệ thuật điều hành Đoàn văn nghệ VN gồm 100 nghệ sĩ tân, cổ nhạc và vũ do nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phụ trách, cùng ban vũ cổ truyền do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đảm trách, tham dự Hội Chợ Quốc Tế ở Osaka Nhật Bản.
Ngoài tên Văn Giảng với các bài ca hùng tráng như “Thúc quân”, “Lục quân VN” ( bài hát này dược các quân trường ở miền Nam chọn làm bài ca nhịp bước cho các tân binh mới nhập ngũ ) , “Đêm Mê Linh ” , “ Quân hành ca ”, “ Qua đèo ”, “ Nhảy lửa ” , ông còn có bút hiệu Thông Đạt với các nhạc phẩm trữ tình như “ Ai về sông Tương ” , “Đôi mắt huyền ”, “ Hoa cài mái tóc ”, “ Thương tà áo bay ” , “ Tình em biển rộng sông dài ” , “ Xin đừng bỏ nhau ” , “ Xin đừng chờ em nữa ” , “ Năm nay em mấy tuổi ” và bút hiệu Nguyên Thông với các ca khúc Phật giáo như “ Từ Đàm quê hương tôi ” , “ Mừng Đản sanh ” , “ Ca Tỳ La Vệ ” , “ Vô thường ” , “ Hoa cài áo lam ” , “ Bao la vô tận ” ,” Bờ mê bến giác ” , “ Buông xả ” ,” Dòng sinh diệt ”, “Đời sống Đức Phật ” ,” Giả hợp ” , “ Hãy tự giác ” , “ Mong tỉnh ngộ ” , “ Tâm bệnh ” , “ Tìm đâu xa ” , “ Vũ khí chơn tâm ” .
Sau 1975 ông kẹt lại ở Saigon và có mở lớp dạy nhạc tại đường Phạm Văn Hai , gần chợ Ông Tạ , quận Tân Bình . Năm 1981 ông vượt biên đến đươc Natuna của Nam Dương và để cám ơn hòn đảo đã cho ông dừng chân trên đường đi tìm tự do ông sáng tác bản “ Natuna người tình đầu ”. Hiện giờ ông đang định cư tại Thành phố Foolscray , bang Victoria , nước Úc . Ông là một nhạc sĩ có tài , nhạc phẩm của ông phong phú, đa dạng . Ông đã đóng góp nhiều cho nền âm nhạc VN nhưng không hiểu tại sao các Trung Tâm sản xuất DVD ca nhạc lại nỡ quên đi không làm DVD về sư nghiệp âm nhạc của ông .
4 – NHẠC SĨ ƯNG LANG
Người nhạc sĩ đầu tiên của đất Thần Kinh mang dòng máu hoàng tộc là Ưng Lang. Ông tên thật là Nguyễn Phước Ưng Lang , sinh năm 1919 tại Huế . Ông chuyên về Hạ uy cầm (guitare hawaienne) một loại đàn rất thông dụng thời bấy giờ. Ông là tác giả những nhạc phẩm như “ Chiều về thôn Vỹ ” , “ Nhạc lòng ” , “ Chiều tiễn biệt ” và nhất là ca khúc “ Mưa rơi ” viết chung với Châu Kỳ đã đưa tên tuổi ông đến với những người yêu nhạc VN . Tác phẩm “ Mưa rơi ” là kết quả của mối tình đầu đau thương của tác giả . Sau khi tốt nghiệp Trường Công chánh Huế ông được bổ nhiệm về Sở Lục Lộ tỉnh Nghệ An đặt ngay tại thị xã Vinh . Lúc ấy ông 21 tuổi . Ông được gia đình bà chị có cửa hàng buôn bán tại Vinh cho một căn phòng để ở . Phòng ông có cửa sổ nhìn sang dãy nhà đối diện bên kia đường . Chiều chiều sau khi đi làm về ông thường mở cửa sổ cho mát và lấy đàn ra lả lướt vái bài cho đỡ buồn . Không ngờ tiếng đàn Hạ Uy cầm du dương của ông lại lọt đến tai của các nghệ sĩ của thị xã . Họ mời ông gia nhập “ Ban Nhạc Mang Hưng ” mà đa số nhạc sĩ là người Việt gốc Hoa . Nhưng đối với ông tiếng đàn lọt vào tai các nhạc sĩ của thị xã không quan trọng bằng lọt vào tim của một hoa khôi sống với cha mẹ trong căn nhà đối diện với nhà chị ông . Ta hãy nghe nhạc sĩ Lê hoàng Long nói về giai nhân , người yêu đầu tiên của nhạc sĩ Ưng Lang như sau : “ Ưng Lang đưọc biết mỹ danh người đẹp là Ch.L. tuổi vừa đôi chín . Từ đó , hàng ngày khi màn đêm buông xuống , Ưng Lang lại lấy đàn ra nắn phím buông tơ . Tiếng đàn Hạ Uy cầm réo rắt , ngân nga vọng sang tận bên kia đường rồi vang trong nhà người đẹp . Ngày nào như ngày ấy , đúng giờ là tiếng đàn lại nỉ non , thánh thót khiến mỹ nhân nhẹ nhàng thướt tha , uyển chuyển , lúc ẩn, lúc hiện sau tấm màn cửa đong đưa như đang uốn lượn trong vũ khúc trước làn gió nhẹ . Tay nắn phím , tay buông tơ nhưng mắt Ưng Lang vẫn kín đáo nhìn nên thấy cảnh đẹp như Hằng Nga trong vũ khúc Nghê Thường. Tức cảnh sinh tình , tiếng đàn Ưng Lang lại càng thêm thánh thót và nghe thấy buồn man mác hơn . Nếu ai nhìn thấy được cảnh ấy , khách quan cũng nhận định giai nhân và nghệ sĩ tình trong như đã , mặt ngoài còn e . Ưng Lang mừng thầm cho rằng đây là mối lương duyên tiền định nên ngày ngày chải chuốt từ y phục đến tiếng đàn”. Sau đó hai người yêu nhau bằng một mối tình thật đằm thắm và thơ mộng . Họ cùng thề non hẹn biển sống với nhau đến hết cuộc đời . Nhưng có ai biết được chữ ngờ . Đôi tình nhân đâu biết cuộc tình nồng thắm của họ sẽ phải tan vỡ vì chiến tranh . Tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp và ra lệnh cho tất cả các công chức phải trở về nguyên quán . Ưng Lang cũng không thoát khỏi cái lệnh quái ác ấy nên phải khăn gói trở về làm việc tại Sở Công Chánh Thừa Thiên . Buổi tiễn đưa đôi tình nhân bịn rịn chia tay lòng đau như cắt . Về đến quê nhà lại gặp cảnh mưa rơi rả rich suốt ngày , bầu trời u ám , nỗi buồn càng thêm da diết . Trong hoàn cảnh đó Ưng Lang sang tác nhạc phẩm “ Mưa rơi ” và bài hát này đã trở thành ca khúc vượt thời gian :
Mưa rơi , chiều nay vắng người Bên thềm gió lơi , mơ bóng ngàn khơi Mưa rơi , màn đêm xuống rồi Mây sầu khắp nơi , thương nhớ đầy vơi Mưa rơi , đìu hiu giữa trời Đêm dài vắng ai , thương nhớ nào nguôi .
Sau ngày chia tay hai người thường xuyên viết thư cho nhau và chờ ngày sum họp . Nhưng tháng 8 năm 1945 chiến tranh nổ ra , không biết gia đình của Ch.L. trôi giạt phương trời nào và từ đó đôi tình nhân mất hẳn liên lạc . Vài năm sau Ưng Lang lập gia đình , sống và làm việc tại Huế . Trước 1975 ông là giáo sư trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế . Mãi đến 20 năm sau ông mới được tin Ch.L. ,người yêu cũ , đã chết trong chiến tranh .
5 – NHẠC SĨ CHÂU KỲ
Nhạc sĩ Châu Kỳ sinh ngày 05 – 11 – 1923 tại làng Dưởng Mong , tỉnh Thừa Thiên trong một gia đình sống bằng nghề cổ ca nên ông rất am hiểu về cổ nhạc miền Trung . Học xong chương trình tiểu học tại trường Tiểu học Dưởng Mong , ông lên Huế học tại trường Pháp Việt . Ông có giọng hát rất hay nên bạn bè rất thích nghe ông hát . Thấy ông hay hát những bài do Tino Rossi ca trong các dĩa của Pháp nên ông đưọc sư huynh Pétrus Thiều dạy cho nhạc lý Tây phương . Khởi đầu ông học đàn mandoline. Câu chuyện vui ông kể trên sân khấu Thúy Nga là mối tình đầu lãng mạn của lứa tuổi dậy thì thiếu suy nghĩ khi ông muốn dùng tiếng đàn mandoline để chinh phục trái tim người đẹp Kim Anh , con gái của vị thượng thư , để rồi bị giai nhân từ trên lầu tạt nước xuống khiến ông phải ôm đàn chạy trốn . Nhưng thế sự thăng trầm , cuộc đời dâu biển , mười mấy năm sau ông gặp lại người đẹp tại Saigon trong cảnh nghèo khổ , xác xơ trong khi ông đang là một ca, nhạc sĩ nổi tiếng . Sự gặp gỡ mang nhiều kịch tính này làm ông ngậm ngùi nghĩ đến những đổi thay của đời người và ông viết nên nhạc phẩm “ Giọt lệ đài trang ” .
Lúc ông còn theo học bậc trung học thì chị của ông là Châu Thị Minh thành lập đoàn ca kịch Huế lấy tên là Hồng Thu . Đoàn rất cần ca sĩ trẻ nên bà chị tha thiết yêu cầu ông giúp . Vì gia đình nghèo ông do dự không biết nên tiếp tục học hay là đi giúp chị . Cuối cùng ông bỏ học đi theo chị , trước là để giúp chị trong lúc khó khăn , sau là có tiền giúp cha mẹ . Từ đó ông theo đoàn đi lưu diễn khắp nơi. Thoạt đầu đoàn sang Lào trình diễn tại Savannakhet đến Thakhet rồi thủ đô Vạn Tượng. Sau khi gặt hái đưọc kết quả tốt đẹp ở Lào, đoàn làm một vòng lưu diễn các tỉnh VN. Đoàn ra Bắc xong trở lại Huế rồi vào Nha Trang. Tại đây, trong số khán giả thường trực, có một nữ sinh tuyệt đẹp, con nhà tử tế được nhiều chàng trai trong tỉnh theo đuổi, cô vẫn dửng dưng như không. Nhưng khi thấy chàng ca sĩ Châu Kỳ đẹp trai với giọng hát trầm ấm, quyến rũ, tim cô rung động rồi si mê chàng ca sĩ. Châu Kỳ cũng ngất ngây trước vẻ đẹp của cô nữ sinh lãng mạn và hai người yêu nhau.. Nhưng thuở ấy, cái thành kiến “xướng ca vô loại vẫn bám rễ trong đa số gia đình VN nên cha mẹ của Đoàn Thị Sum, tên cô nữ sinh , cấm không cho cô gặp Châu Kỳ nữa. Thất vọng vì tình, cô uống thuốc độc tự tử và chết ngày 10-12-1942. Ông quá đau khổ muốn chết theo người yêu, nhưng các nghệ sĩ trong đoàn ra sức an ủi, can ngăn, nhắc cho ông biết còn bổn phận đối với cha mẹ và gia đình, nên ông mới khuây khỏa phần nào. Do đó, ta mới biết được chút ít tại sao những bản tình ca của ông hồi đó đều là nhạc buồn như “Khúc ly ca”, “ Xin làm người tình cô đơn”, v.v… Nghe tin Huế bị bão lụt, ông trở về Huế thăm gia đình. Nhưng khi về đến quê mẹ Thanh Hà, ông thấy quang cảnh xác xơ, ruộng đồng bị tàn phá, ngôi nhà cũ đã bị san bằng và mẹ ông bị lũ lụt cuốn trôi đi mất. Hoàn cảnh khổ đau này khiến ông viết lên bài “Trở về”, bài hát tiêu biểu cho sự nghiệp âm nhạc của Châu Kỳ :
Về đây buồn trông cánh chim bay Về đây buồn nghe gió heo may Về đây đâu còn phút sum vầy Đâu còn thắm niềm say Lạnh lùng ngắm trời mây…
Năm 1947, ông vào Saigon hát cho đài phát thanh Pháp Á trong ban “Thần Kinh” của nhạc sĩ Mạnh Phát với các ca sĩ thời đó như Minh Diệu, Minh Tần, Mộc Lan, Linh Sơn, Phan Đức… và ban “Tiếng Thùy Dương” do chính ông làm trưởng ban. Trong thời gian này ông và ca sĩ Mộc Lan yêu nhau và trở nên vợ chồng. Cặp danh ca Mộc Lan – Châu Kỳ rất nổi tiếng thường xuất hiện trong các chương trình đại nhạc hội và chương trình phụ diễn tân nhạc tại các rạp chiếu bóng.
Cuối năm 1949, cặp ca sĩ Châu Kỳ – Mộc Lan được ông Thái Văn Kiểm, lúc ấy là Giám đốc Thông tin Huế, mời về hát cho Đài phát thanh Huế. Tình nghệ sĩ thường hay mong manh, năm 1952 cặp vợ chồng Châu Kỳ – Mộc Lan chia tay nhau. Ông buồn bã một mình trở lại Saigon. Đây cũng là thời gian buồn khổ khác của Châu Kỳ và ông đã viết lên những bản nhạc buồn như “Từ giã kinh thành”, “Mưa rơi” (viết chung với Ưng Lang) và ông định cư tại Saigon cho đến ngày nay. Ông tiếp tục hát cho các Đài phát thanh Quốc Gia, Pháp Á và đi trình diễn trong các đại nhạc hội khắp nơi trong nuớc. Sau đó, ông bị động viên và phục vụ trong đoàn Văn nghệ quân đội.
Năm 1955, Châu Kỳ kết hôn với Kha Thị Đàng, một cô gái miền Nam. Hôn lễ được cử hành tại nhà hàng Trương Ký ở Chợ Lớn. Trong số khách tham dự có rất nhiều ca, nhạc sĩ như Phạm Duy, Phạm Dình Chương, Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc, Dương Thiệu Tước, Trần Văn Trạch, Thu Hồ, Văn Phụng, Châu Hà, Hoàng Trọng, Thẩm Oánh… Đôi vợ chồng sống rất hạnh phúc và có bốn người con, ba trai, một gái . Tất cả đều lập gia đình.
Ngoài những bản nhạc nêu trên, Châu Kỳ còn có những nhạc phẩm sau : Khi ánh trăng vàng lên khơi, Chiều trên đồi thông, Cố đô yêu dấu, Đừng nói xa nhau, Em không buồn nữa chị ơi, Khuya nay anh đi rồi, Lá vàng khóc lá xanh rơi, Miền Trung thương nhớ, Giữa lòng đất mẹ, Tôi chưa có mùa xuân, Đón xuân này nhớ xuân xưa, Sao chưa thấy hồi âm, Cánh nhạn hồi âm, Con đường xưa em đi, Cuối đường kỷ niệm, Nước mắt quê hương, Em sắp về chưa, Vào mộng cùng em, Được tin em lấy chồng…
Sau 1975, ông bán căn nhà cũ và chiếc xe Vespa dọn qua Tân Qui, Nhà Bè trong căn nhà ọp ẹp với chiếc xe đạp cũ. Tại đây, ông đã sáng tác bài “Bóng mát Tân Qui” lời ca Của Kiên Giang , “Một mình với ghi-ta”, “Giọt đàn với giọt lệ”, “Bỏ phố lên rừng” , “Đôi dép ngược”…
6 – NHẠC SĨ LÊ MỘNG BẢO
Nhạc sĩ Lê Mộng Bảo sinh năm 1923 tại Huế, trong một gia đình nho giáo gốc Minh Hương. Năm 1940 lúc lên 17 tuổi, ông đã bắt đầu sống tự lập. Ông ra Bắc làm việc cho tờ báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ông học chữ Hán với cụ Phan Bội Châu, học nhạc với nhạc sĩ Đặng Thế Phong và Nguyễn Văn Thương.
Năm 1944, ông trở về Huế và làm việc tại Sở Bưu điện Huế.
Năm 1945, ông thôi việc và mở một tiệm bán sách trên đường Trần Hưng Đạo. Ông xuất bản nhạc phẩm “Quảng dường mai” của Nguyễn Hữu Ba và từ đó, ông đi luôn vào ngành xuất bản âm nhạc. Vì công việc làm ăn nên ông thường hay đi Hà Nội, do đó ông quen biết nhiều nhạc sĩ sống ở miền Bắc như Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Đình Phúc, v.v… Trong thời gian này, theo phong trào chống Pháp ông sáng tác bản nhạc đầu tay “Không làm nô lệ”.
Năm 1948 ông cộng tác với nhà xuất bản Tinh Hoa của ông Tăng Duyệt, và chính ông đã giúp ông Tăng Duyệt phát triển thành nhà xuất bản nhạc phẩm uy tín nhất VN.
Năm 1952, ông Tăng Duyệt cử ông vào Saigon lập chi nhánh nhà xuất bản Tinh Hoa 2 để xuất bản những nhạc phẩm của các nhạc sĩ miền Nam.
Năm 1956, nhà xuất bản Tinh Hoa Huế ngưng hoạt động, vì tình hình chính trị thay đổi. Tại Saigon, một mình Lê Mộng Bảo khai trương nhà xuất bản lấy tên là Tinh Hoa Miền Nam. Ông có tài kinh doanh nên ngoài việc xuất bản ông còn phân phối nhạc phẩm đến tận các nhà sách và các nhà dù bán nhạc trên các lề đường Saigon. Nhà xuất bản nhạc phẩm của ông là nhà xuất bản VN đầu tiên có tên trong danh mục các nhà xuất bản nhạc quốc tế “Worldwide music trade directory”.
Ông có nhiều nhạc phẩm sáng tác như “Đổi thay”, “Mùa ve sầu”, “Phận nghèo”, “Thân phận”, “Bọt bèo”, “Xa anh rồi”, “Không hiểu tại sao”, “Sao lừa dối em”. Ông có sáng tác chung với các nhạc sĩ khác như Văn Phụng, Mạnh Phát, Tô Kiều Ngân, Phạm Mạnh Cương… Ông cũng có bài tân cổ giao duyên “Thân phận” soạn chung với soạn giả cải lương Quế Chi. Bản này được thu thanh vào dĩa, qua giọng ca của Minh Vương và Thanh Kim Huệ.
Ông cùng các nhạc sĩ Lê Thương, Nguyễn Hữu Ba, Phạm Duy, Xuân Phát… thành lập Hội nhạc sĩ VN.
Năm 1973, ông cùng với nhac sĩ Văn Giảng, các ca sĩ Mộc Lan, Kim Tước phụ trách lớp nhạc lý tại Viện khoa học giáo dục. Ông cùng với nhạc sĩ Song Ngọc phụ trách chương trình “Hoa tình thương” trên Đài truyền hình VN và đi lưu diễn tại các tiền đồn xa xôi. Ông cũng là chuyên viên báo chí, thời Hoàng Đức Nhã làm Bộ trưởng Thông tin và Dân vận. Ông phụ trách tờ báo “Lẽ sống” ở Saigon.
Sau 1975, ông đi học tập cải tạo đến 1981. Năm 1993 ông sang Hoa Kỳ theo diện HO và đang định cư tại Cali.
7 – NHẠC SĨ LÊ MỘNG NGUYÊN
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sinh năm 1930 tại Huế, trong một gia đình trí thức và yêu văn học, nghệ thuật.
Ông có người anh tên Lê Mộng Hoàng, là một ca sĩ có giọng ca Ténor nổi tiếng trong thập niên 40 của Đài phát thanh Huế. Nhưng ông anh thích làm diễn viên điện ảnh hơn làm ca sĩ. Sau khi du học ở Pháp về ngành điện ảnh, ông trở về VN đạo diễn phim “Bụi đời” và Lê Mộng Nguyên viết nhạc cho phim.
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên sáng tác nhạc hồi còn rất trẻ, nhưng mãi đến năm 1948 ông mới cho ra mắt nhạc phẩm “Mừng Khánh Đản” nhân dịp khánh thành chùa Từ Đàm Huế, “Vó ngựa giang hồ”, “Mùa lúa mới”, “Trường ca quân tiến”…
Khi ông 19 tuổi ông yêu tha thiết một cô gái Huế tên M. và chính người đẹp này là nguồn cảm hứng để ông viết bài “Trăng mờ bên suối” (1949). Sáng tác xong, ông gởi ngay cho nhạc sĩ Thu Hồ, lúc ấy đang là một ca sĩ nổi danh của đài phát thanh Pháp Á, mặc dù trước đó hai người chưa hề quen biết nhau. Thu Hồ đã thu thanh bản nhạc này với ban nhạc Trần Văn Lý. Từ Huế, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên nghe giọng hát cũa Thu Hồ trình bày nhạc phẩm của mình, với cái radio của người hàng xóm tên Lê Văn Hy, qua làn sóng điện của đài Pháp Á. Từ đó ông tiếp tục gởi thêm những bài khác cho Thu Hồ, và hai người trở nên đôi bạn thân cho đến cuối cuộc đời.
Năm 1950, ông sang Pháp du học về ngành luật. Sau khi đỗ tiến sĩ ông dạy tại Đại học Paris về Luật hiến pháp, Khoa học Chính trị và kinh tế.
Năm 1996, ông về hưu và được bầu vào Hàn Lâm Viện Khoa học hải ngoại Pháp.
1949 – Trăng mờ bên suối, Một chiều thương nhớ, Trọng Thủy Mỵ Châu, Chiều thu Mưa Huế.
1950 – Hoàng Hoa Thôn, Nhớ Huế, Bài thơ Huế, Cô gái Huế, Về chơi thôn Vỹ Dạ, Đôi mắt nhung, Mơ Đà Lạt, Ly hương.
1951 – Bên dòng sông Seine, Xuân tha hương , Lá thư cho mẹ, Trời Âu.
1957 – Bụi đời Người đã trở về. 1980 – Xuân về nhớ mãi quê hương . 1988 – Chiều vàng trên chợ Đông Ba . 1991 – Quê tôi . 1992 – Kiếp giang hồ.
8 – NHẠC SĨ THU HỒ
Nhạc sĩ Thu Hồ tên thật là Hồ Thu sinh ngày 14-10-1919 tại làng Tân Mỹ (gần Thuận An), tỉnh Thừa Thiên. Ông có khiếu về âm nhạc và thơ lúc mới 12 tuổi. Ông là ca sĩ đầu tiên đưa những bài hát VN đầu tiên đến với thính giả, là gạch nối giữa những bài hát Pháp lời Việt do cô Kim Thoa, Thanh Tùng, Tư Chơi khởi xướng và các bài hát hoàn toàn VN. Thời gian theo học tại trường trung học Pellerin, ông ở trọ tại nhà ông bác của nhạc sĩ Trần Văn Lý và được nhạc sĩ truyền dạy cho nhạc lý Tây phương. Ông rất thích hát những bài mà Tino Rossi hay hát. Ông cũng là ca sĩ đầu tiên hát trước công chúng tại Hội Chợ Huế bài “La chanson du gondolier”.
Năm 1943 ông làm trưởng ga xe lửa Dầu Giây. Xa quê , xa gia đình, ông nhớ nhà, rồi nhớ đến hai câu ca dao “Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” khiến ông nhớ đến mẹ và viết nên bài “Quê mẹ”. Tuy là tác phẩm đầu tay, nhưng lại là bài hát tiêu biểu trong sự nghiệp âm nhạc của ông.
Năm 1947 ông tham gia vào ban “Thần Kinh nhạc đoàn ” với ban nhạc của nhạc sĩ Trần Văn Lý và các ca sĩ như Châu Kỳ, Mộc Lan, Minh Diệu, Minh Tần, Kim Nguyên, Mạnh Phát, Thu Thu, Vĩnh Lợi, vv …
Năm 1948 đài Pháp Á mở thêm chương trình tân nhạc VN và mời ông cộng tác. Từ đó, tiếng hát cũng như tên tuổi của ông đã vang đi khắp nước. Ngoài đài Pháp Á, sau này đổi tên thành Đài phát thanh Saigon ông còn hát cho đài Quân Đội. Thu Hồ không chỉ là ca sĩ mà còn là nhà soạn kịch và diễn viên sân khấu. Ông đã soạn trên một trăm vở kịch và cũng là diễn viên trong các vở kịch như “Hai chàng một áo”, “Thầy lang bất đắc dĩ”, vv… Thẩm Thúy Hằng đã mua những kịch bản của ông để diễn trên Đài truyền hình.
Năm 1954 ông đi quân dịch, làm Trưởng ban tuyên truyền lưu động Đệ I Quân khu đi ủy lạo binh sĩ ở các tiền đồn biên giới. Trong dịp này ông làm bài “Khúc ca Đồng Tháp”.
Năm 1957, mãn hạn quân dịch, ông gia nhập ban văn nghệ “Vì dân” của Tổng nha Cảnh sát Quốc gia.
Từ 1959 đến 1970, ông là giáo sư âm nhạc các trường trung học ở Saigon như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Bá Tòng, Thiên Phước, Thánh Thomas… Ông là thành viên của SACEM, hội âm nhạc của Pháp, trụ sở đặt tại Paris.
Thu Hồ còn là nhà thơ được nhiều người mến mộ. Ông cho ra mắt tập thơ mang tên “Ánh bình minh” năm 1965.
Sau năm 1975, ông kẹt lại ở Saigon. Năm 1990, Mỹ Hà con gái lớn của ông và chồng là tài tử điện ảnh Trần Quang bảo lãnh gia đình ông sang Hoa Kỳ. Ông sống tại Santa Ana với người con thứ là ca sĩ Mỹ Huyền cho đến cuối đời.
Năm 1993 ông và nhà thơ luật sư Ðỗ Đức Hậu được Hội Thi sĩ quốc tế (International Society Of Poets) bầu là “Đại sứ thi ca hòa bình” trong hội nghị thi ca họp tại Hoa Thịnh Đốn.
Để đánh dấu nhạc phẩm “Quê mẹ” tròn 50 tuổi, một đêm ca nhạc mang tên “Đêm quê mẹ” được tổ chức tại vũ trường Ritz tối 14-10-1993 tại Anaheim. Trong dịp này ông cho ra mắt tuyển tập nhạc “Hoa bốn mùa” gồm 22 bản nhạc ưng ý nhất của ông như “Quê mẹ”, “Tiếng sáo chiều quê”, “Sầu ly biệt”, “Nhớ nhau”, “Tím cả rừng chiều”, “Cô nữ sinh Đồng Khánh”, “Tà áo Trưng Vương”, “Mái tóc em gái Gia Long”, “Trăng huyền diệu” vv…
Một tuần trước khi ông từ giã cõi đời, các bạn bè đã tổ chức một đêm dạ vũ tương trợ dành cho ông tại Vũ trường Ritz. Theo ý nguyện của ông các bạn trích ra $567 góp vào quỹ tượng đài Chiến sĩ tự do.
Ông mất ngày 19-05-2000, hưỏng thọ 81 tuổi.
9 – NHẠC SĨ NGÔ GANH
Nhạc sĩ Ngô Ganh chuyên về đàn Piano. Ông không để lại gì nhiều về sự nghiệp âm nhạc của ông, chỉ vỏn vẹn vài ba bài nhạc như “Con chim non”, “Chu Văn An”, “Trần Quốc Toản”, “Mưa dầm”, “Hương Bình”, “Hương Giang dưới trăng”… Người dân xứ Huế chỉ biết ông là một nhà giáo và nhất là lối sống bình dân, giản dị, hoạt bát, lạc quan mang tính khôi hài của ông. “Thầy Ganh đi mô rứa hè ?” Đó là câu chào hỏi chân tình mà người dân Huế dành cho ông. Mọi người đều gọi ông là “thầy Ganh” vì ông là giáo sư âm nhạc trường Đồng Khánh và Khải Định, hai trường Trung học lớn tiêu biểu cho đất Thần Kinh thời bấy giờ. Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm ông giữ chức Giám đốc Đài phát thanh Huế. Ông là người có công thành lập một đội ngũ nhạc sĩ tân và cổ nhạc cho đài.
Ông còn là nhà hoạt động chính trị kín đáo. Ban đầu ông gia nhập những tổ chức theo khuynh hướng của cụ Phan Bội Châu. Một thời ông là hội viên của nhóm Tinh Thần do Bác sĩ Nguyễn Tăng Nguyên lãnh đạo. Khi ông Trần Văn Lý lên nắm chánh quyền thì nhạc sĩ Ngô Ganh có mặt trong danh sách đảng Cần lao Cách mạng, ở Huế do ông Nguyễn Chí Kỉnh lãnh đạo (không phải đảng Cần lao Nhân vị của ông Ngô Đình Nhu). Hai nhóm Nguyễn Tăng Nguyên và Nguyễn Chí Kỉnh đã bí mật quyên góp tiền bạc giúp ông Ngô Đình Diệm trên đường bôn ba hải ngoại.
Người dân xứ Huế sống thân mật với Nhạc sĩ Ngô Ganh vì ông không ham danh lợi và nhất là cái lối sống khác người của ông. Lối sống này đã ảnh hưởng đến những người sống cận kề ông. Ta hãy nghe ông Tôn Thất Lan, học trò cũ của Nhạc sĩ Ngô Ganh nói về cách sống và làm việc của ông :
“Tôi kẻ những dòng nhạc và viết lên đấy những nốt đen, trắng, tròn… đầu tiên lên bảng đen bằng phấn trắng vào năm 1950, lúc tôi theo học lớp Nhất (lớp 5 bây giờ) trường Thượng Tứ, Huế. Thầy dạy nhạc của chúng tôi bấy giờ là nhạc sĩ Ngô Ganh. Đầu thầy cắt ngắn, đã len lỏi nhiều đốm trắng, bạc. Thầy vui tươi, hoạt bát và rất hóm hỉnh. Đó là phong cách rất “lạ lùng” của thầy cô giáo thời đó. Dạy và học là hai việc làm song song tuyệt đối nghiêm chỉnh, không hề có chút đùa nghịch hay dí dỏm nào. Thầy, trò nhìn ngắm nhau bằng những đôi mắt “đứng tròng” trong thế người thẳng đứng. Trong không khí khá nặng nề u uất đó – ảnh hưởng còn vang vọng lại của một quan niệm phong kiến xa xưa, sự xuất hiện linh hoạt, đầy ấn tượng của thầy Ganh quả là một sự kiện lạ lùng làm tất cả những cậu bé phải “làm mặt nghiêm” chúng tôi ngỡ ngàng và vô cùng… sung sướng. Một vài chúng tôi mơ hồ cảm nhận rằng đời thật sự là hồn nhiên, là vui tuơi mà sao chúng tôi lại bị bắt phải quên nụ cười !
…Trên bục giảng, thầy Ganh không giảng mà hát, vừa đi vừa làm điệu bộ…. Sau thời gian “quen biết” ngắn ngủi, thầy trò xa nhau và chúng tôi cũng quên mất thầy. Rồi sau đó nghe thầy làm Quản đốc Đài phát thanh Huế. Ở đây, thầy lại cũng rất dí dỏm, thầy dùng chữ “deux couleurs” (hai màu) để phê bình một giọng ca không rõ ràng tự nhiên, khi khan khan khi the thé. Đặc biệt là thầy có minh họa rất tài tình và độc đáo “36 nụ cười”, trong đó có nụ cười “rửa đọi”, nụ cười “mở nút chai”, nụ cười “Xé áo” thật độc đáo mà ai nghe cũng cười.
Có nhiều giai thoại về thầy Ganh, hay đúng hơn về tính hay diễu cợt, châm biếm mà nhiều người không quên. Lối đặt tên của thầy thật ngẳng đời làm người nghe – những người trong cuộc – rất khó chịu, bị “chơi” mà không nói được. Thầy nuôi hai con chó, một con mang tên “Ỷ thế” , một con “Ba láp” (bậy bạ). Khi có những người khách là quan viên chức không được mời… , thầy thường kêu hai con chó ra la rầy “Đồ ỷ thế” (cậy quyền), “Đồ ba láp”.
Nhà thầy có hai người giúp việc đều mang tên rất đẹp, rất khuê các như Tuyết Mai, Kim Ngọc, hay đại loại như thế trong khi con gái của thầy thì lại mang những tên rất bình dị, dân dã như Xoài, Mít, Ổi… khách rất đỗi ngạc nhiên khi được giới thiệu con gái và người giúp việc của thầy, tình thế thật tréo cẳng ngỗng…
Món quà thầy Ngô Ganh biếu cho các thế hệ mai sau là một lối sống bình dị, lạc quan, một phong cách tự nhiên hài hước giúp cho mọi người vào thập niên 40, 50 quên đi, bỏ đi một quan niệm sai lầm của xã hội phong kiến, trong đó người nghệ sĩ – người làm đẹp cuộc đời – là “xướng ca vô loại”. Đáng buồn và đáng giận thay!”
Ông mất năm 1980 trong cảnh nghèo khổ, trong sự quên lãng của nhiều người.
10 – NHẠC SĨ ĐỖ KIM BẢNG
Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng gốc Quảng Nam, sinh năm 1932 tại Huế. Ông là bạn đồng khoá với nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương từ trường trung học Khải Định cho đến trường Cao đẳng Sư phạm và Đại học Văn khoa Hà Nội. Ông học đàn với nhạc sĩ Lê Quang Nhạc, học lóm nhạc lý Tây phương với nhạc sĩ Văn Giảng và học thêm cổ nhạc với nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Những năm học trung học ông tham gia sinh hoạt văn nghệ trong trường và trong Gia đình Phật tử với các bạn như Phạm Mạnh Cương, Hồ Đăng Tín, Hoàng Nguyên, Kiêm Đạt, Diên Nghị, Tạ Ký (thơ), Minh Tuyền (nhiếp ảnh), Lữ Hồ (văn học)…
Năm 1949, ông sáng tác ca khúc “Mục Kiền Liên” và trình bày trong mùa Vu Lan tại Huế.
Năm 1951, ông làm bài “Mùa thi” được ban hợp ca Thăng Long dựng thành nhạc cảnh và trình diễn nơi ở trong nước.
“Hôm nay mùa thi , bao nhiêu người đi Xe rộn ràng, lớp ồn ào, niềm vui vấn vương.. Thi ơi là thi, sinh mi làm chi , “bay” nghẹn ngào, “bám” ồn ào, buồn vui vì mi” .
Sau đó được ban Gió Nam của nghệ sĩ Trần Văn Trạch cùng ban Thăng Long trình diễn “Mùa thi” tại Hà Nội năm 1954. Ban Thăng Long đã làm bài hát này nổi tiếng và đưa tên tuổi ông đến giới hâm mộ nhạc VN.
Năm 1953, ông ra Hà Nội học tại Đại học Văn khoa và Cao đẳng Sư phạm. Trong thời gian này ông học thêm âm nhạc với nhạc sĩ Hùng Lân. Cuối năm 1954, ông di cư vào Saigon .
Năm 1955, ông tốt nghiệp Cao đẳng Sư Phạm, được bộ Giáo dục biệt phái sang bộ Quốc phòng và dạy tại trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt từ 1955 đến 1960. Trong thời gian này ông sáng tác bản “Khúc hát ngày mai” được ban Thăng Long trình bày trên đài phát thanh Saigon và đài Quân đội.
Năm 1960 về lại bộ Giáo dục ông dạy tại trường Trần Lục rồi Nguyễn Du. Trong năm này ông cho ra đời bài “Mưa đêm ngoại ô” và năm 1963 bài “Bước chân chiều Chủ nhật” do Thanh Thúy hát.
Năm 1965 ông nhập ngũ khóa 21 trường Võ bị Thủ Đức. Ra trường với cấp bậc chuẩn úy, ông làm việc dưới quyền của thi sĩ Tô Kiều Ngân, lúc ấy là đại úy Trưởng phòng và thi sĩ Tô Thùy Yên, trung úy phụ tá Trưởng phòng của Phòng Văn nghệ Cục Tâm lý chiến. Tại đây ông cùng làm việc với các nhạc sĩ khác như Lam Phương, Duy Khánh, Trầm Tử Thiêng, Song Ngọc, Phạm Minh Cảnh, Anh Việt Thu, vv… Cùng phục vụ trong Cục Tâm lý chiến ông cũng đã gặp và quen biết các nhạc sĩ cùng các văn, nghệ sĩ như Trần Trịnh, Trần Thiện Thanh, Mai Trung Tỉnh, Tường Linh, Du Tử Lê, Phạm Lê Phương, Tạ Tỵ….Cũng trong thời gian này ông viết bản trường ca “Những người đi giữ quê hương” được Ban hợp ca Quân đội trình bày tại rạp Thống Nhất nhân ngày Quân lực VNCH năm 1969, dưới sự điều khiển của nhạc sĩ Vũ Minh Tuynh và Ngô Mạnh Thu .
Năm 1969 ông được biệt phái về lại bộ Giáo dục và tiếp tục dạy học cho đến tháng 4-1975. Sau đó, ông đi học tập cải tạo đến năm 1978.
Năm 1980, ông vượt biên rồi được định cư tại Hoa Kỳ. Ông đi học lại nghề cũ và dạy học ở Boston cho đến 1999 thì về hưu. Trong thời gian ở Mỹ ông phổ nhạc bài thơ “Tháng ba đi hành quân” của Trần Hoài Thư.
Ngoài những nhạc phẩm nêu trên ông còn những sáng tác khác như : Mưa đêm ngoại ô, Sương đêm, Vòng tay giữ trọn ân tình, Vui dựng gia đình, Xin dìu nhau đến tình yêu.
11 – NHẠC SĨ HOÀNG NGUYÊN
Nhạc sĩ Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc sinh ngày 03-01-1932 tại Quảng Trị, nhưng lớn lên và học hành tại Huế. Ông mất ngày 21-08-1973 tại Saigon trong một tai nạn xe cộ lúc ông 41 tuổi là lúc tài năng sáng tác đang lên.
Ông học trung học tại trường Quốc Học Huế, đậu Cử nhân Anh văn tại Đại học Saigon, dạy anh văn và âm nhạc tại Đà Lạt, Vĩnh Long, Saigon.
Ông phụ trách ban nhạc đại hòa tấu “Hương thời gian” trên Đài truyền hình VN và chương trình “Tiếng thời gian” trên Đài phát thanh Saigon.
Ông có nhiều kỷ niệm với Đà Lạt và hai nhạc phẩm nói về miền cao nguyên này là “Ai lên xứ hoa đào”, “Bài thơ hoa đào” trở thành tác phẩm tiêu biểu của ông. Hai tác phẩm này hiện nay được nữ ca sĩ Ánh Tuyết trình bày rất thành công, đã làm rung động những tâm hồn yêu nhạc.. Nhạc đã hay mà lời lại như thơ.
Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi Nghe hơi gió len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi Thông reo bên suối vắng lời dặt dìu như tiếng tơ Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ Nghe tâm tư mơ ước chuyện Đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa …
Về xứ Huế, ông đã để lại cho đất Thần Kinh nhạc phẩm “Tà áo tím”, một bài hát trữ tình lãng mạn, êm đềm, thơ mộng và đã được ca sĩ Hà Thanh ru vào lòng người :
Một chiều lang thang bên dòng Hương Giang Tôi gặp một tà áo tím nhẹ thấp thoáng trong nắng vương Màu áo tím sao luyến thương, màu áo tím sao vấn vương Rồi lòng bâng khuâng theo màu áo ấy, màu áo tím hôm nào Tình quyến luyến ban đầu, chập chờn tâm tư màu áo thoáng chiêm bao…
Những ca khúc khác của Hoàng Nguyên gồm có : Anh đi mai về, Anh đi về đâu, Bài Tango riêng cho em, Cho người tình lỡ, Đường nào em đi, Đường nào lên Thiên thai, Duyên nước tình trăng, Em chờ anh trở lại, Lá rụng ven sông, Lời dặn dò, Sao em không đến, Thuở ấy yêu nhau.
12 – NHẠC SĨ NHỊ HÀ
Nhạc sĩ Nhị Hà tên thật là Lê Quang Mại, sinh ngày 24-08- 1935 tại Quảng Bình, nhưng lớn lên tại Huế và học trường trung học Khải Định. Sau khi đỗ Tú tài 2, ông vào Saigon. Sáng tác của ông không nhiều, nhưng mọi người đều biết tên ông qua nhạc phẩm “Mẹ tôi”, và nhất là từ khi ca sĩ Như Quỳnh hát bài này trên sân khấu Thúy Nga.
Mẹ tôi tóc xanh nhuộm bạc tháng ngày Mẹ tôi đau buồn nặng trĩu đôi vai Bao năm nuôi đàn trẻ thơ nhỏ dại Cầu mong con mình có một ngày mai…
Nhạc phẩm thứ hai của Nhị Hà được nhiều người biết đến lá bài “Trở về thôn cũ” nói lên cảnh quê hương điêu tàn đổ nát vì sự tàn phá của chiến tranh trong thời chống Pháp :
Nhưng sao hôm nay tôi trở lại quê xưa Tuy con sông xưa vẫn êm đềm uốn quanh Còn đâu đồng xanh, còn đâu gia đình Còn đâu bóng hình mẹ già mến yêu…
Ngoài hai tác phẩm tiêu biểu trên, ông còn sáng tác các bài như : Đừng trách người đi, Lá thư xuân, Nhớ một mùa hoa…
13 – NHẠC SĨ LÊ CAO PHAN
Nếu không có bài hát “Phật giáo Việt Nam” được dùng làm bài ca chính thức cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, thì rất ít người VN biết đến nhạc sĩ Lê Cao Phan.
Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc, Nam, Trung từ đây Một lòng chúng ta tiến lên vì Đài Sen…
Trước đây, ông chỉ sáng tác những ca khúc vui tươi dành cho thiếu nhi, cho học sinh, nên thường những ai làm nghề nhà giáo mới biết đến ông. Các bài hát vui của ông dành cho thiếu nhi gồm có : Bài ca tình bạn, Ca múa học vui, Hai chú gà con, Nhi đồng múa ca, Ra chơi, Tập tầm vông, Tiếng còi đánh thức, Vui đi học.
14 – NHẠC SĨ LÊ QUANG NHẠC
Hiện nay người ta chỉ biết nhạc sĩ Lê Quang Nhạc là người Huế. Ông là giáo sư âm nhạc của vài trường trung học ở cố đô, đồng thời là nhạc sĩ dương cầm trong ban nhạc của Đài phát thanh Huế trong thập niên 50. Tác phẩm duy nhất của ông còn lại đến bây giờ là nhạc phẩm “Xa quê”.
15 – NHẠC SĨ PHẠM MẠNH CƯƠNG
Nói đến nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương , người yêu nhạc nhớ đến “Thu ca”, một trong những ca khúc được thu thanh nhiều nhất từ trong nước đến hải ngoại, và cũng là nhạc hiệu quen thuộc của những chương trình ca nhạc của ông tại các Đài phát thanh và truyền hình Saigon trước năm 1975.
Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sinh quán tại Huế, tỉnh Thừa Thiên. Ông theo học bậc trung học tại trường Khải Định, đỗ Tú tài 2 năm 1953. Sau đó, ông ra Hà Nội tiếp tục việc học, tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm và Cử nhân Văn khoa 1955.
Từ 1955 đến 1958, ông là giáo sư tại trường trung học Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.
Từ 1958 đến 1975, ông là giáo sư môn triết và môn văn tại trường trung học công lập Pétrus Ký và các trường tư thục lớn ở Saigon như Văn Học, Nguyễn Văn Khuê, Bồ Đề, Hưng Đạo, Văn Lang, Lê Bảo Tịnh, Huỳnh Thị Ngà, Thượng Hiền…
Từ 1960 đến 1975, ông vừa dạy học vừa hoạt động âm nhạc. Ông là trưởng ban các chương trình “Hoa thời đại” của Đài Phát thanh Saigon, “Tiếng hát hậu phương”, “Nghệ sĩ và chiến sĩ” của Đài Tiếng nói Quân đội, “Chương trình Phạm Mạnh Cương” của Đài truyền hình. Ông còn là giám đốc trung tâm “Tú Quỳnh”, một trung tâm băng nhạc quy mô đầu tiên tại Saigon.
Năm 1980, ông rời Việt Nam và định cư tại thành phố Montreal, tỉnh Quebec, Canada. Ông tiếp tục hoạt động văn nghệ : thành lập ban nhạc Phạm Mạnh Cương với hai người con là nhạc sĩ Phạm Mạnh Quỳnh và Phạm Lê Diễm Phúc. Đồng thời ông là chủ biên nguyệt san Thẩm Mỹ từ năm 1994 đến nay.
Một số nhạc phẩm nổi tiếng của ông đã xuất bản và thu thanh tại VN trước 1975 : Thung lũng hồng, Mắt lệ cho người tình, Tóc em chưa úa nắng hè, Thương hoài ngàn năm, Tình yêu đã mất, Giã từ cố đô, Về thăm cố đô, Loài hoa không vỡ, Tháng bảy mưa ngâu, Sầu ly biệt, Nhạc khúc mừng xuân, Thu về trong mắt em…
Tháng 04-2003, nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương đã được trung tâm Thúy Nga mời xuất hiện trên băng Vidéo “Paris By Night 70”, chủ đề “Thu ca” cùng với hai nhạc sĩ Lê Dinh và Trường Sa.
16 – NHẠC SĨ TRỊNH CÔNG SƠN
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sinh ngày 28-02-1939 tại Lạc Giao (cao nguyên miền Trung) trong một gia đình trung lưu gốc Thừa Thiên. Ông lớn lên tại Huế và đỗ Tú tài ban triết học ở trường Chasseloup Laubat Saigon. Ông tự học nhạc, học sáng tác không qua một trường lớp nào cả. Trong thập niên 60, nhạc của ông xuất hiện như một ngôi sao sáng trong vòm trời âm nhạc VN. “Ướt mi” là tác phẩm đầu tay được sáng tác năm 1958 . Ông mất ngày 01-04-2001 tại Saigon.
Tác phẩm âm nhạc của ông có trên 600 ca khúc, với nội dung gồm 3 khuynh hướng : tình yêu, quê hương (mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến) và thân phận. Nhạc của ông có nhiều cái hay cái lạ, không cầu kỳ, không ngoại lai, không ồn ào, luôn luôn giữ được bản sắc dân tộc. Nhạc của ông không bài nào giống bài nào, cũng không tương tự với một nhạc phẩm nào của người khác. Mỗi bài hát của T.C.Sơn có một nét độc đáo riêng. Ngay cả lời ca trong nhạc T.C.S. cũng có một sắc thái riêng, không giống với các nhạc sĩ khác. Lời ca của TCS không sống sượng theo lối tả chân, không văn chương theo lối mòn sáo rỗng hay rập khuôn theo những qui ước có sẵn. TCS có lối sử dụng ngôn ngữ một cách khéo léo, mới lạ để diễn tả một thứ tình cảm lâng lâng, mơ hồ, phải nhờ cảm tính người ta mới hiểu được. Ví dụ TCS nói đến tình yêu đôi lứa mà không dùng đến chữ “yêu” vì đã có bàn tay, mái tóc, đôi mắt… nói hộ cho rồi :
Mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao Nghe lá thu mưa reo mòn gót nhỏ Đưòng dài hun hút cho mắt thêm sâu…
(DIỄM XƯA)
Lùa nắng cho buồn vào tóc em Bàn tay xanh xao đón ưu phiền Ngày xưa sao lá thu không vàng Và nắng chưa vào trong mắt em…
(NẮNG THỦY TINH)
Mỗi bài ca là một bài thơ. Ngoài chất thơ ra trong nhạc TCS còn mang chút triết lý về thân phận con người, hạnh phúc, khổ đau, lẽ vô thường của kiếp sống :
Bao nhiêu năm làm kiếp con người Chợt một chiều tóc trắng như vôi Lá úa trên cao rụng đầy Cho trăm năm vào chết một ngày…
(CÁT BỤI)
Có điều gì gần như niềm tuyệt vọng Sông bao lần sông đã ra đi Những ngàn năm trôi đến bây giờ Sông ra đi hay mới bước về …
(GẦN NHƯ NIỀM TUYỆT VỌNG)
Ôi tiếng buồn rơi đều Nhìn lại mình đời đả xanh rêu…
(TÌNH XA)
TCS đã từ giã cõi đời, ông đã trở về với “Cát bụi”, “Một cõi đi về” của kiếp con người vì ông cũng chỉ là một “Đóa hoa vô thường”. Đường trần ông đã đi qua, “Dấu chân địa đàng” ông để lại là một gia tài âm nhạc tuyệt vời gồm có các tuyển tập :
1967 – Ca khúc Trịnh Công Sơn – Tình Khúc Trịnh Công Sơn – Ca khúc da vàng
1968 – Kinh Việt Nam
1969 – Ca khúc da vàng 2 – Ta phải thấy mặt trời ..
1972 – Như cánh vạc bay – Cỏ xót xa đưa – Khói trời mênh mông – Tự tình khúc – Phụ khúc da vàng.
1973 – Lời đất đá cũ – Nhân danh việt Nam.
1989 – Một cõi đi về .
1991 – Em còn nhớ hay em đã quên – Cho con.
1992 – Lời của dòng sông – Khói trời mênh mông 2.
1993 – Bên đời hiu quạnh – Trong nỗi đau tình cờ – Thuở ấy mưa hồng.
1995 – Những bài ca không năm tháng.
1999 – Tuyển tập ca khúc Trịnh Công Sơn 1, 2, 3, 4, 5, 6.
Ngoài các nhạc sĩ chào đời ở Huế hoặc lớn lên và học hành tại Huế, còn có những nhạc sĩ tuy không sinh ra ở Huế nhưng có một thời gian sống hoặc làm việc ở đây, rất nặng lòng với đất cố đô và đã sáng tác nhiều ca khúc bất hủ dành cho xứ Huế. Trong số nhạc sĩ này ta có Duy Khánh, Hoàng Thi Thơ, Dương Thiệu Tước, v.v…
17 – NHẠC SĨ DUY KHÁNH
Nhạc sĩ Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp, sinh năm 1936 tại làng An Cư, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông thuộc dòng họ quan phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường triều Nguyễn. Tuy không sống ở Huế nhưng Quảng Trị rất gần với cố đô, nên ông thường lui tới với các bạn bè ở đây. Ông rất nặng tình với xứ Huế và là người nhạc sĩ có nhiều nhạc phẩm nói về quê hương miền Trung của ông như : Ai ra xứ Huế, Sầu cố đô, Nén hương yêu, Sao không thấy anh về, Thương về miền Trung, Bao giờ em quên, Biết trả lời sao, Lối về đất mẹ, Huế đẹp Huế thơ.
Những ngày cuối đời, ông sống tại Hoa Kỳ và cho xuất bản hai tập nhạc gồm những nhạc phẩm được sáng tác từ trước đến nay. Tập 1 mang tựa đề “Huế đẹp và thơ”, tập 2 “Nỗi niềm riêng”.
Ngày 10-01-2003, một buổi dạ vũ mang tên “Tạ tình tiếng hát và dòng nhạc Duy Khánh” được tổ chức tại vũ trường Majestic, thành phố Huntington Beach, quận hạt Orange County, để nhớ công lao của ông đã đóng góp cho nền âm nhạc VN.
18 – NHẠC SĨ HOÀNG THI THƠ
Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh ngày 01 – 07 – 1928 tại làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông học trung học tại Huế. Ông theo kháng chiến một thời gian, sau đó vào Saigon lập nghiệp và sinh hoạt âm nhạc cho đến 1975. Sự đóng góp to tát của ông cho nền âm nhạc VN mọi người đều biết. Vì quê ở miền Trung, nên nhạc của ông cũng mang âm hưởng tiếng hò giọng hát miền Trung. Riêng về xứ Huế, ông có những nhạc phẩm như “Chiều cố đô”, Tâm tình gửi Huế, ”…
Năm 1975, khi biến cố 30-04 xảy ra, lúc đó, ông đang hướng dẫn đoàn văn nghệ VN trình diễn ở Nhật. Sau đó ông định cư tại Hoa Kỳ và mất ngày 23 – 09 – 2001 tại Glendale , Nam Cali , thọ 74 tuổi .
19 – NHẠC SĨ DƯƠNG THIỆU TƯỚC
Ông là nhạc sĩ gốc miền Bắc nhưng nổi danh qua hai bản nhạc miền Trung : ‘Tiếng xưa” và “Đêm tàn Bến Ngự”. Ông sinh ngày 15 – 05 – 1915 tại làng Vân Đình , huyện Sơn Lãng , phủ Ứng Hòa , tỉnh Hà Đông, trong một gia đình nho học truyền thống. Năm 1930 ông gia nhập nhóm Myosotis, là nhóm nhạc sĩ đầu tiên khởi xướng tân nhạc VN. Ông chủ trương viết “nhạc Tây theo điệu ta”.
Trong thời gian ông và vợ, là ca sĩ Minh Trang, vào Huế thăm bạn bè đồng thời nghiên cứu về dân ca Huế và cổ nhạc miền Trung, ông đã dùng ký âm pháp Tây phương ghi lại một cách chính xác những câu hò, điệu hát của địa phương như hò mái đẩy, ca Huế, nhạc cung đình…
Cái âm hưởng buồn mênh mông của cổ nhạc Huế bắt nguồn từ tiếng hát ai oán của người dân Chàm mất nước đã ảnh hưởng đến người nhạc sĩ miền Bắc, và ông đã sáng tác bản “Tiếng xưa”. Rồi trong một đêm trăng ông cùng các bạn nghệ sĩ tổ chức đi thuyền ca hát trên sông Hương, một thú vui tao nhã của các văn nhân, nghệ sĩ lúc bấy giờ. Đêm về khuya, mọi người đều đã an giấc trong khoang thuyền. Không ngủ được, ông ra mũi thuyền ngồi ngắm trăng. Giữa cảnh im lặng trời nước mênh mông, nhìn những con đò cập bến sát bên nhau khiến ông bâng khuâng, cảm hứng dạt dào, ông liền lấy sổ tay ra ghi chép và viết nên nhạc phẩm “Đêm tàn Bến Ngự”. Hai ca khúc bất hủ này trở thành tác phẩm tiêu biểu ông. .
P/S: Bài viết này được gửi cho đài RFA đăng nhiều kỳ, tác giả ký tên Nguyễn Văn Chánh, sau đó một số báo hải ngoại đăng lại, tron nước có trang khamphahue.com.vn đăng nguyên văn. Admin nhận được bài này qua email của Phan Nữ Lan do một người bạn của Nữ Lan chuyển. Hỏi về tác giả Nguyễn Văn Chánh thì người bạn của Nữ Lan cũng không biết. Theo văn phong và mình đã đọc một số bài viết trên website và đặc san kỷ niệm 70 năm Trường Lycée Blaise Pascal của thầy Nguyễn Văn Chánh – cựu GS Pháp văn trường Quốc Học Huế và dạy sinh ngữ căn bản cho SV ĐH Huế, thầy Chánh người Đà Nẵng nhưng làm rể Huế (anh em cọc chèo với BS Lê Văn Bàng), thầy Chánh mở hiệu sang băng nhạc Sóng nhạc đầu tiên ở Huế, thời kỳ băng Akai, nên am hiểu nhiều về âm nhạc. Hiện nay thầy Chánh cũng định cư tại Montréal Canada. Nên mình nghĩ bài viết này là của Thầy Nguyễn Văn Chánh. Các bạn cho biết ý kiến nhé!