Mình giận Bạn ấy đã hơn nửa tháng rồi, không thèm gặp. Tan học, mình đứng trên lầu nhìn xuống thấy Bạn ấy đứng tựa cột đèn chờ là mình đi về cửa khác.
Hôm qua mình nhận được lá thư của Bạn ấy gửi từ Bưu Điện về nhà. Bạn nói sắp “đi xa”, muốn gặp mình. Hồi đó làm gì có điện thoại di động để a lô cho nhau?
Sáng nay, lớp mình tan học trể hơn các lớp khác 15’ vì Thầy bắt cả lớp ôn bài chuẩn bị thi Lục cá nguyệt. Mình ra cửa sổ nhìn xuống đã thấy Bạn ấy tựa cột đèn. Không vội vàng. Mình lấy cái lược trong cặp ra chải lại mái tóc. Và cột gọn gàng bằng một cọng thun. Đuôi tóc giống như cái đuôi gà vậy.
Mình xuống sân, ra cổng. Mình mạnh dạn đến trước mặt Bạn ấy và nói:
– Tui gặp nhưng tui vẫn còn giận nha.
Mình thoáng thấy hình như Bạn ấy đang cố giấu nụ cười. Uh, đứng đó cười đi.
Mình quay đi. Nhà trường đã có thông báo cấm hẹn hò bạn trai đưa đón trước cổng trường. Phải đón tuốt đằng xa. Vi phạm sẽ bị kỷ luật.
Bạn chạy xe theo sau. Khi đi ngang với mình, Bạn nói:
– Thứ 2 tới anh đi Mỹ rồi.
Mình im lặng. Bạn nói tiếp:
– Anh sang đó học lái phi cơ.
Mình vẫn im lặng. Mình đang giận mà. Bạn cũng im lặng.
Con đường về nhà trưa nay đầy nắng. Nắng cuối năm như đốt lửa trên má mình. Mình hỏi bâng quơ:
– Lái phi cơ có gì khó mà phải qua tuốt bên Mỹ học?
Mình liếc thấy Bạn cười, vẫn như trêu chọc mình:
– Lái phi cơ không khó. Lái phi công mới khó.
À há. Hiểu mà. Người thông minh nên nói là hiểu liền mà. Mình quay đi:
– Xíiiiiiiii. Ai thèm lái mà khó với dễ.
Bạn ấy hay nói câu đó cho đến lúc thành “giặc lái” và bay mất trên bầu trời Sài Gòn yêu dấu của mình.
Buổi trưa cùng nhau chạy xe trên những con đường quen thuộc. Một câu xin lỗi nhẹ nhàng. Một nụ cười nhẹ nhàng.
Nắng Sài Gòn như trãi lụa dưới những vòng xe qua. Đã qua lâu rồi những ngày xưa ấy. Làm sao để mình có được một vé trở về ngày xưa?
“Có sáng nắng – Có chiều mưa Có con đường nhỏ anh đưa em về.” (KC)
Người thực hiện:Thầy Thuận Thiên (Viện trưởng Viện Phong Thủy – Chuyên gia Nghiên cứu Văn hóa Phương Đông)
MƯA HUẾ VÀ CÂU CHUYỆN CÁI “THAU” HỨNG NƯỚC
Tôi viết bài viết này với 2 điều.
01. Khuyến khích mọi người cố gắng tăng Mộc trong mỗi nhà, mỗi nơi, (xin đọc đoạn vườn quốc gia Bạch Mã ở trong bài viết).
02. Là trả lời ý của độc giả Huỳnh Luyên: “thầy nói đúng hay nhưng chưa đầy đủ vì Huế cũng là miền Trung nhưng tại sao lượng mưa ở huế có nơi 1600mm mà Huế ngập ít hơn Phú Yên” (Tại Sao Mưa Huế Lớn Mà Ngập Ít Hơn)
Câu hỏi này đã chạm đúng vào “Long Mạch” của vùng đất Cố Đô. Huế – mảnh đất Thần Kinh, nơi các bậc Đế Vương xưa kia chọn làm kinh đô, quả thực sở hữu một hệ thống “Phòng thủ Thủy chiến” (kết hợp cả tự nhiên và nhân tạo) vô cùng đặc biệt mà hiếm nơi nào có được.
Để trả lời cho câu hỏi tại sao vùng “rốn mưa” 1600mm vẫn giữ được sự bình ổn, câu trả lời nằm ở hệ thống liên hồ chứa được ví như “Thiên La Địa Võng” bủa vây thượng nguồn.
Huế sở hữu 3 “Gã Khổng Lồ” đứng canh gác ngày đêm. Nếu 3 gã này “ngoan”, Huế bình yên, nếu 3 gã này “nổi loạn”, Huế thất thủ.
Để hiểu tại sao Huế “đỡ” hơn Phú Yên, chúng ta phải so sánh hai yếu tố cốt tử: Lưu Vực (Nguồn nước về) và Dung Tích (Nơi chứa nước). Nói một cách hình tượng, đó là sự khác biệt giữa “Cái Thau” và “Cái Ca”.
Hôm nay, chúng ta sẽ giải mã bí mật của dòng Sông Hương và hệ thống hồ chứa nơi đây.
PHẦN I: GÓC NHÌN DƯƠNG – KHOA HỌC KỸ THUẬT & THỦY LỢI
Nhìn vào bản đồ thủy lợi của Huế, ta thấy hiện lên một thế trận “Thập Diện Mai Phục” (10 mặt giáp công) để trị thủy vô cùng bài bản:
– Thượng Nguồn (Nguồn sinh thủy): Rừng Quốc gia Bạch Mã (Giữ nước, giữ đất).
– Trung Du (Hồ chứa cắt lũ): Tả Trạch, Bình Điền, Hương Điền (3 cái thau hứng nước khổng lồ).
– Nội Đô (Hệ thống tiêu thoát): Hộ Thành Hào, Sông Ngự Hà, Hồ Tịnh Tâm (Mao mạch tản nước).
– Hạ Lưu (Hệ thống kiểm soát): Đập Thảo Long (Cửa van cuối cùng).
– Cửa Thoát (Minh Đường): Phá Tam Giang & Cửa biển Thuận An (Bụng chứa khổng lồ).
GIẢI MÃ “THẾ CHÂN KIỀNG” TRẤN GIỮ CỐ ĐÔ.
Huế may mắn sở hữu “Tam Kiếm Hợp Bích” (Tả Trạch – Bình Điền – Hương Điền) án ngữ thượng nguồn. Cụ thể sức mạnh của từng vị trí như sau:
01. Hồ Tả Trạch: “Vị Tướng Quân” Hùng Mạnh Nhất (Cứu Tinh Của Sông Hương): Đây là công trình quan trọng số 1, là “Ông Trùm” trong việc bảo vệ TP. Huế.
Vị Trí: Nằm trên dòng chính Tả Trạch (nhánh lớn nhất của sông Hương), thuộc xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy.
Bản Chất: Đây là Hồ Thủy Lợi (kết hợp phát điện phụ).
Khác Biệt Cốt Tử: Vì là Thủy Lợi nên mục tiêu số 1 là An toàn cho dân, không phải là lợi nhuận ở điện. Do đó, quy trình vận hành của nó linh hoạt hơn nhiều so với các hồ thủy điện đơn thuần.
Sức Mạnh: Với dung tích toàn bộ lên tới 646 triệu m³, Tả Trạch sở hữu một dung tích phòng lũ (Cái Thau Rỗng) cực lớn! Vào mùa lũ, nó luôn để dành một khoảng trống khổng lồ để sẵn sàng “nuốt trọn” những trận mưa lớn nhất từ thượng nguồn đổ về nhánh Tả Trạch.
Vai Trò: Chặn đứng dòng nước từ dãy Bạch Mã đổ xuống. Nếu không có Tả Trạch, nước lũ sẽ lao thẳng về ngã ba Tuần, hợp với Hữu Trạch và nhấn chìm Đại Nội chỉ trong vài giờ.
Đây chính là “Người hùng thầm lặng”, nhiệm vụ số 1 là CẮT LŨ.
02. Thủy Điện Bình Điền “Tả Hữu Hộ Pháp” (Trấn Giữ Nhánh Hữu Trạch): Nếu Tả Trạch trấn giữ bên Trái (nhìn từ biển đông), thì Bình Điền trấn giữ phía trước.
Vị Trí: Nằm trên sông Hữu Trạch, thuộc xã Bình Điền, thị xã Hương Trà.
Bản Chất: Là hồ Thủy Điện.
Sức Mạnh: Dung tích 423 triệu m³, cột nước cao, địa hình dốc.
Thế Trận: Sông Hữu Trạch và Tả Trạch gặp nhau tại Ngã Ba Tuần (Bằng Lãng) để tạo thành sông Hương chảy vào thành phố.
Nguy Cơ & Thực Tế: Nếu Bình Điền và Tả Trạch cùng lúc “Xả Hết Công Suất”, thì tại ngã ba Tuần sẽ xảy ra hiện tượng “Thủy Kích Cộng Hưởng”, nước dâng lên đột ngột khiến TP. Huế không đỡ nổi.
Tuy nhiên, quy trình vận hành liên hồ buộc hai ông này phải “nhìn mặt nhau”. Ông Tả Trạch (Thủy lợi) thường sẽ hy sinh giữ nước nhiều hơn để ông Bình Điền (Thủy điện) xả từ từ, tránh để hai dòng lũ gặp nhau cùng lúc.
03. Thủy Điện Hương Điền “Ông Vua” Vùng Phía Bắc – Tay Phải (Trấn Giữ Sông Bồ): Đây là cái tên ít được nhắc đến hơn sông Hương.
Vị Trí: Nằm trên sông Bồ (con sông chảy song song phía Bắc sông Hương), thuộc thị xã Hương Trà.
Sức Mạnh: Dung tích 820 triệu m³ (Lớn hơn cả Tả Trạch về tổng dung tích). Đây là hồ chứa có khả năng cắt lũ cực tốt cho lưu vực sông Bồ.
Mối Liên Hệ: Sông Bồ không chảy qua Đại Nội, nhưng nó đổ về Phá Tam Giang (cùng chỗ thoát với sông Hương).
Nếu Hương Điền xả mạnh, Phá Tam Giang đầy nước, nước sông Hương sẽ không thoát ra được biển, gây ngập ngược lại cho TP. Huế (Hiệu ứng dềnh).
(Muốn biết thêm về hiệu ứng dềnh, vui lòng xem dưới bình luận)
Tổng Kết Cục Diện: Nhờ 3 cái “túi” khổng lồ này, dù mưa tại chỗ 1600mm, nhưng lượng nước đổ về hạ du đã được giữ lại phần lớn trên núi, sau đó xả từ từ.
04. “Huyền Vũ” Vững Chãi – Vườn Quốc Gia Bạch Mã (Sức Mạnh Của Hành Mộc): Tại sao hồ Tả Trạch, Hữu Trạch lại phát huy tác dụng tốt?
Là nhờ sau lưng nó có một “Hậu Phương Mộc” vĩ đại: Vườn Quốc Gia Bạch Mã.
Góc nhìn Khoa học: Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh giữ rừng tốt nhất miền Trung. Khối núi Bạch Mã với thảm thực vật dày đặc đóng vai trò như một miếng bọt biển khổng lồ. Nó giữ lại nước, giảm xói mòn đất. Do đó, nước lũ đổ về hồ ở Huế thường ít bùn đất hơn, dòng chảy đỡ hung hãn hơn so với các vùng đồi trọc.
PHẦN II: HỆ THỐNG “MAO MẠCH” VÀ “THỦY QUAN” HẠ LƯU
Các yếu tố trong nội thành Huế là những yếu tố cực kỳ đắt giá. Nếu “Vĩ mô” là: Đập lớn trên núi, Phá lớn ngoài biển. Thì “Vi mô” là: Hệ thống tiêu thoát nước ngay trong lòng thành phố.
01. “Vũ Khí Bí Mật” Trong Lòng Phố: Hộ Thành Hào & Hồ Điều Hòa:
Nếu 3 con đập trên núi là cái “Thau lớn”, thì hệ thống đường nước trong lòng Kinh thành Huế chính là những chiếc “ống dẫn” và “bể chứa mini” cực kỳ thông minh mà người xưa để lại.
– Hệ Thống Hộ Thành Hào & Ngự Hà: Kinh thành Huế không chỉ có tường thành, mà được bao bọc bởi hệ thống hào nước sâu và rộng, kết nối với sông Ngự Hà chảy xuyên qua nội thành.
Thời bình, nó là đường giao thông thủy, thời chiến là hào phòng thủ, còn khi mưa lũ, nó chính là hệ thống kênh thoát nước khổng lồ. Nước mưa trong nội thành sẽ nhanh chóng dồn xuống các hào này rồi thoát ra sông Hương.
– Các “Túi Nước” Nội Đô: Huế nổi tiếng với các hồ sen, hồ trong các phủ đệ, lăng tẩm (Hồ Tịnh Tâm, Hồ Tân Nguyệt…) và hệ thống ao hồ dày đặc trong các khu nhà vườn (Kim Long, Vỹ Dạ).
Đây là hàng trăm cái “hồ điều hòa mini” phân tán khắp thành phố. Khi mưa lớn, các ao hồ này sẽ “uống” bớt một phần đáng kể, giúp giảm tải cho hệ thống cống rãnh.
02. “Mộc Thổ Trấn Thủy Lụt” – Kiến trúc Nhà Vườn & Công viên Sông Hương: Khác với Hà Nội hay Sài Gòn (đất chật người đông, bê tông kín mít), Huế giữ được một đặc sản vô giá trong trị thủy:
– Hệ thống “Nhà Vườn” (Kim Long, Vỹ Dạ, Phú Mộng…): Nhà rường Huế truyền thống không bao giờ xây kín đất. Tỷ lệ xây dựng thấp (20-30%), còn lại là Vườn cây, Ao cá.
Mỗi khu nhà vườn là một bề mặt thấm nước tự nhiên. (Khác hoàn toàn với Đà Lạt) Hàng nghìn ngôi nhà vườn chính là hàng nghìn cái “giếng thấm” giúp giảm tải cho cống thoát nước.
(Muốn biết thêm về Đà Lạt ngộp thở, vui lòng xem bài Đà Lạt Ngập Lụt cũng trong trang này)
– “Thủy Mộc Tương Sinh” dọc bờ Sông Hương: Hai bên bờ Sông Hương đoạn qua thành phố (Thương Bạc, Phu Văn Lâu…) không bị kè bê tông dựng đứng cứng nhắc. Người Huế giữ lại thảm cỏ, cây cổ thụ và bãi bồi. Khi nước dâng, cây cối và đất đóng vai trò “giảm xóc”, làm chậm dòng chảy và giữ lại phù sa.
03. “Thủy Quan” Trấn Giữ – Đập Thảo Long: Nếu bỏ qua công trình này là một thiếu sót lớn. Nằm ở cuối sông Hương, đây là đập ngăn mặn lớn nhất Đông Nam Á (thời điểm xây dựng). Mùa khô nó đóng ngăn mặn, mùa lũ nó mở toang các cửa van để tống nước ra Phá Tam Giang nhanh nhất có thể. Nó chính là cái “Van xả áp” cuối cùng, nếu vận hành sai, nước sông Hương sẽ bị dềnh ứ.
PHẦN III: GÓC NHÌN ÂM – PHONG THỦY & ĐỊA LINH
Không phải ngẫu nhiên nhà Nguyễn chọn Huế. Thế đất này có khả năng “Tụ Thủy” và “Giải Sát” cực tốt.
01. Sông Hương “Khúc Thủy Hữu Tình”: Khác với các con sông dốc đứng hung dữ ở miền Trung, Sông Hương là dòng sông “Danh Giá”. Dòng chảy uốn lượn mềm mại qua điện Hòn Chén, Nguyệt Biều, Kim Long trước khi vào thành phố.
Trong phong thủy, đường cong (Khúc) giúp làm giảm tốc độ dòng chảy, biến “Sát Thủy” (lũ) thành “Sinh Thủy” (nước hiền). Nước sông Hương dâng lên từ từ, rút đi êm đềm.
02. Phá Tam Giang “Minh Đường Tụ Thủy Khổng Lồ”: Phá Tam Giang – Cầu Hai là hệ thống đầm phá lớn nhất Đông Nam Á, đóng vai trò như một “Hồ Điều Hòa” khổng lồ cuối nguồn.
Khi nước sông Hương, sông Bồ đổ về, Phá Tam Giang mở rộng vòng tay đón nhận (Cái Bụng Rồng), chứa chấp lượng nước dư thừa trước khi thoát ra cửa biển Thuận An và Tư Hiền. Nhờ cái “Bụng Rồng” này mà nước không bị dồn ứ tức thời.
03. Thế Đất: “Long Chầu Hổ Phục” Hệ thống núi Ngự Bình (Tiền Án) và dãy Trường Sơn bao bọc (Huyền Vũ) tạo thế che chắn gió bão. Bạch Mã là thế “Huyền Vũ” cần tĩnh và cần xanh. Nhờ “Mộc khí” vượng ở thượng nguồn, nên “Thủy khí” được điều hòa ngay từ trong trứng nước. Huế thường chỉ “ngâm nước” (lụt đẹp, lụt ngấm) chứ ít khi bị “xóa sổ” bởi lũ quét.
PHẦN IV: ĐỐI CHIẾU VỚI PHÚ YÊN – BI KỊCH “CÁI CA HỨNG VÒI RỒNG”
Ngược lại với Huế, Phú Yên chịu trận bởi con Sông Ba (Đà Rằng).
– Lưu Vực Khổng Lồ: Sông Ba hứng nước từ cả 3 tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk) dồn về.
– Hồ Chứa Bé Nhỏ: Hồ Sông Ba Hạ (chốt chặn cuối cùng ở Phú Yên) có dung tích quá nhỏ so với lượng nước khổng lồ từ Tây Nguyên. Nó giống như lấy cái Ca uống nước ra hứng vòi cứu hỏa. Nước về cái là đầy tràn ngay lập tức, buộc phải xả lũ cấp tập ồ ạt.
Kết Luận Khoa Học: Huế ngập ít hơn không phải vì mưa ít, mà vì Huế có cái “Thau” to hơn (Tả Trạch/Tam Giang) để đựng nước. Đó là Thiên Thời và Địa Lợi.
LỜI KẾT CỦA VIỆN TRƯỞNG
Nhìn vào bản đồ, ta thấy một thế trận “Tam Long Tranh Châu” rất ngoạn mục:
01. Thế “Thiên Quan Trấn Thủy”: Ba con đập (Tả Trạch, Bình Điền, Hương Điền) giống như 3 cánh cổng trời (Thiên Quan) khóa chặt 3 con rồng hung dữ trên núi. Nhờ có 3 “cái khóa” này, dòng Sát Thủy được thuần hóa thành Sinh Thủy trước khi đi vào vùng đất Đế Đô.
02. Huyệt Kết “Minh Đường”: Tất cả nước cuối cùng đều tụ về Phá Tam Giang. Huế ngập ít hay nhiều phụ thuộc vào việc: 3 ông ở trên xả xuống có nhịp nhàng để cái “Bụng Rồng” (Tam Giang) kịp tiêu hóa ra biển (Cửa Thuận An) hay không. Nếu 3 ông cùng xả, cộng thêm triều cường bít cửa biển thì Bụng Rồng phình to, vỡ trận.
03. Ngũ Hành Tương Sinh: Huế là nơi hiếm hoi mà “Mộc khí” (Cây xanh) vượng hơn “Kim khí” (Bê tông). Thủy sinh Mộc. Khi nước lũ (Thủy quá mạnh) dâng lên, nếu gặp Bê tông (Thổ) thì nó sẽ phá (phản vũ).
Nhưng nếu gặp Cây (Mộc), thì Cây sẽ uống nước, nước sẽ vì Mộc (con nó) mà dịu đi. Chính màu xanh bạt ngàn của Huế đã biến dòng “Lũ dữ” thành dòng “Nước mát”, nuôi dưỡng long mạch thành phố thay vì tàn phá nó.
LỜI KẾT
Sự bình yên của Huế hôm nay trong cơn mưa 1600mm là minh chứng cho Trí Tuệ của việc quy hoạch và sự phối hợp nhịp nhàng giữa Thiên tạo và Nhân tạo.
So Sánh Huế Và Phú Yên Để Thấy: Con người có thể thắng Thiên nhiên một nửa nếu biết Quy hoạch đúng. Huế trụ vững là nhờ quy hoạch “Thuận Thiên” đỉnh cao. Người Huế xưa không lấp ao hồ để phân lô bán nền, mà họ giữ lại nước để nuôi dưỡng sinh khí và phòng khi “thủy hỏa đạo tặc”.
Tuy nhiên, chớ vội chủ quan. “Nước chảy đá mòn”, biến đổi khí hậu đang khiến quy luật cũ bị phá vỡ. Người Huế vẫn phải sống chung với những cơn “Lụt mòn lụt mỏi”. Nhưng ít nhất, trong cơn bĩ cực của miền Trung, Huế vẫn giữ được chút phong thái ung dung của vùng đất Kinh Kỳ nhờ sự che chở của Long Mạch và Trí Tuệ trị thủy.
Thương về miền Trung, và mong các tỉnh bạn cũng sớm có được những “Cái Thau” – những hồ cắt lũ thực thụ như Huế để chúng ta bớt khổ.
Thầy Thuận Thiên.
Lưu Ý: Quy tắc của trang tôi, tài khoản ảo, tài khoản khóa trang, tài khoản đi quảng cáo, tài khoản không có bài viết, không có hình ảnh người thật, tôi sẽ không trả lời.
Vì nói chuyện với người không có mặt mũi họ không biết điểm dừng, nói dây dưa làm phiền độc giả khác, nên tôi sẽ chặn luôn. Nếu họ làm tài khoản khác, thì vẫn lâu hơn tôi chặn.
Các hình minh họa phía dưới, để tránh nói dùng A.I nên tôi chụp màn hình các báo lớn, cũng như có nguồn, nên hơi khó coi, mong các Bạn thông cảm!
Để hiểu tại sao Huế “đỡ” hơn Phú Yên, chúng ta phải so sánh hai yếu tố cốt tử: Lưu Vực (Nguồn nước về) và Dung Tích (Nơi chứa nước). Nói một cách hình tượng, đó là sự khác biệt giữa “Cái Thau” và “Cái Ca”.Với dung tích toàn bộ lên tới 646 triệu m³, Tả Trạch sở hữu một dung tích phòng lũ (Cái Thau Rỗng) cực lớn! Vào mùa lũ, nó luôn để dành một khoảng trống khổng lồ để sẵn sàng “nuốt trọn” những trận mưa lớn nhất từ thượng nguồn đổ về nhánh Tả Trạch.Hồ Tả Trạch: “Vị Tướng Quân” Hùng Mạnh Nhất (Cứu Tinh Của Sông Hương): Đây là công trình quan trọng số 1, là “Ông Trùm” trong việc bảo vệ TP. Huế.Hồ Chứa Bé Nhỏ: Hồ Sông Ba Hạ (chốt chặn cuối cùng ở Phú Yên) có dung tích quá nhỏ so với lượng nước khổng lồ từ Tây Nguyên. Nó giống như lấy cái Ca uống nước ra hứng vòi cứu hỏa. Nước về cái là đầy tràn ngay lập tức, buộc phải xả lũ cấp tập ồ ạt.
Vườn Quốc gia Hoàng Liên là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam, nằm ở độ cao 1.000 – 3.000 mét, trong đó có đỉnh Fansipan cao nhất Đông Dương 3.143 mét. Trong vườn quốc gia có hệ động, thực vật phong phú, đa dạng với nhiều loài quý hiếm như bách xanh, thiết sam, đỗ quyên, vượn đen tuyền hay cheo cheo. Đây cũng là nơi sinh sống của hơn 300 loài chim.
Hệ động thực vật ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên nói chung, đỉnh Fansipan nói riêng, rất đa dạng, phong phú và độc đáo nhất Việt Nam, trong đó có nhiều loài chỉ còn tìm thấy ở Hoàng Liên mà không có ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.
Trên tuyến đường leo lên đỉnh Fansipan, không khó để có thể nhìn thấy loài chim nhỏ bé với chiếc mào cong nổi bật tên là khướu mào họng đốm (Yuhina gularis). Loài này sống ở độ cao khoảng 1.500m trở lên ẢNH: LÊ HÙNG
Các nhà khoa học chia Vườn Quốc gia Hoàng Liên thành 3 loại rừng: Rừng xanh trên vùng bán sơn địa, Rừng lá rụng trên núi nhiệt đới và Rừng xanh thấp lùn trên cao.
Theo sự phân loại này, Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm ở ngã ba của ba quần xã sinh vật, có sự hòa trộn phức tạp của hệ thực vật khu vực núi cao vùng Đông Nam Á, không giống bất kỳ khu vực nào trên thế giới.
Tại đây, thống kê được 2.024 loài thực vật thuộc 171 chi nằm trong 200 họ, chiếm 25% các loài thực vật đặc hữu của Việt Nam; 66 loài thú; 61 loài bò sát; 553 loài côn trùng; 347 loài chim.
Khướu mỏ cong – một trong số những loại chim ít được nhìn thấy trên đỉnh Fansipan ẢNH: LÊ HÙNGKhướu mỏ cong – một trong số những loại chim ít được nhìn thấy trên đỉnh Fansipan ẢNH: LÊ HÙNG
Có thể nói, Vườn Quốc gia Hoàng Liên là kho tàng gene quý hiếm và là Trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất của Việt Nam, trong số 701 loài đặc hữu của Bắc bộ thì có 22 loài tìm thấy ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên.
Đặc biệt có 9 họ và 1 chi chỉ tìm thấy ở Hoàng Liên. Nhiều loài động thực vật ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên thuộc loài đặc biệt quý hiếm đã được ghi vào Sách đỏ Việt Nam.
Thời gian gần đây, tùy vào điều kiện thời tiết thuật lợi, theo Ban quản lý Vườn quốc gia Hoàng Liên, nhiều loài chim quý hiếm đã xuất hiện trên từng tầng độ cao khác nhau. Trong đó, một số loài thường được bắt gặp sinh sống chủ yếu ở độ cao 3.143 mét và khoảng 2.800 mét.
Khướu lùn đuôi hung (Actinodura strigula). Loài khướu cũng là loài chim nổi bật và đặc trưng của khu vực vùng núi cao ẢNH: LÊ HÙNG
Ban quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên cũng cho biết không phải lúc nào cũng có thể bắt gặp chúng xuất hiện, mà phải dành rất nhiều thời gian nằm trong các túp lều nhỏ tệp với màu cỏ cây mới có thể “săn” được những dáng vẻ đẹp lộng lẫy của chúng. Nhiều loài chim có tiếng hót rất hay như các loài khướu, họa mi, đớp ruồi…, bộ lông của chim rất nhiều màu sắc khác nhau, đôi khi màu lông con trống khác con mái, có những loài đẹp đến mê hồn.
Khám phá đời sống các loại chim lạ, quý hiếm từ lâu đã là ao ước của nhiều người yêu chim cũng như giới nhiếp ảnh gia. Chính vì thế, gần đây Ban quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã tạo nhiều điều kiện để mọi người có đủ điều kiện sức khỏe có thể leo núi và ngủ lại tại các láng trại của đội kiểm lâm để chụp ảnh.
Ảnh trên là loài khướu vằn (Trochalopteron subunicolor) với lông vũ được xếp tạo thành lớp vảy đẹp mắt.Ảnh trên là loài khướu vằn (Trochalopteron subunicolor) với lông vũ được xếp tạo thành lớp vảy đẹp mắt.Ảnh dưới là khướu cánh đỏ (Trochalopteron formosum) là loài khướu rất hiếm gặp do loài này bị con người tìm kiếm và săn bắt làm cảnh ẢNH: LÊ HÙNGẢnh dưới là khướu cánh đỏ (Trochalopteron formosum) là loài khướu rất hiếm gặp do loài này bị con người tìm kiếm và săn bắt làm cảnh ẢNH: LÊ HÙNG
Theo nhiếp ảnh gia Lê Hùng – người vừa thực hiện chuyến leo núi săn ảnh 10 loài chim quý hiếm trên đỉnh Fansipan, cung đường thuận lợi nhất là đi tuyến cáp treo lên tới đỉnh Fansipan, rồi từ đó men theo lối mòn để đi ngược xuống núi, tới độ cao khoảng 2.800 là điểm thường thấy các loài chim xuất hiện nhất. “Là một người chuyên săn ảnh chim, màu sắc và cách sinh sống của các loài chim núi rừng Hoàng Liên luôn mê hoặc người chụp. Với lượng máy, ống lens các tiêu cự khác nhau rất nặng, nên chúng ta cần phải thuê một người khuân vác (porter), phần vì để giảm bớt rủi ro trơn trượt khi leo núi và phần để bảo vệ được máy móc an toàn cho việc chụp”, anh Hùng nói thêm.
Cũng theo anh Lê Hùng, tùy vào mùa mà các loài chim sẽ di cư đến sinh sống ở những độ cao khác nhau. Nếu đi vào mùa đông thì phải dựng lều trại ở khu vực có độ cao khoảng 1.800 đến 2.200 mét, còn nếu rơi vào mùa thu phải dựng trại ngủ đêm và trekking ngược lên núi săn ảnh chim trong độ cao từ 2.800 đến 3.100 mét…
“Khi màn đêm buông, nhiệt độ xuống khá thấp, rét buốt tê cả tay chân nhưng nếu đợi đến sáng hôm sau gặp phải thời tiết quang đãng, chụp được hết các loại chim quý thì những cái lạnh, cái mệt này không là gì cả. Còn nếu đợi 2 ngày vẫn không thấy chim xuất hiện thì chúng tôi buộc phải leo ngược lên đỉnh để đi cáp treo trở lại dưới đất. Một chuyến đi săn ảnh chim coi như thất bại”, anh Hùng cho biết thêm.
Chích đuôi cụt bụng vàng (Cettia castaneocoronata) là loài chim rất bé. Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong vùng sinh thái trên dãy Hoàng Liên Sơn – là phần kéo dài của miền núi với Tây Vân Nam (Trung Quốc) – Hymalaya, tiếp giáp với dãy Trường Sơn. Vườn Quốc gia Hoàng Liên là nơi có hệ động thực vật đa dạng và phong phú với rất nhiều loại quý hiếm, nhiều loại có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới, trong đó có nhiều loại đặc hữu mang tên Sa Pa
ẢNH: LÊ HÙNG
Đây là hình ảnh của chú chim hút mật, có thể là loài hút mật bụng vàng (Aethopyga gouldiae) – một loại chim rất hiếm khi thấy được vào mùa lạnh nhất trong năm trên dãy Hoàng Liên Sơn ẢNH: LÊ HÙNGKhướu mỏ dẹt họng đen ( tên khoa học: Suthora nipalensis) ẢNH: LÊ HÙNGẢnh trên: Khướu đá cánh vằn thường sinh sống trong những khu rừng rậm và tre nứa ở độ cao 2.450 – 2.900 mét.Ảnh trên: Khướu đá cánh vằn thường sinh sống trong những khu rừng rậm và tre nứa ở độ cao 2.450 – 2.900 mét.Ảnh dưới: Khướu mặt đen (Garrulax yersini). Đây là loài chim đặc hữu của Việt Nam thuộc họ khướu có kích thước trung bình khoảng 25cm ẢNH: LÊ HÙNGMột loài Khướu mặt đen (Trochalopteron affine) thường thấy với bộ lông màu nâu, đầu có hoa văn đen trắng nổi bật, cánh và đuôi có màu vàng ánh kim. Chúng được tìm thấy ở khu vực đông Himalaya, từ phía đông Nepal đến Arunachal Pradesh ở Ấn Độ, Bhutan, đông nam Tây Tạng. Loài chim này thường sống ở độ cao 2.500 – 3.000 mét trên dày núi Fansipan ẢNH: LÊ HÙNG
Sáng hôm nay như thường lệ, khi công việc nhẹ đi, khoảnh khắc rảnh rỗi, tôi đứng nhìn ra khung cửa kính, hàng cây mận trồng dọc ven hồ đang trổ bông trắng xoá, vài con vịt bơi lội nhởn nhơ, rẽ làn nước đi tìm thức ăn. Ánh nắng lấp lánh cùng bầu trời xanh phản chiếu trên mặt hồ báo hiệu mùa Xuân đang về. Trên mặt bàn, những tạp chí nằm chờ đọc, phần lớn được gởi từ các đại học quanh vùng, mục đích giới thiệu những công trình khảo cứu đặc biệt hay những nhân vật xuất sắc mong thu hút bịnh nhân đến tham khảo.
Trang đầu của tạp chí Đại hoc Y khoa Stanford có tấm hình một cô gái Á châu, trang nghiêm, nụ cười hiền hoà. Thật tình mà nói, trong con người, tự ái dân tộc khi nào cũng cao. Đọc tạp chí trong ngành, thấy bóng người Á châu, cứ mong đó là người Việt, rồi nếu tác giả có họ Trần, Lê, Nguyễn, Phạm… thì lòng thầm sung sướng. Lần nầy, một niềm vui quá lớn vì đã nhìn ra đây là Lê Quỳnh Thư, con gái thứ của Thầy Lê Xuân Công.
Quỳnh Thư sinh ra ở Huế, thời kỳ tiểu học và mấy năm đầu trung học nổi trôi theo vận nước, từ Huế vào Sài Gòn, vượt biển sang Ý mãi cho đến 1981 gia đình mới định cư ở San Jose. Sau khi tốt nghiệp trung học, Quỳnh Thư đã được chọn vào trường đại học nổi tiếng Caltech (một M.I.T. của miền Tây). Trong thời gian theo học ở đây, cô thường xuyên đi làm thiện nguyện ở South Africa, đặc biệt ở bịnh viện đại học Durban, nơi đây chăm sóc rất nhiều người bịnh nghèo khổ, cảm nhận được nổi đau nầy, cô quyết định trở thành một bác sỹ y khoa. Tiếp theo Caltech, cô vào học y khoa ở UCSF (University of California, San Francisco), sau đó, làm nội trú và thường trú cũng tại bịnh viện đại học nầy về bộ môn Ung thư xạ trị (radiation oncology). Năm 1997 Quỳnh Thư gia nhập ban giảng huấn đại học Stanford. Bốn năm sau, vào mùa Thu năm 2011 cô được tước vị giáo sư và trưởng khoa bộ môn Xạ trị ung thư. Như thế, cô con gái của đất thần kinh đã trở thành người phụ nữ đầu tiên đứng đầu bộ môn nầy, và đây là một bộ môn có lịch sử lâu dài nhất và tiến bộ nhất trong tất cả các trung tâm tương tự trên toàn nước Mỹ.
Lần đầu tiên gặp Quỳnh Thư, lúc đó cô bé mới lên 3 hay 4 tuổi, níu tay mẹ nhảy lên những bậc thềm cao của một ngôi nhà xinh xắn, nằm trên đường Nguyễn Huệ, ngay phía trước đồn Quân cụ, bẵng đi một thời gian dài, hơn mười mấy năm sau gặp lại ở khu Campbell, San Jose, hai anh em đi bộ từ chung cư nầy đến chung cư khác tìm phòng để thuê. Từ đó lại như những nhánh sông chia xa, người đi học, kẻ đi hành vật lộn trong đời sống mới. Nay qua tạp chí trên mới thấy được cái lý lịch xuất sắc của Quỳnh Thư, một niềm hãnh diện cho người Việt xa quê hương nói chung và cho những người sinh ra từ xứ Huế nói riêng.
Sự thành công của cô trên một bình diện nào đó là từ sức mạnh trí tuệ cá nhân, nhưng không thể nào phủ nhận phần công sức cha mẹ đã dìu dắt, hướng dẫn và khuyến khích, vả lại yếu tố di truyền cũng có dự phần vào đây. Họ đã là những nhà giáo dục có tiếng ở Huế. Mẹ, cô Thanh Tâm dạy trường trung học Nguyễn tri Phương, ba là giáo sư trưởng khoa Giải phẩu và Cơ thể học đại học Y Khoa, một vị Thầy quí mến. Từ những năm trước Mậu Thân, thành phố Huế đã nghe tiếng Thầy, khi đó Thầy còn làm ở khu giải phẩu quân y viện Nguyễn tri Phương, đồng thời là thành viên trong Hội đồng giám định y khoa. Tính cương trực và thẳng thắn, Thầy chán ngán những trò lừa dối trong lúc phân loại thương bịnh binh để được giải ngũ. Những đụng chạm tất nhiên phải xẩy ra, vì thế, Thầy quyết định từ bỏ quân y viện, dự thi tuyển vào làm giảng nghiệm viên Đại học Y khoa. Đã từng là cựu nội trú các bịnh viện Saigon nên Thầy dể dàng được thâu nhận vào ban giảng huấn năm 1969.
Ngày nay khi đã được tiếp cận với một nền y tế đứng hàng đầu thế giới mới thấy được những ngày cũ, nơi quê nhà mọi việc thật là đơn giản, nhưng chính trong cái thiếu thốn đó mới thấy tài nghệ của người thầy thuốc giỏi. Khi không có những thử nghiệm cận lâm sàng tiến bộ, đôi tay và trí óc mới là điều quan trọng. Thầy chỉ định một lối làm việc cẩn thận cho tất cả mọi người. Nội trú và sinh viên phải khám bịnh rất kỹ, y lệnh xét nghiệm chừng mực nhưng cần thiết, nhân viên chuẩn bị tiền phẩu hết sức chu đáo, trong cuộc mổ phải theo đúng trình tự quy định và giải quyết tận cùng nguyên nhân, theo dõi, chăm sóc hậu phẩu chặt chẽ, cuối cùng, số bịnh nhân ra viện với kết quả tốt rất lớn. Trong chừng mực nào đó, khoa ngoại 2 bịnh viện Huế, dưới sự hướng dẫn của Thầy đạt nhiều tiếng vang từ 1970-1975.
Những năm tháng làm việc và phụ mổ với Thầy mới thấy thêm một khía cạnh khác, Thầy thương học trò. Vẻ bên ngoài nghiêm trang, ít khi có nụ cười nở rộng, nhưng Thầy thường xuyên dìu dắt và nâng đỡ họ. Chỉ khi có cas mổ thành công, người nội trú mới nhận được cái vỗ vai thân mật từ Thầy và một lời khen trước mặt các nhân viên và sinh viên thực tập.
Thầy không ngại khó, nhớ chăng những ngày thành phố Huế bị pháo kích liên miên, có những đêm làm việc liên tục, tưởng chừng như không bao giờ hết bịnh, lúc nào cũng có Thầy đứng bên hỗ trợ, khuyến khích cũng như giải quyết những trường hợp khó cho đến khi xong việc.
Năm 1973-1974 Thầy đi du học ở Úc về Giải phẩu tiết niệu. Sau tháng 4 năm 1975, gia đình Thầy ở lại, toàn miền Nam bị nhấn chìm trong biển đỏ mà những ngọn sóng chuyên chính vô sản, nghi ngờ, đố kỵ, kềm kẹp tự do đã đánh tan tác lòng người. Lao động là vinh quang đã đưa người thầy thuốc lên núi cao trồng sắn hoặc làm lao công cho những công trường Nam sông Hương hay sông Thạch Hãn. Tại trường Y khoa, bờ hồ bên nầy, thầy trò, làm sạch nuôi cá, thả rau muống; canh đất phía sau, cuốc xẻng cày bừa trồng lúa cải thiện đời sống. Ý nghĩa lao động đã được triển khai một cách sai lệch, việc làm chỉ có hình thức chứ không đạt được một tiêu chuẩn thực tế nào bởi vì người bác sỹ là một nhóm lao động được đào tạo chuyên biệt để khám bịnh, điều trị và chăm sóc bịnh nhân.
Chính quyền mới tạo nhiều áp lực, ngoài việc học tập cải tạo lại còn xét việc biên chế, nên những ai xuất thân từ quân đội Việt Nam Cọng Hoà đều có phần ưu tư. Làm một con người chính trực thật khó sống trong giai đoạn nầy, vậy mà Thầy đã biểu lộ tư cách của một cá thể uy vũ bất năng khuất, coi nhẹ chuyện biên chế, rời trường đi vào Nam. Ngày đó, nước sông Hương vẫn hờ hững chảy dưới chân cầu Trường Tiền, nắng còn hanh trên con đường Lê Lợi, khu cơ thể học vẫn tấp nập sinh viên thực tập, nhưng khi nghe tin nầy tôi thấy lòng cô đơn, buồn bã vô cùng. Gia đình Thầy vượt biên thành công năm 1979, khi đang còn lênh đênh trên Thái bình Dương thì được một thương thuyền của Ý vớt và đưa về đó tạm cư. Tại đây mọi người đi hái cà chua đến hoa cả mắt, Thầy còn được mời đi đóng phim nữa. Thời gian sót lại, Thầy ôn lại bài vở và thi đậu văn bằng bác sỹ tương đương Hoa Kỳ (ECFMG) và đạt đủ tiêu chuẩn để có thể làm việc trên nước Ý.
Hai năm sau, định cư tại Mỹ, Thầy hoàn tất chương trình nội trú và hành nghề trở lại. Lúc đầu, mở phòng mạch tư ở Rancho Cordova, thủ phủ Sacramento, nhưng một lần nữa với tính cương trực và không chịu đựng được sự đòi hỏi đôi khi là quá đáng của bịnh nhân, Thầy quyết định đi làm việc cho bịnh viện tiểu bang cho đến khi về hưu. Duyên phận cõi trần mênh mông như trời cao lồng lộng, mắc xích nào đây mà nối lại với nhau. Tình thầy trò cũng như phận vợ chồng là những từ trường tự phát, bỗng dưng hút lại nhờ yếu tố “Duyên”, biết bao nhiêu con người trong cõi ta bà nầy mà tự dưng có hai cá thể riêng biệt kết lại làm thầy và trò.
Những năm đại học, sau khi chọn một phân khoa, một ngành chuyên môn và nhất khi được làm nội trú là một cái duyên rất lớn. Thầy trò liên hệ mật thiết trong việc điều hành trại bịnh và trực gác, người nội trú học hỏi được rất nhiều, từ đó mới thấy kiến thức chuyên môn của Thầy rất rộng. Những trường hợp khó, hiếm hay cá biệt đều được lưu trữ để làm tài liệu cho những luận án tiến sỹ về sau. Thầy tận tâm truyền lại kiến thức cho học trò, từ những buổi sáng đi khám bịnh, cái sai, cái đúng được bàn cãi thẳng thắn, cho đến những phiên trực cấp cứu, trong đó những quyết định nhanh chóng, chính xác đưa đến những can thiệp kịp thời cứu sống nhiều bịnh nhân đã là những kinh nghiệm quí báu làm hành trang cho học trò vào đời về sau.
Rồi những lần gặp gỡ khác, tưởng không bao giờ có thể xẩy ra, vẫn cứ tới cho dù trong muôn một. Có ai tưởng tượng rằng nước mất nhà tan như chuyện 1975. Sau tháng 4 năm đó , nhân viên giảng huấn lần lượt trở về trường cũ. Cuối năm, trong vài ngày mưa lê thê của xứ Huế, phái đoàn bịnh viện Việt Đức, dẫn đầu bởi bác sỹ Tôn thất Tùng vào làm việc với trường Đại học Y khoa, tiền trạm của nền giáo dục miền Nam. Bác sỹ Tùng, ngôi sao Bắc đẩu của nền y tế miền Bắc, cha đẻ Phương pháp cắt gan có qui phạm, mái tóc bạc trắng, dáng dấp tựa như nhạc sỹ Phạm Duy, đi giày tây, mặc áo bỏ ngoài quần, giọng nói sang sảng. Ông rất muốn tìm biết về nền giáo dục miền Nam, cho nên đã đặt ra rất nhiều câu hỏi về giải phẫu và cơ thể học, dĩ nhiên bộ phận gan vẫn là ưu tiên một. Sự phân chia thùy gan được đề cập đến và khi nghe các anh em trẻ ở lại trình bày từ hệ thống cổ điển của giáo sư C. Couinaud cho đến cập nhật hoá phương thức phân chia mới do chuyện giun chui ống mật của chính ông, xuyên qua các tài liệu đã đọc những năm trước đó bằng tiếng Pháp, thì dễ dàng nhận ra cái ngỡ ngàng pha lẫn thiện cảm ông dành cho các thành viên trong bộ môn Giải phẫu Y khoa Huế. Ông đi thăm bịnh, chẩn đoán và cùng mổ, tuy nhiên rất tiếc, trong thời gian quá ngắn, không chuẩn bị trước, chỉ có một bịnh nhân nằm viện, tưởng là ung thư gan tiên phát nhưng khi giải phẩu lại là ung thư buồng trứng di căn lan rộng, nên không học được gì về lối cắt gan bằng các ngón tay như mong đợi.
Nước mất, nhà tan, sau bốn năm chịu đựng để sống còn, một ngày, người học trò cũng lên tàu đi vượt biên, một sống, mười chết trên biển cả. Từ bàn tay trắng, trí tuệ đong đếm bằng những bài học cũ từ các thầy nơi Đại học Huế, kiếm việc làm để sống, vào các trung tâm học thi, chạy tìm chỗ nội trú, mấy năm sau mới bắt đầu trở lại nghề, để rồi một hôm nơi trại bịnh, tôi kinh ngạc khi thấy giáo sư Norman Shumway, người đầu tiên giải phẩu thay tim trên con người thành công, lừng lững bước vào.
Làm việc nhiều nơi, tình cờ gặp nhiều bác sỹ giải phẩu nổi tiếng, so sánh lại, tha thiết nhớ quê nhà và càng quý mến Thầy mình hơn, nhớ vì bịnh viện mình ngày đó đơn sơ và thiếu thốn phương tiện. Quý vì cá tính đạo đức, không kiêu căng, lối giải phẩu từ tốn, thứ lớp, cẩn trọng. Quý hơn nữa, cách sống chan hòa của Thầy, dung hợp với học trò cho dù trong trại bịnh hay ngoài sân tennis làm mọi người đều quý mến.
Nổi nhớ chồng chất, dẫn dắt con người trở lại quê cũ, thường để tìm lại quá khứ vì phần lớn kỷ niệm khi nào cũng đẹp. Làm sao quên được căn nhà xưa, ngôi trường cũ, nấm mộ mẹ cha và đám bạn bè thời đi học. Bịnh viện Huế giờ thay đổi nhiều, những dãy lầu mới ngang dọc, được xây bởi tiền tài trợ của Pháp, Nhật, Đức… Phòng mổ cũ không dùng nữa, khi bước vào, những bồn rửa tay vẫn còn đó trơ trọi, tấm bảng đen phân công mổ đóng bên tường trống trơn, hết rồi những chữ viết chi chít của anh y tá trưởng, các phòng mổ lặng câm, một trang sách được khép lại.
Sinh lão bịnh tử là lẻ tuần hoàn tạo hoá, thân thể Thầy bị suy mòn theo năm tháng nhưng trí tuệ còn minh mẫn, vẫn chất chứa hoài bão đóng góp phần mình cho một nước Việt Nam tự do và nhân bản. Ngày rời Huế, Thầy đã mong có một ngày về, vì mấy ai rời mảnh đất nầy mà lại không luyến tiếc. Một thành phố hiền hoà có một dòng sông xanh rất đẹp. Không gian nhiều dấu ấn vương giả, thành quách, điện đài, lăng tẩm. Tinh thần tuy có hoài cổ, nhưng nếp sống đầy giáo dục. Tiếc thay chủ nghĩa xả hội đã lấy đi sự tự do, niềm hạnh phúc, tinh thần độc lập của người dân để rồi ai ra đi cũng ngậm ngùi bỏ lại xứ Huế đằng sau. Cám ơn số phận cho con được gặp Thầy, được đi cùng Thầy một đoạn đường khá xa. Bắt đầu quãng đời thanh xuân yên bình, vui vẻ ở khoa ngoại 2, phòng khám bịnh trên đường Huỳnh thúc Kháng, khu Cơ thể học Đại học Y khoa, qua mấy năm đau buồn ủ dột sau 75 cho đến những ngày lang thang từ New Jersey qua New York đi tìm tương lai. Thầy đã vượt qua mọi khó khăn tạo dựng lại cơ nghiệp.
Cầu mong Thầy Cô thân tâm an lạc, tiếp tục cuộc sống hạnh phúc, trải dài hơn mấy mươi năm, từ thuở ban đầu trên bãi biển Nha Trang cho đến thành phố Freemont hôm nay. Đây là lúc Thầy nghỉ ngơi, vui với sự thành công của con cái. Chắc chắn những môn sinh mà Thầy đã ra công dạy dỗ sẽ tiếp tục đem cái học chính thống đó chuyển lại cho thế hệ kế tiếp góp phần làm xã hội nầy tốt đẹp hơn.
Trần Tiễn Ngạc
Trích đặc san Kỷ niệm 10 năm thành lập website ykhoahuehaingoai.com
Thế kỷ XX là thời đại mà Toán học không còn là vùng đất trừu tượng của vài bộ óc lập dị, mà trở thành nền tảng cho vật lý lượng tử, thống kê, tối ưu hóa, mật mã học, khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo và sau này là dữ liệu lớn. Đây là thời đại của những cuộc cách mạng tri thức – nơi một định lý mới có thể làm thay đổi triết học, công nghệ và cách con người hiểu về chính tư duy của mình. Vì vậy, để chọn ra bảy nhà toán học vĩ đại nhất thế kỷ XX, chúng ta cần một bộ tiêu chí rõ ràng. Thứ nhất là ảnh hưởng học thuật lâu dài: tư tưởng của họ phải sống trong giáo trình, bài giảng và được sử dụng ở nhiều lĩnh vực. Thứ hai là đóng góp nền tảng hoặc mang tính cách mạng – một nhà toán học vĩ đại không chỉ giải bài toán khó, mà đặt lại câu hỏi cho cả nhân loại. Thứ ba là ảnh hưởng liên ngành, từ vật lý đến kinh tế, từ mật mã đến công nghệ số. Tiêu chí thứ tư là sức sống thế kỷ XXI: lý thuyết của họ còn được dùng hay không? Và cuối cùng là ảnh hưởng đến cộng đồng và học trò, bởi nhiều thiên tài đã thay đổi thế giới thông qua những con người họ đào tạo. Dựa trên những tiêu chí ấy, bảy tên tuổi dưới đây không chỉ đại diện cho trí tuệ, mà còn đại diện cho sự phi thường của con người trong hành trình chinh phục tri thức.
BẢY NHÀ TOÁN HỌC VĨ ĐẠI NHẤT THẾ KỶ XX
1. Kurt Gödel – Thiên tài cô độc nhìn thấy giới hạn của chân lý
Kurt Gödel được xem như người đã phá vỡ “giấc mơ toàn năng” của toán học. Năm 1931, với hai định lý bất toàn nổi tiếng, ông khẳng định rằng dù ta có cố gắng tiên đề hóa đến đâu, luôn sẽ có những chân lý toán học không thể chứng minh bằng chính hệ thống đó. Câu phát biểu của ông – “Không một hệ tiên đề nào có thể chứa toàn bộ sự thật” – khiến Toán học lần đầu đối diện với chính giới hạn của mình. Ngoài thiên tài, Gödel còn có cuộc đời đầy bi kịch và ám ảnh. Tại Princeton, ông và Einstein trở thành đôi bạn tri kỷ, ngày nào cũng đi dạo cùng nhau, thảo luận về thời gian và bản chất của thực tại. Einstein nói: “Tôi đến viện chỉ để có thể trò chuyện với Gödel.” Nhưng thiên tài ấy lại sợ bị đầu độc, chỉ ăn thức ăn vợ nấu. Khi vợ ông ốm nặng, Gödel ngừng ăn và qua đời trong suy kiệt. Tư tưởng của ông lan vào Việt Nam qua giáo trình logic, triết học toán và khoa học máy tính – nơi sinh viên vẫn phải đối diện với câu hỏi mà ông để lại: liệu Toán học có hiểu nổi chính nó?
2. John von Neumann – Bộ não đi trước thời đại nửa thế kỷ
John von Neumann là người mà giới khoa học gọi là “bộ não xuất sắc nhất thế kỷ XX”. Ông đọc một trang sách trong vài giây và nhớ toàn bộ nội dung; chỉ bằng cái nhìn thoáng qua, ông có thể sửa lỗi trong chứng minh của người khác. Nhưng điều khiến ông vĩ đại không chỉ là trí nhớ tuyệt đối, mà là khả năng nhìn thấy tương lai. Von Neumann đặt nền móng cho kiến trúc máy tính mà cả thế giới ngày nay sử dụng; xây dựng lý thuyết trò chơi, nền tảng của kinh tế học hiện đại; khai sinh mô phỏng Monte Carlo – công cụ của khoa học dữ liệu; và định hình toán học của cơ học lượng tử. Trong đời sống, ông hài hước, thích tiệc tùng, nói chuyện duyên dáng, lái xe nhanh và sống như một quý ông châu Âu. Ông từng nói: “Nếu bạn không thể giải quyết vấn đề, hãy biến nó thành vấn đề khác.” Ở Việt Nam, tư tưởng tối ưu hóa và mô hình hóa – đặc biệt trong công trình của GS Hoàng Tụy – chịu ảnh hưởng gián tiếp từ con đường do von Neumann mở ra.
3. Alexander Grothendieck – Thiên tài ẩn dật xây lại hình học đại số từ gốc
Nếu có một người làm cả thế giới toán học phải học lại từ đầu, đó là Alexander Grothendieck. Từ tuổi thơ lang bạt do chiến tranh, ông lớn lên trong nghèo khó rồi trở thành biểu tượng của hình học đại số hiện đại. Grothendieck không chỉ tìm lời giải, ông tạo ra ngôn ngữ mới: lược đồ, topos, đồng điều học – những khái niệm thay đổi cách con người hiểu về cấu trúc không gian. Ông từng nói: “Ta không phá cửa bằng búa, ta mở một cánh cửa rộng hơn bên cạnh.” Nhưng thiên tài ấy rời bỏ toán học khi đang ở đỉnh cao, lui về sống ẩn dật trong rừng gần 20 năm, từ chối mọi giải thưởng. Với Việt Nam, ảnh hưởng của ông đến qua GS Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán đầu tiên của Việt Nam, học trò xuất sắc của ông. Bà mang tinh thần đại số – hình học tiên tiến về nước, tạo thành nền móng cho nhiều thế hệ trẻ sau này.
4. Andrey Kolmogorov – Người biến ngẫu nhiên thành khoa học đúng nghĩa
Trước Kolmogorov, xác suất là nghệ thuật phỏng đoán. Sau Kolmogorov, xác suất trở thành ngành toán học nghiêm ngặt nhờ hệ tiên đề năm 1933. Chính ông biến sự ngẫu nhiên thành một đối tượng có thể nghiên cứu bằng toán học. Nhưng ít ai biết rằng Kolmogorov còn là nhà giáo dục tận tâm: ông viết sách cho học sinh, xây dựng chương trình chuyên toán, và tin rằng trẻ em có thể hiểu những khái niệm sâu sắc hơn chúng ta tưởng. Ông nói: “Vẻ đẹp của toán học nằm trong trật tự ẩn sau hỗn loạn.” Ở Việt Nam, mọi giáo trình xác suất – thống kê đều bắt nguồn từ tư tưởng của ông, đặc biệt qua thế hệ du học Liên Xô như GS Nguyễn Cảnh Toàn, GS Phan Đức Chính, GS Nguyễn Minh Châu.
5. David Hilbert – Người vạch đường cho toán học của cả thế kỷ
David Hilbert là người có khả năng nhìn xa đến mức ông thiết kế cả tương lai của Toán học. Năm 1900, tại Paris, ông công bố danh sách 23 bài toán nổi tiếng, trở thành kim chỉ nam cho các nhà toán học thế kỷ XX. Ông là linh hồn của trường Göttingen – trung tâm toán học hùng mạnh nhất thời đó, nơi xuất hiện Weyl, Courant và đặc biệt là Emmy Noether. Hilbert từng nói câu trở thành danh ngôn khoa học: “Chúng ta phải biết. Chúng ta sẽ biết.” Tinh thần tiên đề hóa và hệ thống hóa của Hilbert chính là cột xương sống của nhiều giáo trình đại số, giải tích và hình học hiện nay – trong đó có các giáo trình đang được sử dụng tại Việt Nam.
6. Alan Turing – Người mở cánh cửa cho trí tuệ nhân tạo
Alan Turing là biểu tượng của trí tuệ, lòng dũng cảm và cả sự bi kịch. Ông phát minh ra máy Turing – nền tảng của mọi máy tính hiện đại, đặt nền móng cho khoa học tính toán và đặt câu hỏi mà cả thế giới đang theo đuổi: “Máy móc có thể nghĩ được không?” Trong Thế chiến II, Turing giải mã Enigma, rút ngắn chiến tranh và cứu hàng triệu người, nhưng chiến công bị giữ bí mật hàng chục năm. Sau chiến tranh, vì giới tính, ông bị nhà nước Anh cưỡng ép điều trị hormone. Năm 41 tuổi, Turing qua đời trong cô đơn. Nhưng di sản của ông thì không bao giờ mất. Từ các thuật toán mà sinh viên Việt Nam đang học, đến AI và ChatGPT ngày nay – tất cả đều đứng trên vai ông.
7. Emmy Noether – Người phụ nữ thay đổi nền đại số và vật lý hiện đại
Nếu có ai được gọi là “người mẹ của đại số hiện đại”, thì đó là Emmy Noether. Bà xây dựng đại số trừu tượng với khái niệm vành, môđun, đối xứng – những cấu trúc nền tảng của toán học thế kỷ XX. Trong vật lý, “định lý Noether” là một trong những phát hiện vĩ đại nhất: mỗi định luật bảo toàn đều xuất phát từ một đối xứng của tự nhiên – nền tảng của cơ học lượng tử và thuyết trường. Einstein từng nói: “Noether là thiên tài toán học sáng tạo nhất từng sống.” Dù vậy, bà phải giảng dạy dưới tên người khác vì sự phân biệt giới tính thời đó. Nhưng học trò của bà – Weyl, Artin, Van der Waerden – trở thành trụ cột của toán học thế kỷ XX, chứng minh sức mạnh vô biên của tư duy Noether.
Bảy thiên tài, bảy số phận rất khác nhau: có người ra đi trong cô độc vì những ám ảnh nội tâm khó gọi tên, có người phải đối mặt với những định kiến khắc nghiệt của thời đại mình; có người chọn rời xa ánh đèn học thuật để sống ẩn dật, có người rực rỡ giữa hội trường, bục giảng và những buổi trò chuyện bất tận. Nhưng dù con đường mỗi người đi qua nhiều khúc quanh đến đâu, những tư tưởng mà họ để lại vẫn lặng lẽ chảy trong từng dòng giáo trình, từng đoạn mã lệnh, từng bài giảng Toán hôm nay. Và biết đâu, giữa một lớp học nhỏ ở Việt Nam, có một bạn trẻ đang đọc những câu chuyện này, chợt nhận ra rằng tình yêu Toán học cũng có thể dẫn ta đến những chân trời rất xa – và âm thầm nuôi trong mình một ước mơ lớn hơn cho tương lai.
Trường Đồng Khánh (nay là trường Trưng Vương) là trường nữ sinh đầu tiên và duy nhất tại Hà Nội. Một thế kỷ trước, các lớp những môn học thông thường cùng nữ công gia chánh đan xen giữa hiện đại và truyền thống mang một vẻ đẹp chỉ có ở nữ sinh Hà Nội.
Nằm trên một nền đất vuông vức ngay ngã tư phố Hàng Bài và phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội (thời Pháp là đại lộ Đồng Khánh và đại lộ Carreau), Trường THCS Trưng Vương được nhiều thế hệ người Hà Nội nói chung và giới học sinh nói riêng tự hào nhắc tới như một ngôi trường nổi tiếng đào tạo nữ sinh Việt Nam và là một trong số ít những ngôi trường vẫn còn giữ được nét cổ kính và duyên dáng theo lối kiến trúc Pháp ở giữa lòng thủ đô.
Giờ tan trường tại trường nữ sinh Đồng Khánh (nay là trường Trung học cơ sở Trưng Vương ở 26 Hàng Bài) ở Hà Nội đầu thế kỷ 20.Nữ giảng viên Jouin quản lớp trong một buổi học thêu.Từ mái trường Đồng Khánh, sau này đã có những người phụ nữ thành danh trong khoa học như giáo sư Lê Thi, giáo sư Hoàng Xuân Sính…Trong suốt khoảng chục năm, số học sinh các trường Pháp và trường bản xứ tăng lên, nhu cầu học sinh nội trú cũng tăng, khiến chính quyền Pháp ở Hà Nội cũng phải cho xây dựng, sửa chữa, mở rộng nhiều trường, lớp, phòng ăn, phòng ngủ đáp ứng nhu cầu của cha mẹ học sinh. Trong ảnh là kí túc xá của trường.Nữ sinh mặc áo dài truyền thống, leo thang dây trong một giờ học Thể dục. Một số nữ sinh tốt nghiệp tú tài có tư tưởng tiến bộ đã chuẩn bị hành trang cùng dân tộc bước vào cuộc kháng chiến khi Pháp tái chiếm Hà Nội năm 1946.Một góc khác của lớp Hình học. Các môn học không hề phân biệt chỉ nam sinh mới được học còn nữ sinh thì không cần. Do đó thế hệ nữ sinh của trường Đồng Khánh xưa dù nay đã ở tuổi ngoài 80, vẫn không ngơi tự hào về nền giáo dục mà họ từng trải qua.Giờ học Hình học của nữ sinh Đồng Khánh. Các môn học đều hướng đến phát triển toàn diện cho các nữ sinh.Một lớp học vẽ. Nữ sinh đến trường vẫn mặc áo dài và đội khăn vấn truyền thống bình thường. Dù trường được đào tạo theo một hệ thống Âu hóa nhưng các nét Việt Nam vẫn được tôn trọng và giữ nguyên vẹnGiờ học Hóa với giáo cụ rất trực quan. Cơ sở vật chất của trường hiện đại và tân tiến kể cả nếu là so với các trường học hiện đại thì cũng không bị tụt hậu quá nhiều.Giảng viên Pháp tiến hành thì nghiệm trong giờ học Vật lý. Cũng nhờ được đi học nên phụ nữ Hà Nội đã thay đổi, xã hội cũng thay đổi. Phong trào “tân thời” của con gái Hà Nội là một cuộc “cách mạng” chống lại sự khắt khe trong đạo đức Nho giáo với phụ nữ, đó cũng là cuộc đấu tranh đòi bình quyền đầu tiênCác nữ sinh được học nhiều môn như chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, số học, địa lý, luân lý, phép xã giao, vệ sinh… do cô giáo người Pháp dạy. Còn các cô giáo người Việt sẽ dạy nữ công gia chánh như quản lý gia đình, may vá, thêu thùa, nấu ăn… Trong ảnh là giờ học may được chụp vào những năm 1920.
Năm 1917, chính quyền Pháp mở Học viện Nữ học An Nam (Institution de Jeunes Filles Annamites) tại Hà Nội. Năm 1937, do chế độ giáo dục sở tại thay đổi, học viện đổi tên thành Trường Nữ học An Nam (tiếng Pháp: Collège de Jeunes Filles Annamites). Trường được đặt tại phố Đồng Khánh (Phố Hàng Bài ngày nay) nên còn được gọi là Trường nữ sinh Đồng Khánh.
Đây là trường nữ sinh nổi tiếng nhất Bắc Kỳ, dành cho con gái gia đình trung – thượng lưu.
Trong giai đoạn 1917–1945, trường Đồng Khánh được coi như:
biểu tượng của giáo dục nữ tinh hoa thời thuộc địa,
nơi đào tạo nhiều nữ trí thức nổi tiếng của Hà Nội và miền Bắc.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền mới quyết định bỏ tên cũ gắn với vua thân Pháp.
Trường được đổi tên thành: Trường Trưng Vương, để tôn vinh Hai Bà Trưng – biểu tượng nữ anh hùng của dân tộc chống ngoại xâm.
Vì sao có cụm tên Trường “Đồng Khánh – Trưng Vương”?
Người Hà Nội xưa thường gọi như vậy vì:
Gắn với ký ức lịch sử Những người học trước 1945 quen gọi “Đồng Khánh”, người sau 1945 gọi “Trưng Vương”, nên cụm tên kép dùng để xác định cùng là một ngôi trường.
Dùng để chỉ một di sản liên tục Trường mang tên Đồng Khánh trong gần 30 năm và tên Trưng Vương từ 1945 đến nay, nên tên kép thể hiện:
một cơ sở,
hai thời đại.
Cách gọi trong các hồi ký, tư liệu, báo chí Nhiều tác giả viết hồi ký, nghiên cứu lịch sử giáo dục thường ghi “Đồng Khánh – Trưng Vương” để giúp độc giả dễ nhận ra mối liên hệ giữa hai thời kỳ.
Một số nhân vật nổi tiếng từng học ở Đồng Khánh – Trưng Vương
Dưới đây là vài cựu học sinh / “alumni” nổi bật của trường:
Tên
Vai trò / tầm ảnh hưởng
Đỗ Thị Hồng Phấn
Là nữ sinh Trưng Vương tham gia phong trào học sinh kháng chiến chống Pháp. Bà bị bắt khi còn rất trẻ. Báo Nhân Dân điện tử+2Hỏa Lò+2 Sau này bà làm việc trong ngành thủy lợi (nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Thủy lợi). Vietnam+ (VietnamPlus)
Nguyễn Hạc Đạm Thư
Nhà báo, phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam; từng là nữ sinh Trưng Vương. BÁO PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐIỆN TỬ Bà có những hồi ức sâu sắc về thời kháng chiến và sau này cũng hoạt động rất lâu trong báo chí / công tác quốc tế. ct.qdnd.vn+1
Dương Thị Xuân Quý
Nhà văn – liệt sĩ. Học cấp 2 ở Trưng Vương. Wikipedia Trong kháng chiến chống Mỹ, chị là phóng viên chiến trường và đã hy sinh khi còn rất trẻ. Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam+1
Hoàng Lê Minh
Là học sinh Trưng Vương, giành Huy chương Vàng Olympic Toán quốc tế (theo kỷ niệm 100 năm trường) Tạp chí Cộng sản+1
Hoàng Xuân Sính
Giáo sư, nhà toán học nổi bật, cũng được nhắc là cựu học sinh Trưng Vương. Báo Pháp Luật Việt Nam
Tôn Thất Bách
Bác sĩ, giáo sư – cũng nằm trong danh sách cựu học sinh tiêu biểu. Báo Pháp Luật Việt Nam
Võ Thị Phương Thảo
Nghệ sĩ Ưu tú, liệt sĩ – trong danh sách cựu học sinh danh dự của trường. Tạp chí Cộng sản+1
Vương Thị Thái, Mai Trọng Minh, Dương Thị Cương
Cũng được nhắc trong các nguồn về truyền thống trường Trưng Vương. Tạp chí Cộng sản
Sáng 20.11, cộng đồng toán học Việt Nam thảng thốt báo cho nhau tin buồn GS Lê Dũng Tráng đã qua đời. Dù phần lớn cuộc đời GS Lê Dũng Tráng sống ở Pháp nhưng ông là một phần của ký ức toán học Việt Nam.
Theo GS Ngô Việt Trung, nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, GS Lê Dũng Tráng vừa tạ thế ở Pau (Pháp) vào tối 19.11 (giờ Pháp), hưởng thọ 78 tuổi.
GS Lê Dũng Tráng ẢNH: TL
GS Lê Dũng Tráng bảo vệ bằng tiến sĩ khoa học năm 1971 khi mới 24 tuổi, dưới sự hướng dẫn của các nhà toán học Chevalley và Deligne (giải Fields 1978, giải Abel 2013).
Ông từng là giáo sư tại ĐH Paris 7, ĐH Bách khoa Paris, ĐH Provence Marseille. Trước khi về hưu, ông là Trưởng ban Toán của Trung tâm Vật lý lý thuyết ICTP 2002 – 2009.
Ngay từ những năm 1970, ông đã tự bỏ tiền túi về Việt Nam giảng dạy gần như hàng năm. Ông là người giúp Việt Nam gia nhập Hiệp hội Toán học thế giới năm 1974. Nhờ sự vận động của ông, nhiều nhà toán học nổi tiếng đã đến giảng bài ở Việt Nam, nhiều nhà toán học Việt Nam được đi tu nghiệp ở nước ngoài. Có thể coi ông là người đã đưa toán học Việt Nam hội nhập toán học thế giới.
Thông tin GS Lê Dũng Tráng qua đời khiến nhiều nhà toán học Việt Nam thảng thốt. Dù phần lớn cuộc đời GS Lê Dũng Tráng sống ở Pháp, nhưng ông là một phần của ký ức toán học Việt Nam.
GS Hà Huy Khoái (nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam) nói đây là một “tin thật buồn”. Ông gọi GS Lê Dũng Tráng là “người bạn lớn của toán học Việt Nam, là chiếc cầu nối toán học Việt Nam với thế giới trong những ngày gian khó”. GS Nguyễn Khoa Sơn (nguyên Phó chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học – Công nghệ Việt Nam), cũng gọi GS Lê Dũng Tráng là “người bạn quý của toán học Việt Nam”.
Ông Đào Kiến Quốc, nguyên Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin, ĐH Quốc gia Hà Nội, kể: “Tôi biết ông khi được nghe các bài giảng của ông vào năm 1976. Hồi đó, theo đề xuất của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, người ta thành lập chuyên ngành toán lý thuyết kỳ dị tại khoa Toán Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội mà mình là một trong những sinh viên đầu tiên. Thú thực là lúc đó tôi không hiểu nhiều lắm bài giảng của ông. Sau này lại chuyển sang IT nên không còn quan tâm đến toán học kỳ dị. Nhưng ấn tượng về các bài giảng của nhóm 4 nhà toán học từ Pháp gồm Malgrange, Chenciner, Lê Dũng Tráng và Federic Phạm vẫn còn đậm nét”.
GS Nguyễn Tử Siêm, một chuyên gia đầu ngành về đất đồi núi Việt Nam, cũng nhắc đến một kỷ niệm dễ thương với GS Lê Dũng Tráng nhưng không liên quan đến… toán: “Năm 1971, ngẫu nhiên gặp ông ở Trường ĐH Tổng hợp Lomonosov (Nga). Lúc ấy ông sang Nga giảng dạy một thời gian dài. Đẹp trai, thư sinh, lúc nào cũng cầm quyển sổ tay để học tiếng Việt. Thế là tôi hay tìm gặp để ông… thực hành tiếng Việt. Dễ thương thế, đáng kính thế!”.
Tháng trước, thấy GS Lê Dũng Tráng công bố một tiền ấn phẩm mới. Hôm nay, nghe tin ông mất, tôi chợt nghĩ ‘có một số người làm toán có cái hạnh phúc là có thể làm toán đến những hơi thở gần cuối cùng’.
Tháng trước, thấy GS Lê Dũng Tráng công bố một tiền ấn phẩm mới trên Arxiv (một kho dữ liệu dạng nháp những bài báo khoa học, bất kỳ ai cũng có thể truy cập miễn phí) tôi rất ngạc nhiên và vui mừng.
Mấy năm trước ông về Việt Nam tôi thấy ông yếu nhiều và dường như không còn minh mẫn như xưa. Hôm nay, nhận được tin ông mất từ Hélène
GS Tạ Quang Bửu (thứ 2 từ trái qua) cùng TS Lê Dũng Tráng (người ngồi) đi thăm rừng Cúc Phương năm 1972 ẢNH: TL
Tôi chợt nghĩ, có một số người làm toán có hạnh phúc là có thể làm toán đến những hơi thở gần cuối cùng. Tôi đã từng có vài trải nghiệm như vậy. Noel năm 2009, tôi có viết chung một công trình cùng Hélène Esnault và chồng bà, Eckart Viehweg (cũng là một nhà toán học Đức).
Trong các trao đổi qua email, bà cho biết Eckart mệt. Tôi hình dung Hélène ngồi làm toán và thỉnh thoảng lại quay sang hỏi Eckart. Một tháng sau ông mất. Đêm Eckart mất, Hélène công bố một tiền ấn phẩm trên trang Arxiv về một số thảo luận giữa hai người trong kỳ Noel vừa qua. Không phải anh hùng, chỉ là đam mê. GS Hoàng Tụy công bố công trình cuối cùng ở tuổi 91. GS Tráng mới có 79, vẫn còn trẻ quá.
Tôi gặp GS Lê Dũng Tráng lần đầu năm 2000 ở Berkeley (tên của một đại học ở Mỹ) khi tôi đang làm postdoc (nghiên cứu sinh sau tiến sĩ) ở đó, còn ông ghé qua tham dự một hội thảo, có lẽ từ lời mời của Michael Artin (nhà toán học Mỹ gốc Đức, nổi tiếng với những đóng góp quan trọng cho ngành hình học đại số).
Từ trái sang: GS Ngô Việt Trung, GS Nguyễn Khoa Sơn, GS Hoàng Tụy, GS Lê Dũng Tráng, GS Hà Huy Khoái, GS Đào Trọng Thi ẢNH: TL
Tôi mời ông về nhà ăn tối. Trên đường đi, ông kể cho tôi nhiều về toán, trong đó việc ứng dụng kết quả nổi tiếng của Michael Artin, lúc đó cũng đang ở Berkeley, vào các chứng minh kết quả nổi tiếng của mình. Rất tiếc lúc đó tôi chẳng hiểu gì. Hôm sau cùng gặp Artin ở MSRI (Viện Khoa học toán học Simons Laufer, Mỹ), ông chỉ vào tôi và nói với Artin: anh còn vị trí postdoc nào cho cậu này không? Artin cười vẻ như hơi có lỗi. Tôi thấy ấm lòng.
Trong bữa tối hôm trước, ngoài toán học, Lê Dũng Tráng còn kể một câu chuyện rất thú vị, một giả thuyết của ông về Marco Polo liên quan đến Việt Nam. Rất tiếc là tôi không thể nhắc lại – vì phát biểu giả thuyết phải rất chính xác.
Ấn tượng lớn nhất của Lê Dũng Tráng đối với tôi là, ông luôn tự hào mình là người Việt Nam.
Ông sinh năm 1947, rời Việt Nam sang Pháp lúc mới 3 tuổi. Nhưng cho đến rất lâu sau này ông vẫn chỉ có hộ chiếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông kể, có lẽ ông là công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đầu tiên sang Mỹ.
Ông sang Mỹ để làm toán. Nhưng không chỉ làm toán, ông còn vận động chống chiến tranh Việt Nam trên đất Mỹ, cũng như vận động các nhà toán học Mỹ, Pháp giúp đỡ các đồng nghiệp Việt Nam. Các cố gắng của ông đã có ảnh hưởng to lớn giúp toán học Việt Nam hội nhập với thế giới. Sau này, ông luôn tranh thủ mọi dịp để về Việt Nam. Ông yêu đất nước, yêu con người, yêu cả những món ăn truyền thống Việt Nam.
GS Lê Dũng Tráng mất hôm qua 19.11. Sáng nay 20.11, trong buổi tổng kết công tác đào tạo tại Viện Toán học Việt Nam, ban tổ chức đã dành một phút để mặc niệm ông.
*
Khi nhiều nhà toán học gọi GS Lê Dũng Tráng là người bạn lớn của toán học Việt Nam, GS Ngô Việt Trung, nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, nêu ý kiến: “Không nên gọi GS Lê Dũng Tráng là người bạn lớn của toán học Việt Nam vì ông vẫn giữ quốc tịch Việt Nam và bản thân ông luôn coi mình là nhà toán học Việt Nam. Viện hàn lâm Khoa học thế giới cũng xếp ông là viện sĩ của Việt Nam”.
Thấy cảnh lũ lụt, đăng cái gì cũng không phù hợp. Nhân 20/11 xin đăng lại một bài viết về chuyện Thầy-Trò trên báo Đà Nẵng cuối tuần số ngày 19/11 cách đây 2 năm.
MỘT DI TÍCH CỦA ĐẠO THẦY-TRÒ
(LÊ THÍ• 19/11/2023 08:31)
Tại gò Nổng Tranh ở xã Duy Trung (Duy Xuyên) có một ngôi mộ đất đơn sơ nhưng có hai tấm bia cổ, một do con cháu dựng vào năm 1849 và một do học trò dựng vào năm 1850. Đó là mộ của thầy giáo Nguyễn Đức Huy, người từng là thầy của vua Tự Đức và Tiến sĩ Phạm Phú Thứ.
Thầy giáo Nguyễn Đức Huy
Nguyễn Đức Huy tự là Bá Diệu, sinh năm Tan Dậu 1801 tại làng Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, dinh Quảng Nam (nay thuộc xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên) nhưng quê chính ở làng Trung Phường cùng huyện (nay là thôn Trung Phường, xã Duy Hải).
Thân phụ của ông dời nhà từ Trung Phường lên lập nghiệp ở Trà Kiệu để hành nghề dạy học và làm thuốc. Lúc nhỏ ông là người chí hiếu với cha mẹ. Theo lời trên văn bia còn lưu lại thì khi cha mẹ tuổi cao sức yếu, hàng ngày ông tìm món ngon thức ngọt dâng lên cho cha mẹ để tỏ lòng hiếu kính.
Khi cha mẹ qua đời ông than khóc đến “chảy máu cả mắt”, dựng nhà bên mộ suốt ba năm để cư tang chẳng ngại sơn lam chướng khí, rắn rít cọp beo. Đạo hiếu của ông khiến mọi người phải ngưỡng mộ.
Nguyễn Đức Huy là người học giỏi thông kinh sử, y lý nhưng không gặp may trên hoạn lộ. Cả ba lần ông thi Hương đều chỉ đỗ tú tài. Sau đó ông quyết định không thi tiếp, ở nhà mở trường dạy học, môn đồ khắp vùng đến xin theo học rất đông, nhiều người sau này đỗ đạt vinh hiển.
“Môn đồ trước sau hơn ngàn người cùng ngâm vịnh thi, thư; có giới Nho sĩ đông đúc, lớp quan lại cùng ngoạn du ở trong trường đức nghiệp. Con cháu vâng theo giáo huấn, quyết thân gần với hiếu đạo, với lối sống cần cù, thuận ý ruộng nương.
Tiên sinh vững lập giáo huấn chỉnh nghiêm trong học tập, sùng yêu hiếu đạo, tấm gương sáng ấy, dẫu người xưa cũng ít người sánh kịp” (Lời trên văn bia – Theo bản dịch của nhóm tác giả ở Phân viện Văn hóa nghệ thuật tại Huế).
Tiếng thơm bay xa, năm 1840 dưới triều Minh Mạng ông được triều đình triệu về kinh bổ chức Hàn lâm viện Điển bạ, được sung vào giảng tập cho các hoàng tử. Năm 1848 dưới thời Tự Đức, ông được thăng chức Hàn lâm viện Thị giảng sung Tán thiện rồi thăng Hàn lâm viện thị độc. Cũng năm này ông được bổ Viên ngoại lang Bộ Lại.
Năm Tự Đức thứ 2, vào ngày 1 tháng 8 năm Kỷ Dậu (16/9/1849), ông bị nhiễm bệnh, qua đời ngay tại nhiệm sở, hưởng dương 49 tuổi. Nhà vua vô cùng thương xót một bề tôi thanh liêm mẫn cán, người thầy học cũ khả kính, đã truy tặng Trung Thận đại phu, Tán trị, lĩnh chức Thái thường tự Thiếu khanh, đặt tên thụy là Đoan Cẩn. Nhà vua cũng ra lệnh cấp kinh phí 20 tấm lụa và 400 lạng bạc, cho lính đưa linh cữu về quê nhà an táng.
Ngày 23 tháng Chạp năm Kỷ Dậu (4/2/1850) quan tài ông về đến quê nhà. Các học trò của ông dù đang làm quan ở xa cũng xin về quê thọ tang thầy. Ông được táng trên núi Càn La, nay là gò Nổng Tranh thuộc thôn Nam Thành, xã Duy Trung. Mộ ông được dân địa phương gọi là mộ Ông Thầy.
Học trò dựng bia vinh danh thầy
Tại mộ Nguyễn Đức Huy hiện nay ngoài tấm bia do 6 người con phụng dựng vào năm Kỷ Dậu 1849 có ghi 12 chữ: “Đại Nam Thái thường tự khanh Nguyễn phủ quân chi mộ” còn có một tấm bia bằng sa thạch có kích thước khoảng 1,2 x 1,4 mét do 96 môn đệ của ông dựng vào tháng 8/1850 ghi lại tiểu sử, ca ngợi tài năng, công đức và tỏ lòng thương tiếc của học trò đối với cái chết của thầy.
“Khi quan Thái thường tự Thiếu khanh Nguyễn Đoan Cẩn (là thầy dạy của Phạm Phú Thứ) mất, “những học trò đang làm quan đều xin về” để dự lễ tang của thầy, rồi “dựng bia nêu công đức” cho thầy” (Nguyễn Dị Cổ, Cách người xưa khuyến học trọng văn, Quảng Nam cuối tuần số ngày 27/12/2020).
Tấm bia lớn với lời văn dài 1.691 chữ chia làm 3 phần. Phần thứ nhất là lời giới thiệu tiểu sử, tài năng và đức độ của thầy. Phần hai là bài minh theo thể tứ tuyệt gồm 10 đoạn, mỗi đoạn 16 chữ. Phần ba ghi tên, học vị, chức vụ của 96 môn đồ tham gia dựng bia.
Trong 96 môn sinh có 1 tiến sĩ (Phạm Phú Thứ), 1 phó bảng (Hồ Hằng Tánh), 8 cử nhân (Nguyễn Thanh Trực, Phạm Phú Duy, Phạm Thanh Nhã, Biện Thế Vĩnh, Trần Minh Hưởng, Nguyễn Khác Cung, Phạm Văn Thủy, Phạm Hữu Đạo), 29 tú tài, 2 thơ lại (nhân viên hành chánh ở các phủ huyện), 1 phó tổng và 54 sĩ nhân (người có học nhưng chưa đỗ đạt).
Lời trên văn bia được cho là do Phạm Phú Thứ chấp bút vì ông là người đỗ cao nhất (tiến sĩ) và tại thời điểm dựng bia ông là người có chức vụ “đặc biệt” làm Khởi cư chú tại Viện Tập hiền (Cơ quan ghi chép lời nói của vua) kiêm Kinh diên giảng quan (chuyên việc giảng kinh sách cho nhà vua). Toàn văn bia rất dài, chỉ xin trích bản dịch bài minh của nhà nghiên cứu Phú Bình Lê Đình Cương để hiểu thêm tài đức của thầy và tấm lòng của trò:
“Đỉnh Ấn sơn phía nam cao ngất/ Nơi khởi nguồn dòng chảy Duy Xuyên/ Mênh mông, mạnh mẽ, bao dung/ Núi linh, sông hiển nảy sinh người tài.
Nhớ thầy ta được trời phó thác/ Mọi điều hay để lại cho đời/ Làm gương đạo hiếu cho người/ Luân thường giữ trọn một đời tôn sư.
Ái mộ thầy biểu dương mối Lễ (kinh Lễ)/ Mừng kính thầy dạy dỗ nền Thi (kinh Thi)/ Họ hàng, làng xóm trong ngoài/ Không ai không tỏ rõ lời ngợi khen.
Văn chương thầy rạng ngời đức độ/ Thầy lại đem sở học giúp đời/ Tài năng thi thố tót vời/ Chăm chăm giữ vẹn đạo trời phú cho.
Thầy uyên bác rèn người dạy chữ/ Đào tạo nên đông đảo học trò/ Lớp sau, lớp trước nối nhau/ Làu thông kinh sử, nền Nho rạng ngời.
Như cỏ chi mọc trong cốc núi/ Như sen xanh cao vút giữa bùn/ Lung linh chữ nghĩa thơm hương/ Như dòng nước chảy từ nguồn về xuôi.
Dẫn dắt trò trên đường chính thiện/ Công đức thầy cao cả xiết bao!/ Dạy ngẩng đầu báo ơn vua/ Dạy cúi đầu học những gương trung thần.
Chiếu điển tịch chọn người tài tuấn/ Triều đình ban ân lễ đủ đầy/ Nhà vua mến nhớ thầy xưa/ Phong thêm chức tước cho vừa công lao.
Thầy quá vãng cả triều đều tiếc/ Nỗi buồn này lan tỏa muôn nơi/ Như nhà đổ, như sụt đồi/ Mối sầu thiên cổ theo người chẳng tan.
Vẫn còn đó tiếng thơm, phép tắc/ Của thầy ta sáng mãi nước non/ Núi La bia đá hãy còn/ Nghìn thu nhớ mãi công ơn của thầy”.
Thầy giáo Nguyễn Đức Huy và môn đồ của ông là tấm gương sáng cho đời sau noi theo, cả những người làm nghề dạy học lẫn những người được “đi học”. Đó là bài học cụ thể về tinh thần tôn sư trọng đạo, là cách thức thực tế để nâng cao đạo đức xã hội.
Di tích mộ Nguyễn Đức Huy vì vậy cần được tôn tạo và phát huy giá trị. Được biết, Phòng VH-TT huyện Duy Xuyên đang tiến hành lập hồ sơ để công nhận di tích cấp huyện cho mộ Nguyễn Đức Huy.