• NGÀY XƯA THẬT GẦN – BẢY TẤM ẢNH CŨ, 21-27 THÁNG 9 – NĂM 2025

    Hoàng Tôn Cát trích NGÀY XƯA THẬT GẦN – chuyển từ California ngày 27 tháng 9 năm 2025. Xin tùy ý sử dụng.

  • DẠ KHÚC THU

    Vương Hoài Uyên (VH-HTK)

    Có một buổi chiều như thế ở trong em
    Khi những cây phong trong vườn vừa thay màu áo đỏ
    Nắng hanh hao chở mùa về cuối ngõ
    Thu!
    Thu về rồi trong sâu thẳm hồn em.

    Em như người lữ khách xa xăm
    Ngồi lại một mình bên mùa Thu viễn xứ
    Gom lá vàng như những mảnh thư tình vụn vỡ
    Của mùa Thu nhờ gửi lại mùa Đông.

    Có bao giờ anh về lại bên sông
    Con thuyền chở Thu vàng đã xuôi nửa dòng con nước
    Em vẫn là em của những mùa Thu trước
    Làm sao níu thời gian trôi trên hữu hạn đời mình?

    Vẫn là khi mùa Thu ngoảnh mặt vô tình
    Để cơn gió heo may cứa sâu vào nỗi nhớ
    Em đứng giữa mùa Thu xào xạc gió
    Đong đưa đời mình như chiếc lá thu phai.

    VƯƠNG HOÀI UYÊN

    ( Denver – Colorado )

    * Hình chớm thu trong vườn nhà.

  • THƯƠNG NHỚ MÙA KHOAI

    Bão Bualoi gây mưa lớn ở Đà Nẵng. Không ra ngoài cà phê được đành lên mạng lang thang cho hết thời gian. Bất ngờ gặp bài cũ. Mời đọc lại để quên mưa bão!

    Lê Thí (SĐ-HTK)

    ***

    THƯƠNG NHỚ MÙA KHOAI

    Miền Trung đang mùa mưa bão. Có những ngày mưa dầm, trời trở lạnh. Chợt nhớ tuổi thơ, quê nhà và mùa khoai.

    Quảng Nam là một trong những tỉnh dẫn đầu của cả nước về diện tích trồng khoai lang. Có lẽ như nhà văn Nguyên Ngọc nghĩ: “Quảng Nam không giàu về nông nghiệp. Phía đông toàn cát trắng, phía tây dằng dặc đất trống đồi núi trọc. Trên cát sỏi phải bòn ra sự sống…”. Khoai lang là loại cây thích hợp cho cả hai loại đất vì vậy có khi đây là loại cây góp phần để người Quảng “bòn ra sự sống”, để trụ vững được trên vùng đất khắc nghiệt này. Khả năng thích nghi của người Quảng rất lớn họ lại rất linh hoạt vì vậy đã tạo ra một hệ thống món ăn từ khoai rất đa dạng và không kém phần hấp dẫn. Những người Quảng rời nông thôn ra thành thị hay “tha phương cầu thực”, mỗi khi mùa mưa bão, trời trở lạnh luôn có những hồi ức về một thời … khoai lang.

    Mùa khoai thường bắt đầu từ tháng 10 cho đến hết tháng 4 âm lịch. Trên đất vườn đồi khoai được trồng sớm, đầu tháng 9, tháng 10 khi có những cơn mưa đầu mùa đủ cho đất bắt đầu ẩm và thu hoạch vào tháng chạp, tháng giêng. Khoai chính vụ được trồng trên đất ruộng vào tháng giêng và thu hoạch vào tháng tư, khi bắt đầu nắng nóng, đất khô, cây khoai thiếu ẩm và củ khoai dễ bị hà ăn. Mùa thu hoạch khoai trùng với mùa hạ nắng nóng dễ chế biến, bảo quản.

    Khoai lang ngoài việc nấu, hấp chín để ăn (nửa buổi nửa chiều, có khi thay cả bữa điểm tâm hoặc cơm trưa), còn được chế biến thành khoai khô, khoa chà hoặc khoai chẻ.

    Khoai khô là khoai củ tươi được xắt nhỏ để phơi cho khô. Để làm khoai khô người ta thường lựa những củ khoai lớn, đem rửa sạch rồi xắt thành các lát mỏng theo hình dạng củ khoai hoặc xắt nhỏ theo dạng hình khối chữ nhật (khoai măng). Đem phơi cho thật khô, đổ vào ghè đậy kĩ cho khỏi bị ẩm mốc. Đến lúc mưa gió hoặc mùa giáp hạt đem ghế cơm hoặc nấu chin để ăn thay cơm. Nếu nấu với đường thì gọi là khoai ngào.

    Khoai chà

    Khoai chà là loại khoai tươi đã nấu chin và chà nhỏ thành bột. Để chế biến khoai chà phải trải qua nhiều công đoạn. Khoai sau khi thu hoạch, lựa loại củ nhiều tinh bột (bở) dùng dao gọt sạch, cắt đầu cắt đuôi, rửa kỹ, đổ vào nồi nấu cho chín. Khi nấu, dưới đáy nồi có đặt một lớp vỉ bằng tre đan để khi chín khoai không bị nhão và cháy. Khi nấu phải nhiều lửa, đổ nước sao cho nấu trong vòng 30 phút là vừa cạn, và cũng là lúc khoai vừa chín nhờ thế khoai sẽ ngọt và thơm hơn, không bị cháy hoặc nhão. Sau khi chín, đổ khoai ra rổ cho ráo nước, bỏ vào cối giã nhỏ, cho vào rổ có lỗ thưa dùng tay chà xát để khoai rớt hết xuống bên dưới, rải ra nong phơi thật khô, thế là ta đã có khoai chà.

    Khoai đã khô, dùng sàng phân thành 2 loại: lớn hạt (trên sàng) và nhỏ hạt (dưới sàng). Sau đó đổ vào ghè, hủ cất để ăn dần, món này được dùng để ăn điểm tâm, ăn giữa buổi, hoặc có thể ghế với cơm ăn cũng rất ngon. Khi ăn khoai chà cũng phải đúng cách mới thưởng thức và cảm nhận hết hương vị ngon của nó.

    Khoai chà hạt lớn khi ăn ta phải “sú” lên cho mềm. Sú khoai tức là đổ nước ấm vừa đủ vào cho hạt khoai nở ra. Phải để cho khoai nở từ từ mới ngon, đổ nước nóng khoai nở gấp quá không thơm, nhiều nước khoai bị nhão, ít nước khoai bị cứng. Loại khoai chà sú nước thường được ăn với đậu phụng hay mè rang. Vị ngọt bùi của khoai, vị thơm của mè hoặc đậu phụng làm thành một món ăn khoái khẩu. Người ta lại thường dùng bánh tráng nướng hoặc lá mít để “xúc” khoai cho vào miệng thay vì dùng muỗng. Xúc bằng bánh tráng thì sang hơn, xúc bằng lá mít lại có cái thú riêng của nó!

    Sang trọng hơn khoai chà (loại nhỏ) được trộn thêm đậu phụng rang giòn, vỡ đôi, đường bát thắng với gừng vừa tới và vỏ quế đã được cạo mỏng (ăn khô, không sú). Vị ngọt, vị bùi, mùi thơm của khoai của đường bát thắng, của đậu phụng rang, của quế, gừng hòa quyện vào nhau sẽ làm nên một món ăn đặc biệt mà hình như chỉ có ở xứ Quảng mà thôi!

    Khoai ngào

    Khoai ngào được chế biến từ khoai lang khô nấu với đường bát. Khoai khô được đem rửa thật sạch cho vào nồi nấu cho chín, dằm cho nát nhừ ra xong bỏ đường vào, trộn đều. Đậy nắp kĩ và cho lửa nhẹ (tốt nhất là vần với tro nóng, bên bếp lửa) cho đường “tới”. Có thể bỏ thêm ít gừng tươi, giã nhỏ trộn đều để có thêm mùi thơm. Khi ăn sẽ thấm vị ngọt của đường và hương thơm của gừng già, tạo thành một hỗn hợp mềm mịn, dẻo quánh lại, tỏa hương thơm ngào ngạt. Sang hơn người ta nấu với đậu đỏ để vừa có vị béo bùi, ngon bổ hơn lại có màu sắc “bắt mắt”. Khoai ngào được chế biến khá đơn giản nhưng lại là món ăn khoái khẩu tiện lợi.

    Một ngày đầu đông, buổi trưa vắng lặng giữa Đà Nẵng phồn hoa vẫn còn được nghe lanh lảnh tiếng rao “khoai ngào đây”. Lòng lại miên man về một mùa khoai tuổi nhỏ!

    Khoai chẻ (khoai trụng, khoai dai)

    Để chế biến khoai chẻ người ta lựa các loại khoai ít tinh bột, dẻo, ruột đỏ. Đem khoai rửa thật sạch cho vào nồi nấu chín. Khi nấu cũng giống như khoai chà, phải đổ vừa nước, chụm lửa đều cho chín nhanh và ở dưới cũng phải lót lớp vỉ bằng tre đan để khoai khô đều không bị nhão và cháy.

    Nấu xong để cho khoai nguội, rồi đem chẻ thành từng lát mỏng, dọc theo củ khoai. Xong đem phơi cho thật khô. Bỏ khoai vào bao ni lông cột kĩ. Khi ăn lấy ra nhai như kẹo… Chewingum.

    Để làm khoai chẻ phải lựa những ngày trời thật nắng để chỉ cần một vài nắng là khoai đã khô vừa ngon lại vừa hợp vệ sinh. Ở nông thôn Quảng Nam ngày trước nhà nào cũng lo làm vài chục kí khoai chẻ để dùng nhất là trong những ngày mưa bão không ra đồng được. Trong cái lạnh của những ngày đông giá rét hoặc những ngày mưa bão bập bùng, nằm trong chăn nhai khoai chẻ để vừa thưởng thức hương vị của khoai vừa thưởng thức cảm giác của sự ấm áp nhàn nhã thì không gì bằng.

    Những loại khoai chế biến của Quảng Nam có thể ví như “đồ ăn nhanh-fast food” thời nay. Ai dám bảo là cha ông ta đi sau người Nhật, người Mỹ trong việc phát minh ra những món… ăn liền!

    LÊ THÍ

  • Em Bước Vào Thu 

    Thơ Trần Quốc Bảo

    Em Bước Vào Thu

    Em bước vào Thu như vào mộng,
    Cây lá chung quanh, một sắc vàng.
    Nắng vẫn chờ em ngoài cửa động,
    Sao chân ngập ngừng… em hoang mang? 

    Em bước vào Thu chiều hư ảo,
    Thảm cỏ nằm, tương tư mầu xanh.
    Khu vườn nhớ mùi hương thạch thảo,
    Chiếc lá đầu cành, rơi rất nhanh!

    Em vào Thu, dẫm trên xác lá,
    Có nghe vụn vỡ, tiếng dòn tan!
    Âm thầm chịu đau thương tàn tạ, 
    Làm sao em biết, lá thở than?

    Em bước vào Thu, rừng nức nở,
    Thoảng nghe tiếng chim kêu lạc đàn!
    Trong chòm lá, nai vàng bỡ ngỡ…
    Đầu cành mắt lệ, giọt sương tan!

    Em bước vào Thu, trăng sắp rụng,
    Thời gian đậu trên cánh phong lan.
    Như mây phù du… Em sao biết
    Thu vừa đến, là Thu sắp tàn!

    Em vào Thu nghe gió thở dài.
    Vàng Thu rực rỡ, để tàn phai!
    Ngọn đèn bừng sáng, khi gần tắt,
    Còn gì lưu luyến để ngày mai! (?)

              Trần Quốc Bảo

                     Richmond, Virginia

                Địa chỉ điện thư của tác giả:

             quocbao_30@yahoo.com

  • NHẠC SĨ NGUYỄN VŨ ĐÃ THÔI “NHỮNG ĐÊM THẾ TRẦN ĐÓN NOEL”

    Cù Mai Công

    17g20 chiều 24-9-2025, nhạc sĩ Nguyễn Vũ, một giáo dân mến đạo xứ Nghĩa Hòa – Ông Tạ đã rời thế trần về với Chúa (1945-2025). Có thể nói ông là nhạc sĩ tên tuổi trước 1975 cuối cùng ở vùng Ông Tạ đã ra đi.

    Nhạc sĩ Nguyễn Vũ – Ảnh Hải Đăng, hàng xóm, nhà đối diện

    Lúc sinh thời, thỉnh thoảng ông trách nhẹ chuyện nhiều ca sĩ, bản in nhạc hát, ghi sai lời “Bài Thánh ca buồn” của ông khi đổi “thế trần” thành “thánh đường”: “Rồi những đêm thánh đường đón Noel”.

    Trách nhẹ thôi, vì ông bảo: “Với tôi, Noel từ lâu đã không còn là một lễ hội tôn giáo dành riêng người theo đạo nữa. Noel trở thành một lễ hội chung của mọi người. Đó là ngày hội lớn được đón nhận bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội”.

    Một lỗi thứ hai mà ông nhắc tới: “Rồi một chiều áo trắng thay màu, em qua cầu xác pháo theo sau” bị các ca sĩ cũng như bản in đổi thành “Rồi một chiều áo trắng phai màu”. Ông giải thích: “Áo trắng thay màu” có nghĩa chiếc áo trắng thơ ngây của cô nữ sinh ngày nào giờ đổi thay sang một màu áo nào khác, cụ thể ở đây từ chiếc áo nữ sinh thay qua màu áo cưới”.

    Chỉ hai từ thôi cho thấy nét ý tứ, sâu sắc của một nhạc sĩ Bắc 54 Hà Nội xưa nay sống bình dị và thanh lịch ở vùng đất đậm đặc Bắc 54 Ông Tạ là Nghĩa Hòa.

    Nhà ông trên đường Nghĩa Hưng, phường 6, Tân Bình. Chỉ cách đường Nghĩa Phát, trục chính sầm uất, tấp nập của khu chợ Nghĩa Hòa – khu chợ đậm chất Ông Tạ nhất hiện nay với nhiều món Bắc 54 tưởng chừng đã thất truyền – vài chục mét nhưng thật lạ, nó như một thế giới riêng, yên tĩnh, ít nhà buôn bán.

    Sáng sáng, ngôi nhà nhỏ của ông vang tiếng dương cầm nhè nhẹ, chỉ như ru thêm bình yên nhà hàng xóm, trong đó có nhà các con ông cạnh bên. Tiếng dương cầm nhẹ như bước chân ông bà rảo trên đường ra công viên Lê Thị Riêng tập dưỡng sinh cách đó non cây số. Nhẹ và thanh lịch như lối sống bao lâu nay của ông trong xóm đạo Ông Tạ. Nhẹ và đằm thắm như ly cà phê ông uống trong quán cà phê của nhà thơ Phạm Thiên Thư trong khu Bắc Hải gần nhà cùng anh bạn trẻ Hải Đăng nhà đối diện – vốn từng làm báo Tuổi Trẻ hơn chục năm với tôi.

    Nhẹ như nhạc phẩm bất hủ của ông vang lên mỗi mùa Giáng sinh, kể cả dịp Giáng sinh năm nay 2021, khi ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng vốn cũng là cư dân ngõ Con Mắt – Ông Tạ gần đó cất giọng như thảng thốt: “Bài thánh ca buồn”.

    Nhạc phẩm ấy nhẹ lắm, trầm lặng lắm – như tình cảm rón rén của một cậu thiếu niên với một cô bạn gái mình để ý mà mãi nhiều năm sau, hình như khi cô bạn xưa đã sang sông, nó mới dám cất lên, nhớ lại kỷ niệm: “Bài thánh ca đó còn nhớ không em?”.

    “Chuyện xưa kể rằng”: Năm 1958, có một thiếu niên tên Nguyễn Tuấn Khanh 13 tuổi, sinh năm 1945 tại Hà Nội, lớn lên ở Đà Lạt sau cuộc di cư 1954. 14 tuổi, nó bị mê đắm bởi một cô gái “má đỏ, môi hồng” của thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến nó cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. “Trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng tôi lại không có can đảm để làm quen”.

    Nhạc sĩ Nguyễn Vũ thời thanh niên (1968) – Ảnh tư liệu của tác giả

    14 năm sau, khi cô bé “má đỏ, môi hồng” có lẽ đã yên bề gia thất với ai đó, thằng bé xưa lúc ấy đã là nhạc sĩ Nguyễn Vũ mới dám nhớ lại: “Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai chúng tôi đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng sinh. Cô ấy và tôi đều im lặng. Khi nghe ca khúc “Silent night” (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô ấy lẩm nhẩm hát theo. Hình ảnh ấy cứ ám ảnh tôi mãi cho đến nhiều năm sau đó, vào năm 1972, tôi đã viết lại cảm xúc của mình”. Và “Bài thánh ca buồn” ra đời. Ngay lập tức, hãng đĩa Sơn Ca nổi tiếng khi ấy đã mua độc quyền nhạc phẩm này và ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện… ; là một trong những nhạc phẩm Giáng sinh được nhiều thế hệ yêu thích cho đến nay.

    Nhạc phẩm ấy – như bao nhạc phẩm của ông xem chừng ẩn giấu nhẹ nhàng nét lãng mạn Hà Nội, nơi ông sinh ra; lồng trong màu xanh thăm thẳm Đà Lạt tuổi thiếu niên và cả nét thổn thức xóm đạo Ông Tạ, nơi ông thành danh: “Rồi những đêm thế trần đón Noel – Lang thang qua miền giáo đường dấu yêu – Tiếng thánh ca ngày xưa vang đêm tối – Nhớ quá đi thôi giọng hát ai buồn…”.

    Thổn thức ấy là thật, bởi chính ông cũng cho rằng: “Chết lên chết xuống vì tình thì viết nhạc mới hay” dù cái “chết lên chết xuống” ấy hầu như ông chỉ lặng lẽ giữ cho riêng mình, cho đến một hôm, bất chợt nó bật ra: “Bao nhiêu đêm Chúa xuống dương gian – Bấy nhiêu lần con nhớ người yêu…”.

    Gia đình cậu nhiều người theo đuổi âm nhạc. Riêng cậu, từ nhỏ đã chơi được nhiều nhạc cụ như guitar, harmonica, piano… và hát cho Ban Thiếu nhi của Đài Phát thanh Đà Lạt; năm 11 tuổi (1956) giải nhất đơn ca thiếu nhi của đài. Nhưng vài năm sau, gia đình cậu vào Sài Gòn, ở vùng Ông Tạ khi vùng này đang còn nhà tranh mái lá, mãi cho tới nay.

    Và cũng không theo nghiệp hát mà thành nhạc sĩ năm 20 tuổi (1965). Những bản nhạc đầu tay của ông: “Một loài chim biển”, “Huyền thoại chiều mưa”…

    Ít năm trước, ông mở lớp dạy đàn, dạy nhạc cho thanh thiếu niên Ông Tạ ngay nhà mình. Lớp học cũng không ồn ào, ít ai biết. Ông bảo: “Hình ảnh những đứa học trò cặm cụi, đánh vật với những nốt nhạc như tiếp thêm sức lực cho tôi…”. Liệu hình ảnh ấy có nhắc ông về một thời trẻ yêu thổn thức trong lặng thầm? Như bao trái tim yêu Ông Tạ vốn bình dị cả trong yêu thương con người và cuộc sống?

    Bình dị, lặng lẽ như khi ông “phát hiện” dẫn dắt, chỉ bảo một đứa em họ của ông, chỉ kém ông ba tuổi sau cũng là một nhạc sĩ nổi tiếng: nhạc sĩ Đức Huy. Trong các sáng tác của Đức Huy, nhạc phẩm “Và con tim đã vui trở lại” là một bài hát viết trong lúc đang làm việc, vừa hát vừa đàn ghita trên chiếc tàu du lịch của Mỹ trên đảo Hawaii với tâm trạng cô đơn, và đang đọc… Thánh kinh. Những nốt nhạc của hai anh em nhạc sĩ ấy rung lên thánh thiện, trong lành như vậy – như một góc “bình an dưới thế” đêm Noel xóm đạo Ông Tạ.

    Nhạc sĩ Nguyễn Vũ có cô em ruột tên Nguyễn Hải Triều, cũng là một nhạc sĩ và là một nhạc trưởng tài ba, từng là sơ dòng Mân Côi (sau này đã xuất tu). Nhà dòng cách nhà ông vài trăm mét. Một em gái ruột nữa là Nguyễn Thị Thanh Phượng, rất vui tính và xinh đẹp, cũng từng dạy trường Mai Khôi tôi học ngày xưa (nay là trường Bành Văn Trân). Dòng Mân Côi đối diện trường Mai Khôi trên đường Thánh Mẫu (nay là đường Bành Văn Trân).

    Bạn bè lối xóm ai cũng biết ông không thích nói nhiều về chuyện đã qua và cũng hiếm khi đánh, hát nhạc của mình. Đến nay, ông bảo thành công nhất trong suốt cuộc đời ông là bốn đứa con đều thành người; dù không đứa nào nối nghiệp cha nhưng tất cả đều biết đàn biết hát. “Cha con chúng tôi trở thành ban nhạc trong những ngày nghỉ, hội tụ gia đình. Với tôi, như thế là đủ”.

    “Ban nhạc gia đình” của một nhạc sĩ Ông Tạ quả an bình, trong trẻo như một đêm Giáng sinh trong xóm đạo Nghĩa Hòa mùa Noel: “Lung linh sao trời đẹp thêm môi mắt – Áo trắng em bay như cánh thiên thần…”.

    (Trích “Sài Gòn một thuở – Dân Ông Tạ đó” tập 2)

    Nhạc sĩ Nguyễn Vũ và tôi trước nhà nhạc sĩ – Ảnh: Hải Đăng

    Nguồn: FB Cù Mai Công 

    “Bài Thánh Ca Buồn” được ra đời như thế nào?

    Mỗi dịp Giáng sinh về, khắp nơi đâu đâu cũng vang lên giai điệu rộn ràng của những bài hát quốc tế quen thuộc như: Jingle Bells, Last Christmas hay We Wish You a Merry Christmas. Chen vào những giai điệu sôi động đó là những giai điệu buồn, da diết của các nhạc vàng viết về mùa Giáng Sinh được sáng tác từ hơn 50 năm trước, mà tiêu biểu nhất là ca khúc Bài Thánh Ca Buồn của nhạc sĩ Nguyễn Vũ. Theo chính tác giả kể lại, ca khúc này gắn liền với kỷ niệm đẹp nhưng rất buồn từ thời thơ ấu của ông.​


    Nhà thờ chính tòa Đà Lạt. Ảnh: cungphuot.info


    “Bài Thánh Ca Buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ ra đời vào tháng 10 năm 1972 từ lời đề nghị của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông – giám đốc hãng băng dĩa Sơn Ca, khi vị nhạc sĩ nổi tiếng này bắt tay vào thực hiện băng nhạc Sơn Ca số 3 chủ đề nhạc Giáng Sinh năm 1972. Nhiều ngày liền, nhạc sĩ Nguyễn Vũ loay hoay tìm đề tài thì bất chợt nghe loáng thoáng giai điệu của bài hát bất hủ Silent Night – Đêm Thánh Vô Cùng. Bài hát này gợi cho ông rất nhiều cảm xúc để hồi tưởng về thời thơ ấu, khi chỉ là cậu bé 14 tuổi. Sau đây là nguyên văn lời kể của nhạc sĩ Nguyễn Vũ:

    “Thuở ấy tôi là một cậu bé 14 tuổi, ngày ngày đi lễ ở nhà thờ Con Gà (Đà Lạt), sở dĩ tôi “chịu khó” đi lễ bởi vì phát hiện ra một cô gái rất xinh và ngoan đạo mỗi ngày vẫn ngang qua ngõ nhà tôi để đến nhà thờ. Trái tim vụng dại của thằng con trai mới lớn đập loạn nhịp trước bóng hình thiếu nữ tóc xõa vai mềm bềnh bồng trong gió cao nguyên.

    Ngày lại qua ngày suốt hơn ba tháng trời tôi âm thầm, lầm lũi làm “cái đuôi” cô ấy, kẻ trước người sau đi về mỗi bận trên 3km đường đèo nhưng một lời bẻ đôi không dám thốt. “Lòng thành” của tôi chỉ được hưởng một “ân huệ” cỏn con: Tôi được biết cô ấy tên Th., lớn hơn tôi 2 tuổi… Thế rồi một buổi chiều gần lễ Giáng sinh, tan lễ ra thì trời đổ mưa, “đối tượng” của tôi nép vội vào mái hiên trú mưa, tôi cũng… trú tạm bên cạnh, hai người chỉ cách nhau độ một gang tay. Hòa lẫn trong tiếng mưa là giai điệu quen thuộc của bản Thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng (Silent night – Lời Việt của Hùng Lân) vẳng ra từ ngôi nhà gần đấy”


    Nguồn: nhacxua.net

    ***

    Âm nhạc Việt Nam lại mất đi một tên tuổi lớn. Vĩnh biệt tác giả Bài Thánh Ca Buồn.

    Nhạc sĩ Nguyễn Vũ là tác giả của những ca khúc nổi tiếng: Lời cuối cho em, Bài cuối cho người tình, Huyền thoại chiều mưa, Đêm kỷ niệm, Ga chiều phố nhỏ… và đặc biệt là Bài thánh ca buồn. Ông qua đời lúc 17 giờ 20 hôm qua 24/9 tại nhà riêng ở Sài Gòn, do nhồi máu cơ tim.

    Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh. Ông sinh năm 1944 tại Hà Nội. Năm 1954, ông theo gia đình cùng hàng triệu người di cư vào Nam, sinh sống tại Đà Lạt. Nhờ có năng khiếu âm nhạc và được gia đình cho học từ nhỏ nên ông chơi được nhiều loại nhạc cụ như guitar, harmonica, piano…

    Nhạc sĩ Nguyễn Vũ từng góp mặt trong Ban Thiếu nhi của Đài Phát thanh Đà Lạt và từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi của Đài khi mới tròn 12 tuổi.

    Trước khi mất, nhạc sĩ Nguyễn Vũ vẫn mạnh khỏe ở tuổi ngoài 80.

    Theo cáo phó, linh cữu nhạc sĩ Nguyễn Vũ được quàn tại nhà riêng, số 36 Nghĩa Hưng, phường Tân Hòa; lễ tang bắt đầu từ 23 giờ ngày 24/9; lễ động quan lúc 5 giờ sáng 26/9, sau đó di quan và hỏa táng tại Trung tâm Bình Hưng Hòa.

    FB. Quán Nhạc Vàng

  • MÃN CẦU VÀ NA

    Chút chi mở đầu: Thái Cát tra rồi! Đó là nói theo giọng Huế, tức là giọng Trung Kỳ Quốc. Nói theo giọng Nam Kỳ Quốc là “Thái Cát già chát!”. Theo Bắc Kỳ Quốc là “Thái Cát già khú đế!”. Cái chi cũng được hết! Trước khi về với Ôn Mệ, Thái Cát cố làm cho xong ước nguyện là viết chút chút tập “NGÀY XƯA THẬT GẦN!” cho “DÁNG XƯA DIỆU UYỂN”.

    Thái Cát phải đi học mới biết chữ ABC. Phải đọc sách mới biết chút nghĩa lý. Phải tham dự mấy khóa thi cho đậu, xong mới có thể “Bán Chữ Nuôi Miệng!” ở trường Nữ Trung Học Pleime, Pleiku. Nói theo cái kiểu hồi còn ông vua trong Đại Nội, là phải học, đi thi, đỗ đạt mới hy vọng làm quan. Thái Cát không thèm chơi cái kiểu làm quan rồi mới đi học. Những ai giữ chức Bác Sỹ Y Khoa “đương đại”, nhưng phải mất cả buổi mới viết xong cái toa cho bệnh nhân chỉ gồm vỏn vẹn bốn (4) chữ “Cho thuốc đau bụng”của cái thời Giải Phóng Sáng Ngời làm Thái Cát khiếp sợ! Sang vàng trời, hơn bốn vạn Tiến Sĩ Phô Tô Cóp Pi không thèm viết với lách làm chi cho thêm mệt! Chúc mừng các anh Tiến Sĩ Phô Tô Cóp Pi vui thú nhìn cái tên Vietnam được thế giới tôn xưng xếp hạng đến những thứ 175 trong 176 quốc gia của địa cầu!

    Thái Cát lúc 15 tuổi, học “Phương Trình Bậc Hai” là A Ích Bình Phương cọng Bê Ích cọng Xê bằng Không. Nguyên si viết như thế này “ax2+bx+c=0. Sau nửa thế kỷ, Thái Cát vẫn nhớ, và, ngay bây chừ, Thái Cát đang loay hoay giải phương trình này, với ax2 là Thế Giới Hiện Tại, bx là Cái Nước Việt Nam Hiện Tại, và c là Thái Cát. Cho trị số x=bất kỳ như lũ quét, lũ cống, bão lụt đủ loại từ bão số 1 đến số 9, kết quả sau khi giải phương trình “ax2+bx+c=CẢ CÁI NƯỚC VIỆT NAM SẮP BỊ NẠN ĐÓI TỚI NƠI”. Thái Cát đã hỏi các bạn ban Toán như Nguyễn Hồng Tuấn (từng đậu Ưu hạng), Đặng Thị Thanh Nhã, Trần Dư Sinh, vân vân, TẤT CẢ đều thoái thác không chịu giải phương trình này với lý do Siêu Tuyệt Đối! Các Ngài cũng xuất thân Đại Học Sư Phạm Huế, nhưng CÒN thua xa các Tiến Sĩ Phô Tô Cóp Pi VIỆT NAM “ĐƯƠNG ĐẠI”.    

    Biết mà không nói là bất nhân. Nói mà không biết là bất nghĩa”. Nhân là người, là con vật hai chân, đối xử với nhau bằng lễ nghĩa. Con trâu có sức mạnh nhưng không biết lễ nghĩa. Con trâu chỉ biết nghe theo lệnh của chủ gồm các lệnh “Tắc” là đi qua trái. “Rì” là đi qua phải. “Hò hay Họ” là dừng lại. Khi nghe tiếng roi đánh kêu “Trót” có nghĩa là “Đi”. Chỉ có bấy nhiêu thôi. Với nắm cỏ, vày rơm là trâu ta đã huy hoàng một đời lao động!

    Thái Cát đang lo buồn vì sợ Việt Nam thiếu gạo, chứ không lo chi thiếu cỏ.

    Vào Home And Kitchen với bài của Andrew Walker:

    Guanabana nghĩa là gì trong tiếng Anh? Khám phá sâu hơn về món ngon nhiệt đới này

    Ngày 17 tháng 4 năm 2025 bởi Andrew Walker

    Guanabana. Chỉ riêng từ này đã gợi lên hình ảnh những cảnh quan nhiệt đới tươi tốt, những loại trái cây kỳ lạ và hương vị hấp dẫn. Nhưng chính xác thì guanabana là gì, và nó có nghĩa là gì trong tiếng Anh? Mặc dù tên tiếng Tây Ban Nha “guanabana” được công nhận rộng rãi và sử dụng trên toàn thế giới, nhưng cách dịch tiếng Anh phổ biến nhất của nó là “soursop”. Bài viết này sẽ khám phá mọi thứ bạn cần biết về loại quả hấp dẫn này, từ nguồn gốc và đặc điểm thực vật cho đến công dụng ẩm thực và lợi ích sức khỏe tiềm năng, đồng thời tập trung vào ý nghĩa và hàm ý của tên tiếng Anh: soursop.

    Tìm hiểu về Guanabana: Hồ sơ thực vật

    Guanabana, hay mãng cầu xiêm, có tên khoa học là Annona muricata, thuộc họ Annonaceae, bao gồm cả cherimoya và sweetsop. Đây là một loại cây thường xanh có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới của châu Mỹ và vùng Caribe, nhưng hiện nay đã được trồng ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới. Việc hiểu rõ các đặc điểm thực vật của nó sẽ giúp hiểu rõ hơn về những phẩm chất độc đáo của loại quả này và lý do tại sao nó có nhiều tên gọi khác nhau.

    Cây có thể cao tới 8-12 mét (26-39 feet). Cây có lá màu xanh đậm, bóng và cho quả lớn, hình trái tim hoặc hình bầu dục. Những loại quả này đặc trưng bởi lớp vỏ màu xanh đậm, có gai và phần cùi màu trắng kem, hơi xơ. Kích thước của mãng cầu xiêm rất đa dạng, từ vài inch đến hơn một feet (30 cm), và mỗi quả có thể nặng tới vài pound (khoảng 600g).

    Kết cấu và hương vị độc đáo của quả mãng cầu xiêm là chìa khóa để hiểu được sức hấp dẫn của nó. Phần cùi được mô tả là có sự pha trộn giữa vị ngọt và vị chua, thường được so sánh với sự kết hợp của dâu tây, dứa và cam quýt, với một chút vị kem. Quả cũng chứa hạt đen không ăn được phân bố khắp phần cùi.

    Mãng cầu xiêm: Hơn cả một cái tên

    Tên tiếng Anh “soursop” đã lột tả hoàn hảo hương vị đặc trưng của loại quả này. Vị “chua” ám chỉ vị chua nhẹ, hơi chua, cân bằng với vị ngọt. Từ “sop” tuy không rõ ràng về mặt từ nguyên nhưng có lẽ ám chỉ kết cấu mềm, mọng nước của quả. Nguồn gốc khác có thể bao gồm sự liên hệ với các loại trái cây tương tự hoặc đơn giản là một thuật ngữ mô tả được các nhà thám hiểm và thương nhân người Anh thời kỳ đầu đặt ra.

    Ý nghĩa của “mãng cầu xiêm” nằm ở khả năng truyền tải ngay lập tức hương vị của loại quả này đến người nói tiếng Anh. Không giống như “guanabana”, vốn đòi hỏi kiến ​​thức hoặc bối cảnh văn hóa trước đó, “mãng cầu xiêm” cung cấp manh mối trực tiếp về đặc điểm của loại quả này. Chính sự trực tiếp này đã góp phần khiến nó được sử dụng rộng rãi như một thuật ngữ tiếng Anh chính.

    Mặc dù “mãng cầu xiêm” là tên tiếng Anh phổ biến nhất, nhưng nó không phải là tên duy nhất. Tùy thuộc vào khu vực, bạn có thể gặp những tên gọi khác, chẳng hạn như “mãng cầu” (mặc dù thuật ngữ này cũng được dùng cho các loài Annona khác), hoặc những biến thể phát âm theo địa phương. Tuy nhiên, “mãng cầu xiêm” vẫn là bản dịch tiếng Anh được công nhận và hiểu rộng rãi nhất của “guanabana”.

    Guanabana Vòng Quanh Thế Giới: Hành Trình Ngôn Ngữ

    Mặc dù chúng ta đang tập trung vào bản dịch tiếng Anh, nhưng điều thú vị cần lưu ý là guanabana được gọi bằng các ngôn ngữ khác. Sự đa dạng ngôn ngữ này làm nổi bật sự hiện diện toàn cầu và ý nghĩa văn hóa của loại quả này.

    • Tiếng Tây Ban Nha: Guanábana

    • Tiếng Pháp: Corossol

    • Tiếng Bồ Đào Nha: Graviola

    • Tiếng Đức: Stachelannone

    • Tiếng Hà Lan: Zuurzak

    • Tiếng Philippines: Guyabano

    (Thái Cát: Nếu bạn chê ít, xem thêm danh sách ở cuối bài)

    Mỗi tên gọi phản ánh một khía cạnh cụ thể của loại quả này, cho dù đó là bản dịch trực tiếp của “mãng cầu xiêm” hay một thuật ngữ độc đáo bắt nguồn từ ngôn ngữ và văn hóa địa phương. Sự đa dạng về tên gọi nhấn mạnh khả năng thích nghi và hòa nhập của mãng cầu xiêm vào nhiều truyền thống ẩm thực khác nhau.

    Ứng dụng của mãng cầu xiêm trong ẩm thực: Từ nước ép đến món tráng miệng

     Hương vị độc đáo và kết cấu kem mịn của mãng cầu xiêm khiến nó trở thành một nguyên liệu đa năng trong nhiều ứng dụng ẩm thực. Từ đồ uống giải khát đến món tráng miệng tinh tế, loại trái cây nhiệt đới này mang đến một nét đặc trưng riêng cho bất kỳ món ăn nào.

    Một trong những công dụng phổ biến nhất của mãng cầu xiêm là trong đồ uống. Phần cùi của mãng cầu xiêm thường được xay nhuyễn thành sinh tố, nước ép và kem. Ở nhiều quốc gia Caribe, nước ép mãng cầu xiêm là một loại thực phẩm chủ yếu, có thể dùng riêng hoặc trộn với các loại trái cây khác. Vị ngọt chua của nó khiến nó trở thành một thức uống giải khát và cung cấp nước tự nhiên, hoàn hảo cho khí hậu nóng.

    Mãng cầu xiêm cũng được sử dụng rộng rãi trong các món tráng miệng. Kết cấu kem mịn của nó rất thích hợp để làm kem, sorbet và mousse. Nó cũng có thể được dùng để làm bánh nướng, bánh tart và các loại bánh nướng khác. Hương vị độc đáo của loại quả này mang đến một chút hương vị mới lạ cho những món tráng miệng quen thuộc, tạo nên một trải nghiệm ẩm thực thú vị.

    Ngoài đồ uống và món tráng miệng, mãng cầu xiêm còn có thể được sử dụng trong các món mặn. Ở một số nền văn hóa, mãng cầu xiêm được dùng để làm nước sốt và nước ướp cho thịt và hải sản.Vị chua của loại quả này có thể giúp làm mềm thịt và thêm hương vị nhiệt đới tươi sáng cho các món mặn. Tuy nhiên, ứng dụng này ít phổ biến hơn so với việc sử dụng trong các món ngọt.

    Khám phá những lợi ích sức khỏe tiềm năng của mãng cầu xiêm

    Mãng cầu xiêm không chỉ thu hút sự chú ý bởi hương vị độc đáo mà còn bởi những lợi ích sức khỏe tiềm năng. Các thầy thuốc y học cổ truyền ở nhiều nền văn hóa khác nhau từ lâu đã sử dụng mãng cầu xiêm vì những đặc tính dược liệu được cho là của nó. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù nghiên cứu sơ bộ cho thấy nhiều hứa hẹn, nhưng vẫn cần nhiều nghiên cứu hơn để xác nhận những lợi ích này và xác định liều lượng phù hợp.

    Một số lợi ích sức khỏe tiềm năng liên quan đến mãng cầu xiêm bao gồm:

    • Đặc tính chống oxy hóa: Mãng cầu xiêm giàu chất chống oxy hóa, có thể giúp bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương do các gốc tự do gây ra. Điều này có thể góp phần vào sức khỏe tổng thể và giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính.

    • Tác dụng chống viêm: Một số nghiên cứu cho thấy mãng cầu xiêm có đặc tính chống viêm, có thể giúp làm giảm các triệu chứng của các bệnh như viêm khớp.

    • Tác dụng tăng cường miễn dịch: Mãng cầu xiêm là nguồn cung cấp vitamin C dồi dào, được biết đến với tác dụng hỗ trợ hệ miễn dịch.

    • Khả năng chống ung thư: Đây là lĩnh vực gây tranh cãi và được nghiên cứu nhiều nhất. Một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng chiết xuất mãng cầu xiêm có thể ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Tuy nhiên, những nghiên cứu này đã được thực hiện trong ống nghiệm (trong ống nghiệm) hoặc trên động vật, và kết quả có thể không áp dụng được cho con người. Điều quan trọng cần nhấn mạnh là mãng cầu xiêm chưa được chứng minh là phương pháp điều trị ung thư và không nên được sử dụng thay thế cho các phương pháp chăm sóc y tế thông thường.

    Lưu ý quan trọng: Mặc dù mãng cầu xiêm mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhưng việc tiêu thụ nó ở mức độ vừa phải là rất cần thiết như một phần của chế độ ăn uống cân bằng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều mãng cầu xiêm với bệnh Parkinson không điển hình, đặc biệt là ở những vùng mà loại quả này được tiêu thụ rộng rãi. Nếu bạn có bất kỳ bệnh lý tiềm ẩn nào hoặc đang dùng thuốc, hãy tham khảo ý kiến ​​bác sĩ chăm sóc sức khỏe trước khi bổ sung mãng cầu xiêm vào chế độ ăn uống của bạn.

    Tìm mãng cầu xiêm ở đâu

    Việc tìm mãng cầu xiêm tươi có thể gặp khó khăn tùy thuộc vào vị trí của bạn. Vì là một loại trái cây nhiệt đới, nên mãng cầu xiêm dễ tìm thấy nhất ở các vùng trồng trọt, chẳng hạn như vùng Caribe, Trung và Nam Mỹ, và Đông Nam Á.

    Ở những vùng này, bạn thường có thể tìm thấy mãng cầu xiêm tươi tại các chợ địa phương, cửa hàng tạp hóa và các quầy hàng ven đường. Nguồn cung có thể thay đổi tùy theo mùa. Hãy tìm những quả hơi mềm khi chạm vào và có mùi thơm dễ chịu. Tránh những quả quá cứng hoặc có dấu hiệu bị hư hỏng.

    Ngoài các vùng nhiệt đới, việc tìm mãng cầu xiêm tươi có thể khó khăn hơn. Một số cửa hàng tạp hóa đặc sản hoặc chợ quốc tế có bán mãng cầu xiêm, đặc biệt là những cửa hàng phục vụ cộng đồng Mỹ Latinh hoặc châu Á. Bạn cũng có thể tìm thấy phần cùi mãng cầu xiêm đông lạnh, có thể dùng trong sinh tố và các công thức nấu ăn khác.

    Một lựa chọn khác là mua mãng cầu xiêm trực tuyến. Một số nhà bán lẻ trực tuyến bán cùi mãng cầu xiêm đông lạnh, nước ép mãng cầu xiêm và các sản phẩm khác làm từ mãng cầu xiêm. Tuy nhiên, hãy chắc chắn chọn những người bán uy tín để đảm bảo chất lượng và độ tươi ngon của sản phẩm.

    Kết luận: Mãng cầu xiêm – Kho báu nhiệt đới

    Tóm lại, mãng cầu xiêm (guanabana), có nghĩa là mãng cầu xiêm trong tiếng Anh, không chỉ là một cái tên. Nó là lời mời gọi khám phá thế giới hương vị kỳ lạ, những lợi ích sức khỏe tiềm năng và sự phong phú về văn hóa. Mặc dù “guanabana” có thể là thuật ngữ gốc tiếng Tây Ban Nha, nhưng “soursop” đã lột tả chính xác tinh túy của loại quả này đối với người nói tiếng Anh, làm nổi bật vị ngọt chua và kết cấu kem mịn của nó. Cho dù bạn thưởng thức nó như một loại nước ép giải khát, một món tráng miệng xa hoa hay một phương thuốc tiềm năng cho sức khỏe, mãng cầu xiêm vẫn là một kho báu nhiệt đới đáng để khám phá. Hãy nhớ thưởng thức nó một cách điều độ và tham khảo ý kiến ​​bác sĩ nếu bạn có bất kỳ lo ngại nào về tác dụng tiềm ẩn của nó. Thế giới của mãng cầu xiêm, hay mãng cầu xiêm, là một thế giới hấp dẫn, mang đến hương vị nhiệt đới và cái nhìn thoáng qua về truyền thống ẩm thực và y học đa dạng của các nền văn hóa khác nhau.

    Tên tiếng Anh phổ biến nhất của mãng cầu xiêm là gì?

    Tên tiếng Anh phổ biến nhất của mãng cầu xiêm là mãng cầu xiêm. Tên gọi này được công nhận rộng rãi và sử dụng ở các nước nói tiếng Anh, đặc biệt là ở những vùng nhập khẩu hoặc trồng loại quả này. Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng mãng cầu xiêm vẫn là tên gọi chính và dễ hiểu nhất.

    Những tên gọi tiếng Anh khác ít phổ biến hơn nhưng vẫn có liên quan bao gồm mãng cầu xiêm và mãng cầu xiêm (graviola). Mãng cầu xiêm thường dùng để chỉ các loài cây họ hàng khác, dẫn đến sự nhầm lẫn tiềm ẩn. Mãng cầu xiêm được sử dụng phổ biến hơn trong khoa học và y học, nhưng đang ngày càng được nhiều người quan tâm đến sức khỏe biết đến.

    Tên gọi “guanabana” bắt nguồn từ đâu?

    Tên gọi “guanabana” được cho là bắt nguồn từ tiếng Arawakan, cụ thể là từ người Taíno sinh sống trên các đảo Caribe trước khi người châu Âu xâm chiếm. Nhóm bản địa này có di sản nông nghiệp phong phú, và cái tên này có thể phản ánh kiến ​​thức sâu rộng và cách trồng trọt loại quả này của họ.

    Từ “guanabana” sau đó được những người thực dân Tây Ban Nha tiếp nhận và điều chỉnh khi họ khám phá và định cư ở châu Mỹ. Phiên bản tiếng Tây Ban Nha của tên gọi này sau đó lan sang các ngôn ngữ và khu vực khác, củng cố vị trí của nó như một tên gọi thông dụng cho loại quả này.

    Có sự khác biệt nào giữa guanabana và graviola không?

    Nhìn chung, guanabana và graviola đều dùng để chỉ cùng một loại quả: Annona muricata. Guanabana phổ biến hơn ở các khu vực nói tiếng Tây Ban Nha và cũng đã được một số cộng đồng nói tiếng Anh tiếp nhận. Mặt khác, graviola đã trở nên phổ biến trong thế giới nói tiếng Anh, đặc biệt là trong các cuộc thảo luận liên quan đến sức khỏe và thể chất.

    Mặc dù chúng đại diện cho cùng một loại trái cây, thuật ngữ được sử dụng thường phụ thuộc vào vị trí địa lý và ngữ cảnh của cuộc trò chuyện. Trong các tài liệu khoa học và nghiên cứu, graviola thường được sử dụng, trong khi guanabana thường được nghe thấy nhiều hơn trong các cuộc trò chuyện hàng ngày ở những khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Mỹ Latinh.

    Guanabana có vị như thế nào?

    Hương vị của guanabana thường được mô tả là sự pha trộn độc đáo giữa vị ngọt và vị chua. Nó sở hữu kết cấu kem với hương vị kết hợp các yếu tố của dâu tây, dứa và cam quýt, tạo nên trải nghiệm hương vị phức tạp và sảng khoái. Vị chua nhẹ cân bằng vị ngọt, giúp nó không bị quá ngấy.

    Hương vị của quả có thể thay đổi đôi chút tùy thuộc vào độ chín và điều kiện trồng trọt. Quả guanabana chín hơn thường ngọt hơn, trong khi quả ít chín hơn có thể có vị chua rõ rệt hơn. Hương vị đặc trưng của nó khiến nó trở thành một nguyên liệu phổ biến trong các loại nước ép, sinh tố và món tráng miệng.

    Guanabana thường được sử dụng như thế nào trong nấu ăn?

    Guanabana cực kỳ linh hoạt trong ẩm thực, đặc biệt là trong việc tạo ra các loại đồ uống và món tráng miệng giải khát. Kết cấu kem mịn và hương vị độc đáo của nó khiến nó trở nên lý tưởng cho các loại nước ép, sinh tố, kem và sorbet. Phần cùi của quả có thể được xay với nước hoặc sữa để tạo ra một thức uống giải khát, thường được làm ngọt bằng đường hoặc mật ong.

    Ngoài đồ uống, guanabana còn được sử dụng trong nhiều món tráng miệng khác nhau, chẳng hạn như bánh trứng sữa, bánh nướng và mousse. Ở một số nền văn hóa, nó cũng được sử dụng trong các món mặn, tạo nên sự cân bằng vị chua nhẹ với hương vị đậm đà hơn. Tính linh hoạt của loại quả này cho phép nó được thưởng thức trong cả bối cảnh ngọt và mặn, thêm hương vị nhiệt đới đặc trưng cho nhiều món ăn.

    Một số lợi ích sức khỏe được cho là của guanabana là gì?

    Guanabana thường được quảng cáo là có tiềm năng mang lại lợi ích cho sức khỏe, bắt nguồn từ thành phần dinh dưỡng phong phú. Nó chứa Vitamin C, vitamin B và chất xơ, góp phần hỗ trợ hệ miễn dịch và sức khỏe tiêu hóa. Một số nghiên cứu cũng cho thấy khả năng chống oxy hóa và chống viêm tiềm tàng.

    Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là phần lớn các nghiên cứu về lợi ích sức khỏe của quả guanabana chỉ mới ở giai đoạn sơ bộ và được thực hiện trong phòng thí nghiệm hoặc trên động vật. Mặc dù một số phương pháp y học cổ truyền sử dụng quả guanabana cho nhiều loại bệnh khác nhau, nhưng cần có các thử nghiệm lâm sàng nghiêm ngặt hơn trên người để xác nhận những tuyên bố này và xác định liều lượng an toàn và hiệu quả.

    Liệu có bất kỳ tác dụng phụ tiềm ẩn nào liên quan đến việc tiêu thụ quả guanabana không?

    Mặc dù nhìn chung được coi là an toàn ở liều lượng vừa phải, nhưng việc tiêu thụ quá nhiều quả guanabana có thể liên quan đến một số tác dụng phụ nhất định. Một số nghiên cứu cho thấy mối liên hệ tiềm ẩn giữa việc tiêu thụ quá nhiều và bệnh Parkinson không điển hình, đặc biệt là ở những vùng thường tiêu thụ loại quả này. Mối liên hệ này cần được nghiên cứu thêm.

    Ngoài ra, quả guanabana chứa các hợp chất có thể tương tác với một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc điều trị huyết áp hoặc tiểu đường. Do đó, bạn nên tham khảo ý kiến ​​chuyên gia chăm sóc sức khỏe trước khi kết hợp quả guanabana với lượng lớn vào chế độ ăn uống, đặc biệt nếu bạn có tiền sử bệnh lý hoặc đang dùng thuốc.

    Danh mục Mẹo & Thủ thuật Nhà bếp.

    (Ghi chú: Thái Cát đã phải nhất quyết gồng mình dùng những chữ của nhà nước đương đại để các bạn không bị ùn tắc tư tưởng bất khả cứu hộ. Amen!)

    Vào NGÀY XƯA THẬT GẦN với bài của Thái Cát:

    Chút chi gia phả của Soursop.

    Xác định tên gọi: Danh từ quả Na của Việt Nam do đâu mà có?

    Theo chủ trương Rao Giảng Tin Mừng của đạo Thiên Chúa, các vị Thừa Sai tình nguyện ra đi đến các nơi theo sự chỉ định của Giáo hội La Mã. Tương truyền rằng, kề từ năm 1492, Christopher Columbus đến quần đảo Caribbean. Tại đây, thổ dân Taino nói tiếng Arawakan có kinh nghiệm trồng tỉa rất giỏi. Họ tin vào thượng đế, rất quý một loại cây ra hoa bên trong thoáng có màu vàng nhạt như ánh nắng đầu ngày, trái xanh, thịt trắng vị ngọt, hột đen. Họ vẫn cầu xin thượng đế của họ làm cho cây ra quả như ý muốn với cách trồng riêng của họ. Họ toại nguyện, và họ cho tên của loại cây này với tiếng Arawakan phát âm nghe như “guanabana”. Theo gót Christopher Columbus, các vị Thừa sai đến Caribbean rao giảng tin mừng. Khi mãn nhiệm kỳ, các vị này thường đem về nước Tây Ban Nha dâng Nữ Hoàng một số hạt và vài loại cây con. Điển hình là cây bông giấy, được vị Thừa sai tên Bougainvillia mang về từ Ba Tây (Brazile), hay các loại cây cao su, đào lộn hột (hột điều), nhờ vậy mà lan truyền khắp thế giới. Cây “guanabana” được dịch ra tiếng Trung Quốc là Mãn Cầu . Khi hạt cây sang tới Thái Lan, mang tên tiếng Anh là Soursop, truyền tới An Nam có tên là Mãn câu Xiêm, ra tới Cao Bằng, Lạng Sơn, các vị Thừa sai vẫn gọi là Gòa Na Ba Nà, hoặc là An Nô Nà. Giáo dân An Nam Mít cứ thé mà gọi tắt là “Quả Na” cho nó khỏe!

    Trong 8 chữ Na của Trung Hoa, không có chữ nào trỏ về trái cây. Nếu trỏ sự mềm mọng, mũn mĩm dễ thương thì phải gồm 2 chữ A Na. Nếu dùng làm tên cho con gái thì thường là Lệ Na, An Na, Ti Na… Dân Nam Kỳ quốc không giỏi cách viết chính tả, cứ từ chữ Mãn thêm vào một Gờ thành ra chữ Mãng, ý nghĩa trở thành khác hẵn thành to lớn bự con trong nghĩa con rắn bành ki nái tức là con Mãng Xà , kẻ Lỗ Mãng , vân vân,

    Từ “guanabana” sau đó được những người thực dân Tây Ban Nha tiếp nhận và điều chỉnh khi họ khám phá và định cư ở châu Mỹ. Phiên bản tiếng Tây Ban Nha của tên gọi này sau đó lan sang các ngôn ngữ và khu vực khác, củng cố vị trí của nó như một tên gọi thông dụng cho loại quả này.

    Mãn cầu hay Mãng cầu? Thưa: Phải là Mãn Cầu. Tiếng Trung Hoa không có hai chữ Mãng cầu. Nam kỳ quốc viết Mãng cầu là sai chính tả.

    Như vậy, Na hay Quả Na, Trái Na là loại trái cây từ nước ngoài do các người truyền đạo Thiên Chúa mang vào Việt Nam khi rao giảng tin mừng, Thái Cát tự nghĩ không nên lảm quả phẩm dâng cúng Phật, giống như ngườii theo đạo Gia Tô thờ Chúa Giê Su không ăn đồ cúng kỵ, nhất là từ trên các Chùa mang xuống. Trái Mãn cầu cũng giống như vậy.

    Dáng Xưa Diệu Uyển ơi! Có biết cho ta không? Ui dào! Trong một xã hội không gia đình, không tôn giáo, không tổ quốc thì nói mấy cũng không ngạ!

    Thái Cát Thân Trọng Tuấn (VH-LVC) trích NGÀY XƯA THẬT GẦN, chuyển từ California ngày 22 tháng 9 năm 2025. Xin tùy ý sử dụng.

    ***

    Hành Trình Ngôn Ngữ guanabana

    Arawakan: guanabana

    Chamorro: laguaná, laguana, laguanaha, syasyap;

    Chinese: Mǎn Qiú

    Chuukese: saasaf, saasaf, saasap, sasaf;

    English: prickly custard apple, soursop;

    Fijian: sarifa, seremaia;

    French: anone muriquee, cacheimantier épineux, cachiman épineux, corasol, corossol, corossol, corossol épineux, corossolier;

    Kosraean: sosap;

    Maori (Cook Islands): kātara‘apa, kātara‘apa papa‘ā, naponapo taratara;

    Marquesan: koroso;

    Marshallese: jojaab;

    Mokilese: truka shai;

    Niuean: talapo, talapo fotofoto;

    Palauan: sausab;

    Pohnpeian: sae, sei;

    Portuguese: araticum do grande, graviola, coração-de-rainha, jaca-de-pobre, jaca-do-Pará;

    Malaya: durian belanda, durian maki; or seri kaya belanda;

    Netherlands Antilles: sorsaka or zunrzak;

    Samoan: sanalapa, sasalapa, sasalapa; 

    Spanish: guanábana, guanábano, zopote de viejas, cabeza de negro, catoche, anona de puntitas, anona de broquel;

    Tahitian: tapotapo papa‘a, tapotapo urupe;

    Thailand: thu-rian-khack;

    Tongan: ‘apele’ initia;

    Tuamotuan: korosor, tapotaporatara;

    Vietnam: Bình bát, mảnh bát, mãn cầu, mãn cầu bở, mãn cầu dai, mãn cầu đỏ, mãn cầu tím, mãn cầu xiêm, mãn cầu Do Thái, Mãn cầu Úc, Mãn cầu Đài Loan, na…

    Yapese: sausau
    (Thái Cát tạm ngừng ngang đây)

    @******@

    soursop

    noun

    sour·​sop ˈsau̇(-ə)r-ˌsäp 

    : a small tropical American tree (Annona muricata) of the custard-apple family that has spicy odoriferous leaves

    một loại cây nhiệt đới nhỏ của Mỹ (Annona muricata) thuộc họ mãng cầu có lá có mùi thơm cay

    Mãn Cầu Do Thái trong vườn của Thái Cát tại California – USA ngà 21/9/2025

    Thái Cát Thân Trọng Tuấn (VH-LVC) chuyển từ California ngày 06 tháng 10 năm 2023. Xin tùy ý sử dụng.

  • Tưởng nhớ GS Y khoa Phạm Biểu Tâm

    Posted on 21 Tháng Bảy, 2017 by Văn Việt

    TÌM LI THI GIAN ĐÃ MT

    TƯỞNG NH MT V DANH SƯ

    GIÁO SƯ Y KHOA PHM BIU TÂM

    Ngô Thế Vinh

    Đây là bài mi b sung cho mt bài viết khi đu ch là hi tưởng và nhng k nim rt riêng tư vi Giáo sư Phm Biu Tâm nhân dp l tưởng nim 100 năm ngày sinh ca mt v danh sư đã đ li nhng du n lâu dài trong Ngành Y ca Vit Nam t thế k trước.

    Hình 1: Giáo sư Phạm Biểu Tâm tại Bệnh viện Bình Dân (1960), mỗi buổi sáng cùng các nội trú và sinh viên đi thăm trại bệnh trước khi vào phòng mổ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm*]

    ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

    Giáo sư Phạm Biểu Tâm sinh ngày 13 tháng 12 năm 1913 tại Thừa Thiên, Huế; mất ngày 11 tháng 12 năm 1999 tại Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi.

    Vào cuối đời, thầy Tâm cho biết thực sự thầy gốc người Nam Bộ, sinh ra và lớn lên tại miền Trung. Sau đây là thông tin từ người em ruột Gs Phạm Biểu Tâm, Băng-sĩ Phạm Hữu Nhơn nguyên là một tướng lãnh thuộc Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH từ Falls Church, Virginia gửi cho Bông, tức tên gọi ở nhà của Phạm Biểu Trung, trưởng nam của thầy Tâm:

    “Bông thân mến, Cha cháu sinh ngày 13/12/1913. Quê quán làng Nam Trung, huyn Phú Vang, tnh Tha Thiên, trong mt gia đình khoa bng. C c là Tng binh Phm Tn, gc min Nam, quê quán làng Long Phú (Bến Lc, Gò Công), tnh Gia Đnh. Được vua Gia Long vi ra làm quan ngoài Bc Hà (Ninh Bình và Nam Đnh). C ni là Phm Năng Tun, tước hiu Hàn Lâm Viên Đi Phu. C khai khn và thành lp làng Nam Trung, tnh Tha Thiên cho các quan gc min Nam ra Trung. C thân sinh là Phm Hu Văn, thi đu Tiến sĩ khoa Quí Su 1913. Làm quan ti chc B Chánh tnh Thanh Hóa, được thăng Thượng Thư Tr S khi đã v hưu.

    Giáo sư Phạm Biểu Tâm học tiểu học tại Huế, trung học phổ thông tại Vinh, rồi trường Quốc Học Huế, và trường Bưởi Hà Nội.

    Suốt thời tuổi trẻ, Giáo sư Phạm Biểu Tâm đã là một hướng đạo sinh, rất hoạt động trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng của đất nước. Ông gia nhập tráng đoàn Lam Sơn của Hoàng Đạo Thúy, từ những năm 1930 từng tham dự khóa huấn luyện Tráng tại Bạch Mã, Huế. Có thể nói suốt cuộc đời, ông vẫn gắn bó với phong trào hướng đạo Việt Nam và vẫn cứ mãi là một tráng sinh lên đường. Không chỉ là nội trú lâu năm nhất ở Bệnh viện Phủ Doãn, theo Gs Trần Ngọc Ninh: “Anh Tâm còn là Chủ tịch Hội Sinh viên Y khoa 1942, là cầu thủ Đội Bóng Rổ của Tổng Hội Sinh viên, đang là tuyển thủ hữu danh của Hội Thuyền Buồm Việt Nam,” (1)

    Năm 1932, thầy Tâm theo học Trường Y Khoa Hà Nội, sau Bác sĩ Tôn Thất Tùng một năm. Sau khi tốt nghiệp y khoa, vẫn tiếp tục tình nguyện ở lại làm Nội Trú Bệnh Viện thêm 8 năm. Mãi tới năm 1947 mới trình luận án Tiến Sĩ Y Khoa với đề tài mang tính văn hoá: “Introduction de la Médecine Occidentale en Extrême-Orient / S Du Nhp ca Y hc Tây Phương sang Vin Đông.

    Nói về đời sống gia đình, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã kết hôn với Bà Công Tằng Tôn Nữ Tuyết Lê vào năm 1944, nguyên là nữ sinh trường Đồng Khánh rất cấp tiến. Thầy Cô có năm người con, ba trai hai gái theo thứ tự: Phạm Biểu Trung, Phạm Biểu Chí, Phạm Biểu Kim Hoàn, Phạm Biểu Kim Liên và Phạm Biểu Tình nhưng tên gọi ở nhà thì chỉ là tên các vật liệu trong phòng mổ: Bông, Gc, Băng, Kim, Ch. Thầy cô còn có thêm một dưỡng nữ Trần Thị Hồng.

    Hình 2a,b: Thầy Cô Phạm Biểu Tâm tại căn nhà đường Ngô Thời Nhiệm (1970); và 5 người con với tên gọi ở nhà: Bông, Gạc, Băng, Kim, Chỉ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

    Năm 1948, Giáo Sư Phạm Biểu Tâm trúng tuyển kỳ thi Thạc Sĩ Y Khoa [Professeur Agrégé des Universités] tại Paris, đồng thời với Giáo sư Trần Quang Đệ cũng là một bác sĩ phẫu thuật lừng danh tại Bệnh viện Chợ Rẫy sau này. Trở về nước, thầy Tâm tiếp tục giảng dạy tại Đại Học Y Khoa Hà Nội kiêm Giám Đốc Bệnh Viện Yersin hay còn gọi là Nhà Thương Phủ Doãn cho đến ngày ký kết Hiệp định Genève 1954 phân đôi đất nước.

    Hình 3: Gs Phạm Biểu Tâm (phải) và Bs chuyên khoa Ung thư Nguyễn Xuân Chữ đi dự Tuần lễ Ung Thư / Semaine Du Cancer (1950) tại Pháp, phía sau là tấm poster tiếng Việt với slogan: Ung thư càng để lâu bao nhiêu càng kém hy vọng khỏi bấy nhiêu. Hãy đến khám tại Cơ quan Trung ương Việt Nam Trừ Ung thư tại Bệnh Viện Yersin Hà Nội. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]
    Hình 4: Buổi trình luận án tại Đại học Y Khoa Hà Nội (1952) của Bs tân khoa Nguyễn Tấn Hồng, với Giáo sư Phạm Biểu Tâm trong Hội đồng Giám khảo. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

    Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập, cũng khởi đầu ngành Quân Y Việt Nam 1951, Gs Phạm Biểu Tâm có thời gian đảm trách chức vụ Phó Giám Đốc Trường Quân Y với cấp bậc Trung Tá.

    Năm 1954, Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm đã cùng gia đình di cư vào Nam, được đề cử làm Giám Đốc Bệnh Viện Bình Dân mới xây cất xong trên đường Phan Thanh Giản Sài Gòn, đồng thời cũng là Trưởng Khu Ngoại Khoa tại bệnh Viện này. Đa số nhân viên y tế từ nhà thương Phủ Doãn di cư vào Nam đều trở lại làm việc tại bệnh viện Bình Dân. Đây cũng là một bệnh viện giảng huấn trực thuộc trường Đại Học Y Nha Dược duy nhất của Miền Nam Việt Nam thời bấy giờ.

    Khi Đại Học Hỗn Hợp Pháp Việt được người Pháp trao trả lại cho Việt Nam [11.05.1955], Giáo-Sư Phạm Biểu Tâm được đề cử làm Khoa Trưởng, và là vị Khoa Trưởng đầu tiên của Trường Đại Học Y Dược Sài Gòn [Faculté Mixte de Médecine et Pharmacie].

    Hình 5: Giáo sư Phạm Biểu Tâm Khoa Trưởng Y Khoa Sài Gòn (trái) và Linh Mục Cao Văn Luận Viện Trưởng sáng lập của Viện Đại Học Huế từ 1957, đi dự một Hội nghị Quốc tế về Giáo Dục. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]
    Hình 6: Hội Đồng Khoa, với một số giáo sư trong Ban Giảng Huấn Đại Học Y Khoa Sài Gòn: từ trái, Gs Trần Ngọc Ninh, Gs Trịnh Văn Tuất, Gs Trần Vỹ, Gs Caubet, Gs Phạm Biểu Tâm, Gs Huard, Gs Trần Đình Đệ, Gs Nguyễn Đình Cát, Gs Nguyễn Hữu, Gs Ngô Gia Hy. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]
    Hình 7: Sau buổi trình luận án của 2 Bs tân khoa: Nguyễn Khắc Minh, Đào Hữu Anh tại Đại học Y Khoa Sài Gòn (1960); với Hội đồng Giám khảo, hàng trước từ trái: Giáo sư Nguyễn Hữu, Giáo sư Phạm Biểu Tâm, Giáo sư Trần Đình Đệ, Giáo sư Trịnh Văn Tuất. (Bs Nguyễn Khắc Minh, Bs Đào Hữu Anh, cả hai đều trở thành giáo sư của trường Y Khoa sau này). [nguồn: hình tư liệu của Gs Nguyễn Khắc Minh]

    Năm 1962, Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ / American Medical Association [AMA] đã viện trợ một ngân khoản lớn cho Việt Nam để xây cất một Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa với tiêu chuẩn hiện đại tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn, gồm một Trường Y Khoa [giai đoạn I] và một Bệnh Viện thực tập [giai đoạn II]. Lễ đặt viên đá đầu tiên do Tổng Thống Ngô Đình Diệm chủ tọa.

    Hình 8a: Lễ đặt viên đá đầu tiên (1962) xây cất Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa tại đường Hồng Bàng, Chợ Lớn; từ trái: Gs Khoa Trưởng Phạm Biểu Tâm, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Gs Nguyễn Quang Trình, Gs Lê Văn Thới; đứng phía sau là Đại sứ Mỹ Frederick E. Nolting, Jr.
    Hình 8b: Lễ đặt viên đá đầu tiên xây cất Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa tại đường Hồng Bàng; hàng trước từ trái: Gs Phạm Biểu Tâm, Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, Gs Nguyễn Quang Trình, Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn. Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa được khánh thành 3 năm sau 1966. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

    Sau biến cố 1963, Gs Phạm Biểu Tâm tiếp tục ở lại với Trường Y Khoa cho đến tháng 3 năm 1967, khi tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương đã đơn phương ký sắc lệnh giải nhiệm chức vụ Khoa Trưởng của Gs Phạm Biểu Tâm để thay thế bằng một Uỷ ban 5 người, đây cũng là lần đầu tiên ở miền Nam chính trị can thiệp vào nền tự trị đại học. Từ nhiệm chức Khoa trưởng, thầy Tâm vẫn cứ ẩn nhẫn, tiếp tục công việc của một Giáo sư Giải phẫu, giảng dạy và điều trị mổ xẻ tại Khu Ngoại Khoa B Bệnh viện Bình Dân.

    Cùng lúc với Dự án của Hiệp Hội Y khoa Hoa Kỳ / AMA Project, kết hợp với trường Y khoa Sài Gòn để cải tiến các bộ môn từ khoa học cơ bản tới các khoa lâm sàng như nội khoa, sản phụ khoa, nhi khoa, giải phẫu, gây mê, quang tuyến… với kế hoạch vừa huấn luyện tại chỗ vừa gửi nhân viên giảng huấn sang tu nghiệp tại các Đại học Hoa Kỳ. Đây là giai đoạn thầy Tâm đã bỏ ra rất nhiều công sức để phát triển chương trình đào tạo thêm nhân viên giảng huấn Khoa Giải phẫu cho trường Y khoa.

    Sự hợp tác giữa giáo sư Henry Bahnson danh tiếng từ Đại học Pittsburgh và Gs Phạm Biểu Tâm tại Bệnh viện Bình Dân được coi là thành công nhất trong số những chương trình được AMA bảo trợ.

    Hình 8c,d: Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn hoàn tất 3 năm sau (giai đoạn I), việc xây dựng một Bệnh viện Thực Tập hiện đại (giai đoạn II) phải ngưng vì những biến động chính trị cho tới 1975. [nguồn: internet]

    Tưởng cũng nên ghi lại ở đây, tên tuổi của một học viên Bs Nghiêm Đạo Đại sau này đã trở thành một giáo sư phẫu thuật lừng danh trong chuyên khoa thay ghép / transplant tuỵ tạng-gan-thận ở Đại học MCP Hahnemann / Drexel, Pittsburgh nhưng anh Đại thì trước sau vẫn không quên ơn thầy. Anh viết: “ Tôi đã thấm nhập những điều dậy dỗ của “lò Bình Dân”. Quả như vậy, sau khi vào ban giảng huấn Đại học Iowa bảy năm, trường Medical College of Pennsylvania / Hahneman / Drexel Pittsburgh hơn hai thập niên, tôi đã cảm nhận được là mình có phước rất lớn được học những tinh túy của các Thầy ở bệnh viện Bình Dân. Các Thầy đã trao cho tôi một hành trang đầy đủ để sử dụng trong suốt cuộc đời đi dậy học.” (2)

    Hình 9: Giáo sư Phạm Biểu Tâm tới thăm một Trung Tâm Y Khoa tại Minnesota (1960s), như bước khởi đầu hoà nhập hai hệ giáo dục Y khoa Pháp và Mỹ. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]
    Hình 10: Tiếp tân tại tư gia thầy Tâm cho buổi học Hậu Đại học Khoá 1972 từ trái: Bs Steven Reeder, Gs Phạm Biểu Tâm, Văn Kỳ Chương, Nguyễn Hữu Chí, Phan Văn Tường, Gs Anatolio Cruz, Gs Norman Hoover, Gs Đào Đức Hoành, Gs Phan Ngọc Dương, Văn Kỳ Nam, Lê Quang Dũng, Nguyễn Khắc Lân, Nguyễn Tiến Dỵ, Văn Tần, Nguyễn Đỗ Duy. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

    Sau biến cố 1975, mặc dù phải sinh hoạt trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, phải sống với bên thắng cuộc chỉ biết chuộng “hng hơn chuyên.”

    Giáo sư Phạm Biểu Tâm vẫn sống hết lòng cho y nghiệp, thương mến chăm sóc bệnh nhân không phân biệt giàu nghèo, hay màu sắc chính trị nào. Thầy Tâm tiếp tục công việc dìu dắt giảng dạy nhiều thế hệ sinh viên y khoa. Như từ bao giờ, thầy Tâm thâm trầm, nhưng cương nghị, làm nhiều và ít nói. Trong nghịch cảnh, thầy không bao giờ biểu lộ sự giận dữ, vẫn nhỏ nhẹ nhưng thâm thuý và sâu sắc, câu nói giản dị của thầy vẫn cứ mãi được truyền tụng trong đám môn sinh: “c gng làm vic, ly chăm sóc bnh nhân làm nhim v trước mt ca người thy thuc.

    Vẫn với kinh nghiệm của giới trí thức Hà Nội sau 1954, thuộc chế độ cũ, trước sau họ chỉ là thành phần được “lưu dung – không có dấu nặng” và không hề được tin cậy. Kinh nghiệm sau 1975 mà Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã từng trải qua, đó thực sự là một chặng đường đau khổ mà Giáo sư Hộ gọi đó là “nhng năm o vng.

    Năm 1984, Giáo sư Phạm Biểu Tâm buộc phải nghỉ hưu ở tuổi 71 sau một cơn tai biến mạch máu não/ stroke với liệt nửa người trái. Không có cơ hội hồi phục, năm 1989 Giáo sư Phạm Biểu Tâm đã phải rời bỏ quê hương yêu dấu, nơi mà Giáo sư đã dâng hiến gần trọn cuộc đời cho người bệnh, cho nền y học Việt Nam, để sang đoàn tụ với các con tại Hoa Kỳ.

    MỘT CHÚT RIÊNG TƯ

    Những dòng chữ này được viết cách đây 4 năm nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Gs Phạm Biểu Tâm.

    Đây chỉ là hồi tưởng, ghi lại những kỷ niệm rất riêng tư với Gs Phạm Biểu Tâm – không phải từ trong các giảng đường hay bệnh viện mà là với một thầy Tâm ngoài đời thường. Trong suốt học trình y khoa, tôi chưa từng được là môn sinh gần gũi của Thầy nhưng lại cảm thấy rất thân thiết với Thầy trong các năm học và cả những năm đã rời xa trường Y khoa về sau này. Chỉ đảm nhiệm chức vụ Khoa trưởng 12 năm (1955-1967), nhưng dấu ấn ảnh hưởng của thầy Tâm trên các thế hệ môn sinh thì lâu dài hơn nhiều, kể cả những người chưa được học hay không biết mặt Thầy. (5)

    Chỉ còn 2 ngày nữa là kỷ niệm 100 năm ngày sinh của giáo sư Phạm Biểu Tâm [13/12/1913].

    Hôm nay ngày 11 tháng 12, 2013 là ngày giỗ của Thầy, vậy mà cũng đã 14 năm rồi [11/12/1999], và khi thầy Tâm mất, gặp Cô để phân ưu, thì được Cô nhắc là anh Vinh có thể có một bài viết về Thầy. Vậy mà chưa làm được điều ấy thì Cô nay cũng đã mất.

    Tiểu sử giáo sư Phạm Biểu Tâm đã được bạn đồng môn Hà Ngọc Thuần từ Úc Châu tường trình khá đầy đủ – tưởng cũng nên ghi lại là anh Hà Ngọc Thuần đã cùng với anh Nghiêm Sĩ Tuấn từng là hai cây bút chủ lực của báo Y khoa Tình Thương, cùng biên soạn một công trình giá trị “Lịch Sử Y Khoa” với bút hiệu chung Hà Hợp Nghiêm, đăng từng kỳ trên Tình Thương cho tới khi báo đình bản 1967. (3)

    Rất khác với vẻ uy nghi cao lớn của Gs Trần Quang Đệ, cũng là một nhà phẫu thuật lừng danh khác của Việt Nam, cùng trúng tuyển kỳ thi Thạc sĩ Y khoa tại Paris năm 1948, thầy Tâm có dáng nhỏ nhắn của một thư sinh, vẻ nhanh nhẹn của một tráng sinh, nét mặt thầy không đẹp nhưng ngời thông minh và có thể lột tả – theo ngôn từ của bạn đồng môn Đường Thiện Đồng thì “thầy có những nét của một quý tướng.”

    Trước khi bước vào trường Y khoa, đã được biết tiếng về tài năng và đức độ của Gs Phạm Biểu Tâm, được nghe nhiều giai thoại về Thầy ngoài đời thường. Thầy là một trong những tráng sinh đầu tiên của ngành Hướng đạo Việt Nam từ những năm 1930 như biểu tượng của một thế hệ dấn thân. Tuy không là cầu thủ nhưng Thầy lại rất hâm mộ môn bóng đá; bạn bè trong Đại học xá Minh Mạng kể lại, Thầy thường có mặt nơi khán đài bình dân trong sân banh Tao Đàn, như mọi người Thầy cũng tung nón hò hét sôi nổi để ủng hộ cho đội banh nhà.

    Đến khi được gặp, thì thấy thầy Tâm là một con người rất giản dị, tạo ngay được cảm giác gần gũi và tin cậy với người đối diện nhưng vẫn luôn có đó một khoảng cách dành cho sự kính trọng. Kỷ niệm của người viết với thầy Tâm như là những khúc phim đứt đoạn.

    Từ 1963 tới 1967 là một giai đoạn cực kỳ xáo trộn ở miền Nam với liên tiếp những cuộc biểu tình xuống đường và bãi khóa của sinh viên mà phân khoa đầu não là Y khoa, lúc ấy vẫn còn tọa lạc nơi ngôi trường cũ 28 Trần Quý Cáp, Sài Gòn. Ở cương vị Khoa trưởng lúc đó thật khó khăn: thầy Tâm vừa phải duy trì sinh hoạt bình thường trong giảng đường và các bệnh viện mà vẫn tôn trọng tinh thần “tự trị đại học.” Thầy luôn luôn bao dung chấp nhận đối thoại và cũng do lòng kính trọng Thầy, các nhóm sinh viên y khoa tranh đấu lúc đó đã hành xử có trách nhiệm, trừ số rất ít cộng sản nằm vùng thì manh động theo chỉ thị của Thành ủy. Tình trạng thăng trầm của trường Y khoa trong cơn lốc chính trị với cả đổ máu ám sát tiếp tục kéo dài cho tới tháng Tư 1975.

    Hình 11: Gs Phạm Biểu Tâm nói chuyện với SVYK trong một giảng đường 28 Trần Quý Cáp, Sài Gòn sau vụ Thầy bị bắt trước biến cố 1963. [nguồn: Life Magazine]

    Khi tờ báo Sinh viên Y khoa Tình Thương ra đời đầu năm 1964, ở cương vị khoa trưởng, Gs Phạm Biểu Tâm tỏ ra tâm đắc với manchette của tờ báo mang tên “Tình Thương” mà thầy cho rằng ý nghĩa rất phù hợp với chức năng của những người Áo Trắng và thầy có viết một bài éditorial trên Tình Thương để giới thiệu tờ báo. Không nhiều biểu lộ nhưng chúng tôi hiểu rằng báo Tình Thương luôn luôn được hỗ trợ tinh thần của Gs Khoa Trưởng. Tình Thương không chỉ là tờ báo của những cây bút sinh viên mà khá thường xuyên còn có bài viết của các giáo sư y khoa như Trần Ngọc Ninh, Trần Văn Bảng, Nguyễn Đình Cát, Ngô Gia Hy và Vũ Thị Thoa…

    Hình 12: Bìa Nguyệt san Tình Thương của Sinh Viên Y Khoa, Số 1 ra mắt tháng 01.1964, và bị đình bản cuối 1967 với 30 số báo. [nguồn: tư liệu Trần Hoài Thư; Thư Quán Bản Thảo]

    Sinh viên Y khoa tới ngày tốt nghiệp ra trường, dân y hay quân y thì đều phục vụ trong quân đội, với các binh chủng chọn lựa hay được chỉ định. Là những bác sĩ trong thời chiến nên trước sau đã có một số đồng nghiệp hy sinh như các anh Đoàn Mạnh Hoạch, Trương Bá Hân, Đỗ Vinh, Trần Ngọc Minh, Phạm Bá Lương, Nguyễn Văn Nhứt, Trần Thái, Lê Hữu Sanh, Nghiêm Sĩ Tuấn, Phạm Đình Bách… chưa kể một số bị chết trong các trại tù cải tạo từ Nam ra Bắc, hay trên đường vượt biên sau này.

    Riêng những người chết hay mất tích khi vượt trại tù, ít nhất có hai bạn mà tôi quen biết: bác sĩ Nguyễn Hữu Ân Nha Kỹ Thuật cũng là dân Đại học xá Minh Mạng, cùng với bác sĩ Vũ Văn Quynh binh chủng Nhảy Dù là anh ruột của bác sĩ Vũ Văn Dzi hiện ở Oklahoma.

    Rất riêng tư, tôi không thể không nhắc tới một Trần Ngọc Minh, anh sống khá trầm lặng những năm sinh viên trong Đại học xá Minh Mạng, không những cùng dãy 7 mà còn ở ngay cạnh phòng tôi trong nhiều năm. Ra trường anh là một y sĩ Thủy quân Lục chiến, anh đã hy sinh trong một trận đánh khốc liệt tại thung lũng Việt An, tỉnh Quảng Tín 1965. Ít năm sau đó, một quân y viện mới trên đường Nguyễn Tri Phương ngay cạnh Trường Quân Y được khánh thành và mang tên anh.

    Xúc động nhất là cái chết của Nghiêm Sĩ Tuấn, mà tôi được sinh hoạt gần gũi với anh trong tòa soạn báo sinh viên Tình Thương. Ra trường, sự kiện Nghiêm Sĩ Tuấn chọn binh chủng Nhảy Dù, theo người bạn thân của anh là Đặng Vũ Vương, nhận định đó là một chọn lựa “thử thách cá nhân”. Anh đã hơn một lần bị thương sau đó vẫn tình nguyện trở lại trận địa và đã hy sinh trên chiến trường Khe Sanh 1968 khi anh đang cấp cứu một đồng đội…

    Do mối quan tâm tới các sắc dân Thượng từ thời làm báo sinh viên, ra trường tôi chọn phục vụ một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt với địa bàn hoạt động chủ yếu là vùng Tây nguyên; cũng trong khoảng thời gian này tôi có thêm chất liệu sống để hoàn tất tác phẩm Vòng Đai Xanh. Mỗi khi có dịp về Sài Gòn, tôi đều tìm cách đến thăm thầy Phạm Biểu Tâm. Trường Y khoa thì nay đã di chuyển sang một cơ sở mới có tên là Trung Tâm Giáo dục Y khoa trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. Cũng để thấy rằng, tuy ở Sài Gòn nhưng Thầy luôn theo dõi và biết khá rõ cuộc sống quân ngũ của những học trò của Thầy ra sao.

    Sau 1975, trừ một số ít đã được di tản trước đó, số bác sĩ còn ở lại trước sau đều bị tập trung vào các trại tù cải tạo. Từng hoàn cảnh cá nhân tuy có khác nhau nhưng tất cả hầu như đồng một cảnh ngộ: bị giam giữ trong đói khát, với lao động khổ sai và học tập tẩy não. Những bao gạo in nhãn “Đại Mễ” đầy mối mọt viện trợ của Trung Quốc được đưa vào nuôi tù cải tạo trong giai đoạn này. Không khác với các trang sách viết của Solzhenitsyn về Gulag Archipelago nhưng là Made in Vietnam, tinh vi hơn với phần học thêm được cái ác từ Trung Quốc. Cũng thật trớ trêu, trại giam đầu tiên của tôi lại là Suối Máu, nơi từng là trung tâm huấn luyện của Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù, một đơn vị mà tôi đã từng phục vụ. Như một chính sách rập khuôn, không giam giữ lâu ở một nơi, cứ sau một thời gian, các tù nhân lại bị tách ra, di chuyển đi các trại khác. Từ Suối Máu, tôi lần lượt trải qua các trại Trảng Lớn Tây Ninh, Đồng Ban và trại cuối cùng là Phước Long Bù Gia Mập. Một số khác thì bị đưa ta Bắc, sau này được biết là điều kiện tù đày khắc nghiệt hơn rất nhiều.

    Hình 13: Bài thơ với thủ bút của Gs Phạm Biểu Tâm tặng Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ (1975), Giải Khôi nguyên La Mã, người thiết kế Dinh Độc Lập và Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa (1962) trên đường Hồng Bàng, Chợ Lớn. [nguồn: hình tư liệu gia đình Gs Phạm Biểu Tâm]

    Ra tù ba năm sau, trở về một Sài Gòn đã thật sự hoàn toàn đổi khác. Ngôi trường cũ 28 Trần Quý Cáp góc đường Lê Quý Đôn rợp bóng cây xanh thì nay biến thành khu triển lãm “Tội ác Mỹ Ngụy”, không phải chỉ có trưng bày vũ khí súng đạn giết người, chuồng cọp với đủ dụng cụ tra tấn mà còn có cả sách báo nọc độc (sic) tàn dư văn hóa của “chủ nghĩa thực dân mới” trong đó có cuốn Vòng Đai Xanh.

    Hình 14: Trường Đại học Y khoa cũ, 28 Trần Quý Cáp Sài Gòn, nơi từng đào tạo bao thế hệ bác sĩ, sau 1975 biến thành khu triển lãm “Tội ác Mỹ Nguỵ” [nguồn: internet]

    Một hôm, tình cờ thấy Thầy Tâm đang đi bộ rảo bước trên khúc đường Trương Minh Giảng gần Tòa Tổng Giám Mục nơi góc đường Phan Đình Phùng. Dừng chiếc xe đạp cũ kỹ bên lề đường, tôi chạy tới chào Thầy. Thầy trò gặp nhau không nói gì nhiều nhưng tôi thì đọc được những xúc cảm trong ánh mắt của Thầy. Rất ngắn ngủi khi chia tay Thầy chỉ nhắc tôi hai điều: Vinh nên đi chụp một hình phổi và ra ngoài rồi cũng ráng ăn thêm một chút thịt. Đôi điều dặn dò ấy chứng tỏ Thầy Tâm biết rất rõ cảnh sống của các học trò Thầy trong trại tù cải tạo.

    Khoảng đầu năm 1981, mấy ngày trước Tết Tân Dậu thầy trò còn ở lại có buổi họp mặt tất niên, bao gồm nhiều khóa, đông nhất là Y Khoa 68. Có được hai giáo sư Hoàng Tiến Bảo và Phạm Biểu Tâm tới dự. Tâm trạng của mọi người ngổn ngang lúc đó nên “vui là vui gượng ko là”. Thầy Tâm thì không uống rượu nhưng lại có mang rượu tới để chung vui. Thầy giơ cao chai rượu trước mặt các học trò và nói đại ý: “Ln này thì các anh thc s yên tâm, đây không phi là rượu gi vì là chai rượu l ca mt Cha mi biếu tôi.” Trước sau, Thầy Tâm vẫn có một lối nói chuyện gián tiếp với “ý ti ngôn ngoi như vậy. Không ai là không hiểu ý Thầy, muốn nói về một “thi k gi di mà cả miền Nam đang phải trải qua.

    Sau biến cố 1975, thầy Tâm tuy vẫn có được sự kính trọng và vị nể của chế độ mới, vì đức độ tài năng và nhân cách đặc biệt của Thầy. Thầy thì cứ như một nhà nông biết là thời tiết không thuận lợi, nhưng vẫn cứ cắm cúi vun xới thửa đất để cấy trồng. Trước sau, chưa bao giờ Thầy có phòng mạch tư, cuộc sống của Thầy rất thanh bạch. Hàng ngày toàn thời gian Thầy tới nhà thương Bình Dân khám bệnh, mổ xẻ và hết lòng chăm sóc người bệnh cùng với công việc giảng dậy cho các thế hệ môn sinh. Chế độ mới cần tới uy tín Thầy nhưng họ vẫn không bao giờ tin nơi Thầy. Bằng cớ là căn nhà của thầy Tâm trên đường Ngô Thời Nhiệm ít nhất đã hai lần bị công an thành phố xông vào lục xét. Và cứ sau một lần như vậy, không phát hiện được gì thì Thành Ủy đã lại đứng ra xin lỗi coi đó chỉ là hành động sai trái của thuộc cấp. Sự giải thích ấy thật ra chỉ là hai bản mặt của chế độ.

    Tới năm 1984, đã ngoài tuổi 70, sau hơn 40 năm cầm dao mổ, sống tận tụy với người bệnh và các thế hệ môn sinh, thầy Tâm đột ngột phải nghỉ hưu vì một cơn tai biến mạch máu não. Năm ấy tôi cũng đã qua Mỹ, đoàn tụ với gia đình xa cách đã tám năm. Vừa chữa bệnh lao phổi vừa chuẩn bị đi học lại. Như truyền thống tốt đẹp của gia đình y khoa, các bạn bè qua trước đã đem tới cho tôi những thùng sách và cả textbooks; các bạn ấy đều đã đậu các kỳ thi, có người trước đó 3-4 năm nhưng vẫn chờ để được nhận vào chương trình nội trú trước khi có thể lấy lại bằng hành nghề.

    Tôi đã phạm một lầm lẫn lúc đó, vội vàng học rồi thi FLEX/ ECFMG tuy đậu nhưng với số điểm không cao, có nghĩa là vào giai đoạn “đóng cửa” ấy rất ít hy vọng được nhận vào bất cứ một chương trình thực tập bệnh viện nào. Con đường trở lại y nghiệp xa vời vợi. Một giáo sư UCLA giới thiệu tôi vào chương trình MPH/ Master of Public Health, đây có thể là một cánh cửa khác, với cấp bằng Y Tế Công Cộng, tôi hy vọng có thể làm việc với WHO / Tổ chức Y tế Thế giới của Liên Hiệp Quốc tại các nước vùng Đông Nam Á hoặc Phi Châu.

    Cũng lúc đó tôi được gặp lại giáo sư Hoàng Tiến Bảo và luôn luôn được thầy Bảo khuyến khích nên trở lại với y nghiệp. Thầy Bảo thì sáng nào cũng từ nhà đi xe bus tới nhà thờ dự lễ trước khi tới USC/ University of Southern California. Mỗi ngày hai thầy trò đều đặn vào Norris Medical Library, trên đường Zonal ngồi học, chờ ngày thi lại; cùng với Thầy đi làm clinical fellow không lương ở Department of Medicine / Hypertension Service với các Gs DeQuattro, Gs Barndt – không gì hơn để có được letters of recommendation của các giáo sư Mỹ, đồng thời làm quen thêm với môi trường bệnh viện bên này. Cho dù trước 1975 thầy Bảo cũng đã du học về Orthopaedics ở Mỹ và tôi thì cũng đã có một thời gian tu nghiệp về Rehab ở San Francisco.

    Hệ thống y khoa Mỹ lạnh lùng và tàn nhẫn với bất cứ một bác sĩ ngoại quốc nào tới Mỹ theo diện di dân muốn hành nghề trở lại, cách đối xử khác xa với thành phần du học nếu sau đó trở về nước. Nhưng cũng có một nhận định khác cho rằng đó là sự tuyển chọn rất công bằng chỉ có ở nước Mỹ. Không là ngoại lệ, cả hai thầy trò phải đi lại từ bước đầu; trong khi đó ai cũng biết Thầy Bảo xứng đáng ở cương vị một giáo sư chỉnh trực giỏi của một trường đại học y khoa. Sau này, có thời gian làm việc tại các bệnh viện New York, tôi cũng đã chứng kiến hoàn cảnh vị giáo sư ObGyn đáng kính người Ba Lan phải đi làm EKG technician, rồi một bác sĩ giải phẫu người Nga thì làm công việc của một respiratory therapist. Họ là thế hệ thứ nhất tới Mỹ với tuổi tác không thể đi học lại từ đầu nên chấp nhận hy sinh lót đường cho thế hệ thứ hai vươn lên.

    Thầy Bảo thì chỉ chú tâm lo cho học trò nhiều hơn là cho chính Thầy. Thầy đã từng đích thân đi xe bus tới nhà khuyên một học trò của Thầy nên tiếp tục học thay vì bỏ cuộc. Cho dù sắp tới ngày thi cử, thầy Bảo cũng vẫn dẫn một phái đoàn lên Medical Board trên Sacramento tranh đấu cho các học trò của Thầy ra trường sau 1975 được công nhận là tương đương và quyền trở lại y nghiệp. Rồi cũng là một kết thúc có hậu. Thầy Bảo thi đậu dễ dàng rồi hoàn tất năm nội trú và có bằng hành nghề trở lại ở California. Riêng tôi thì phải khá vất vả thi lại hai ngày FMGEMS với score phải khá hơn trên 80 để có thể được các chương trình Residency nhận đơn và cho phỏng vấn. Vào tháng Ba 1988 qua ngả National Resident Matching Program/ NRMP, tôi được nhận vào một chương trình nội khoa của các bệnh viện Đại học ở New York. Cũng thầy Bảo là người đầu tiên chia vui với tin tưởng là học trò của Thầy cũng sẽ qua được chặng đường thử thách 3 năm trước mặt. Thầy Hoàng Tiến Bảo thì nay cũng đã mất (20/ 01/ 2008), tôi và cả rất nhiều học trò khác không bao giờ quên ơn và nhớ mãi tấm gương sáng với tấm lòng quảng đại và đầy nhân hậu của Thầy Bảo.

    Hình 15: Gs Hoàng Tiến Bảo (phải) tới thăm Gs Phạm Biểu Tâm tại Tustin, Quận Cam Nam California [nguồn: tư liệu TSYS Canada]

    GẶP LẠI THẦY CŨ GIÁO SƯ PHẠM BIỂU TÂM

    Trở lại làm nội trú bệnh viện muộn màng ở cái tuổi 47, từ New York qua bạn đồng môn Đường Thiện Đồng, tôi được tin thầy Phạm Biểu Tâm mới cùng gia đình đi đoàn tụ và sống với các con ở Mỹ 1989 – cũng đã 5 năm kể từ ngày Thầy bị tai biến mạch máu não. Có được địa chỉ của Thầy ở Santa Ana California, tôi viết thơ thăm thầy Tâm và được Thầy hồi âm bằng lá thư viết tay. Nét chữ của Thầy còn rất đẹp. Tôi nhớ là thầy Tâm thuận tay phải và đoán chừng Thầy chỉ bị liệt nửa người bên trái.

    [1] Santa Ana, 25-8-1989. Anh Vinh, tôi đã nhn được thiếp bưu đin anh gi thăm tôi và gia đình. Thy li nét ch li nh li hình nh ca anh t lúc anh còn Saigon. Sau này tôi có dp tr li ch anh làm vic cũ mà anh không ng, đó là Trung tâm Chnh Hình Bà Huyn Thanh Quan và Hin Vương vì lúc y tôi đã sang giai đon vt lý tr liu đu đu vì bnh mi ca tôi. Các cô tp cho tôi đây hi tôi có biết BS Vinh không? Tôi đã gi li Biết lm ch! Ri tôi nh li tp sách anh viết và gi cho xem lúc anh còn trong quân đi mt thi gian

    Khoảng 1971-72 tôi có cơ duyên được đi học về Rehabilitation Medicine ở Letterman General Hospital, Presidio San Francisco, nên sau này với chuyên môn ấy, tôi có một thời gian giảng dạy và làm việc ở Trung tâm Y khoa Phục Hồi, 70 Bà Huyện Thanh Quan Sài Gòn. Một số các cô chuyên viên Vật Lý Trị Liệu được tôi đào tạo trong các khóa học này. Và thật không thể ngờ, ở một tình huống quá đặc biệt, trong nghiệp vụ thường nhật, các cô học trò cũ ấy lại được vinh dự chăm sóc một vị danh sư và cũng chính là bậc thầy của “thầy dậy các cô”.

    Hình như Gs Phạm Biểu Tâm và Gs Nguyễn Hữu đã sang thăm đất nước Mỹ rất sớm. Khi nhận được một Postcard tôi gửi từ New York, thầy Tâm viết: “Anh Vinh làm tôi nh li ln đu tiên tôi đã đt chân xung thành ph New York năm 1951 cách đây non mt na thế k ri! Lúc y còn là thi k đi xem Empire State Building và Rockefeller Center là lúc thy cái nào cũng ngng c lên mà đếm tng lu. Cũng ch đếm hết được, ri cm giác đi Ascenseur Tàu Sut mt mch được luôn my tng. Bây gi đ thèm đi tr li nhiu thi nào cũng có cái thú ca thi y.

    Hình 16: Gs Phạm Biểu Tâm và môn sinh Ngô Thế Vinh tại nhà riêng của Thầy, thành phố Tustin, Santa Ana 1990. [photo by Đường Thiện Đồng]

    Qua một năm nội trú, từ New York với mùa đông giá lạnh ngập tuyết bước sang mùa hè nóng ẩm quá độ, nay tôi mới lại có dịp trở về vùng California nắng ấm để thăm thầy Tâm. Trong cảnh tha hương, cảm động và mừng tủi biết bao nhiêu khi được gặp lại Thầy, trên một lục địa mới ở một nơi xa quê nhà hơn nửa vòng trái đất. Được cầm bàn tay ấm áp và mềm mại của thầy Tâm trong bàn tay mình, rồi như từ trong tiềm thức của một hướng đạo sinh ngày nào, tôi siết nhẹ bàn tay trái của Thầy và chỉ có thể nói với Thầy một câu thật bâng khuâng “…đôi bàn tay này Thy đã cu sng biết nhiêu người. “Có gì đâu Vinh.” Thầy xúc động và nghẹn ngào nói thêm một câu gì đó mà tôi không nghe rõ. Tôi hiểu rằng sau tai biến mạch máu não, người bệnh đều ít nhiều trải qua những biến đổi sâu xa về mọi phương diện ngoài thương tật thể chất, còn có những thay đổi về xúc động tình cảm và tâm lý. Và tôi nhận thấy được sự thay đổi nơi Thầy, từ một con người rất trầm tĩnh nay trở thành dễ bị xúc động về sau này.

    MỘT DỰ ÁN LỊCH SỬ Y KHOA DỞ DANG

    Thầy Tâm còn rất minh mẫn, trí nhớ hầu như nguyên vẹn khi Thầy nhắc về những ngày ở bệnh viện Phủ Doãn Hà Nội cho tới bệnh viện Bình Dân và trường Y Nha Dược ở Sài Gòn. Hồi ức ấy nếu được ghi lại, đây sẽ là những trang tài liệu vô giá nếu không muốn nói là độc nhật vô nhị cho bộ sách Lịch sử Trường Y Khoa Hà Nội – Sài Gòn.

    Tôi mạn phép đề nghị đem tới Thầy một tape recorder thật gọn nhẹ để được Thầy đọc và ghi âm về những điều Thầy còn nhớ về Trường Y Khoa và sau đó tôi hứa sẽ làm công việc transcript. Nhưng tôi được thầy Tâm trấn an ngay: “Vinh đng lo, công vic y đã có anh Nguyn Đc Nguyên đm trách và anh y s làm chu đáo. Tôi cảm thấy yên tâm vì được biết anh Nguyên trước đó cũng đã hoàn tất bộ sách rất công phu: Bibliographie des Thèses de Médecine [Tome I: Hanoi 1935-1954, Saigon 1947-1970; Tome II: Saigon 1971-1972, Hue 1967-1972].

    Khi tôi trở lại New York, Thầy còn viết thư để tôi có thể liên lạc với anh Nguyễn Đức Nguyên, lúc ấy anh đang sống ở bang Maryland.

    [2] Santa Ana 12-8-1990. Anh Vinh, cm ơn anh đã dành thì gi và tìm đến thăm tôi và cũng đ cho tôi thăm li anh. Trước hết xin phép tr n đã. Chép cho anh đa ch anh Nguyên như sau:

    N. D. NGUYÊN c/o Kathy Nguyên 11616 Stewart Lane Apt # 302 Silver Spring, MD 20904

    Thế là khi quên. Mong anh s gp li được người làm đúng cái anh mong. Vì anh y đã có ý đnh ri, anh cũng s yên tâm. Thân ái chào anh, Phm Biu Tâm.

    Hình 17: thủ bút Gs Phạm Biểu Tâm viết từ Santa Ana 12.08.1990 [nguồn: tư liệu Ngô Thế Vinh]

    Giã từ New York sau 3 năm “cải tạo tự nguyện” – đây là ngôn từ của Vũ Văn Dzi, hành nghề ở Oklahoma VA là bạn đồng môn đã qua Mỹ trước từ 1979. Tôi trở về California năm 1991, làm việc trong một bệnh viện VA ở Long Beach mà bệnh nhân thì đa số là các cựu chiến binh Mỹ trở về từ Việt Nam. Thời gian này, tôi vẫn giữ liên lạc khá thường xuyên với anh Nguyễn Đức Nguyên, được theo dõi từng bước về công trình của anh Nguyên.

    [3] Silver Spring, Feb 11, 1994. Anh Vinh thân mến, Anh có nhc Lch s Trường Y khoa Hà Ni Sài Gòn trang đ ta khiến tôi thích thú bi phn; tôi vn nh anh khuyến khích tôi viết tp sách này t lâu. Có th nói phn đu ti 1945 coi là xong ri; phn Trường Y v ta ti 1954 và đến khi vào Sài Gòn cho ti khi có Hoa K giúp chính ph Ngô Đình Dim ci t giáo dc nht là giáo dc y khoa thì còn thiếu mt s tài liu cn thiết: tôi đã nh mt cô M trước làm vi USOM Sài Gòn kiếm dùm; tôi cũng viết thư cho my người bác sĩ Hoa K trước kia cng tác vi Chương trình Trung tâm Y khoa đ mượn tài liu và hình nh. Archives ca State Department rng mênh mông, phi có chuyên viên mi tìm được. Sau khi AMA ký contract năm 1966-67 thì đã có cun sách “Saigon Medical School: An Experiment in International Medical Education” ca các ông Ruhe, Singer & Hoover viết khá đy đ, chc anh đã đc ri ch? S dĩ lâu là vì ch tài liu và hình nh đ b túc và cho sách thêm phn hp dn; nếu ch có ch không thì ít người mun đc

    Trong một thư khác anh Nguyên viết:

    [4] Silver Spring, Dec 28, 1995. Cm ơn anh đã hi thăm v tp Lch s Trường Y. Tài liu thu thp đy đ cho phn đu (Hà Ni 1954). Còn phn th hai (Sài Gòn 1975) đang tìm thêm B Ngoi Giao / State Department cho đ viết t thi k có vin tr M. Tin đây tôi mun hi anh v vic liên quan ti xut bn sách bên này: nhà xut bn lo t đu ti cui và mình s hưởng tác quyn như thế nào? Nếu mình trình bày bng computer và ch cn đưa in thì h s tính thế nào? Tôi d tính sang chơi California trước Tết ta, nếu đi được s tin đ anh biết và có th hn gp nhau đâu nói chuyn dài v sách v. Thân, Nguyn Đc Nguyên

    Khi được anh Nguyên hỏi về việc xuất bản sách ở hải ngoại, tôi lạc quan nghĩ rằng tác phẩm “Lch s Trường Y khoa Hà Ni Sài Gòn” của anh đã bước vào giai đoạn hoàn tất. Anh Nguyên thì cầu toàn, muốn có một tác phẩm thật ưng ý mới cho ra mắt. Riêng tôi thì lại có mối quan tâm khác anh. Bởi vì anh Nguyên cũng đã bước qua khá xa tuổi “cổ lai hy” và điều gì cũng có thể xảy ra. Tôi nhớ đã có lần bày tỏ với anh Nguyên là chờ một tác phẩm toàn hảo thì không biết đến bao giờ và đề nghị với anh cứ cho xuất bản những gì anh đã hoàn tất, sau đó anh vẫn có thời gian và cơ hội để hoàn chỉnh.

    Nhưng rồi rất tiếc là sau đó tôi mất liên lạc với anh Nguyễn Đức Nguyên, anh đã đổi địa chỉ, số phone và cả email. Được biết Anh Nguyên cũng gần tuổi với Gs Trần Ngọc Ninh (1923), anh cũng bước qua tuổi thượng thọ 90 rồi. Tôi cầu mong công trình của anh sẽ không bị thất lạc, rồi ra tác phẩm sẽ được ra mắt như sự tin cậy và mong đợi của giáo sư Phạm Biểu Tâm từ mấy thập niên của thế kỷ trước.

    Hình 18: Bibliographie des Thèses de Médecine; Tome I: Hanoi 1935-1954, Saigon 1947-1970; Tome II: Saigon 1971-1972, Hue 1967-1972. [ngun: tư liu Ngô Thế Vinh]`

    TRĂM NĂM CÒN LẠI CHÚT LÒNG TỪ BI

    Ngày 13 tháng 12 năm 2013, nhân 100 năm ngày sinh của giáo sư Phạm Biểu Tâm 1913-2013, các thế hệ sau nhìn lại để thấy rằng thầy Tâm là người đã dày công xây dựng một trường Đại học Y khoa có truyền thống, cùng với một ban giảng huấn đầy khả năng và thành phần sinh viên được tuyển chọn công bằng và nghiêm khắc, dù trong chiến tranh, ngôi trường ấy vẫn có tiềm lực vươn tới một Trung tâm Y Khoa hiện đại với đng cp thế gii / world-class; vậy mà từ sau 1975 cả một nền tảng tốt đẹp ấy đã bị chế độ cộng sản hoàn toàn làm cho băng hoại.

    Nhớ lại khoảng thời gian được gần gũi với thầy Tâm, với tôi Thầy như một biểu tượng sống động cho lời thề Hippocrates, luôn luôn là tấm gương sáng cho các thế hệ y khoa, không chỉ về tài năng chuyên môn mà cả về đạo đức nghề nghiệp; Thầy vẫn cứ mãi mãi là hình ảnh “sẵn sàng dấn thân” của một Tráng Sinh Bạch Mã Lên Đường.

    Giáo sư Phạm Biểu Tâm mất tại Hoa Kỳ ngày 11 tháng 12 năm 1999 trong sự thương tiếc của gia đình, các môn sinh và toàn thể y giới Việt Nam tại hải ngoại và cả trong nước, thương tiếc một vị danh sư đã để lại những dấu ấn lâu dài trong Ngành Y của Việt Nam từ thế kỷ trước.

    Nhớ Thầy Phạm Biểu Tâm, đọc lại bài thơ thiền của Thầy, để tìm được nguồn an ủi:

    Trăm năm trước thì ta chưa có

    Trăm năm sau có cũng như không

    Cuc đi sc sc không không

    Trăm năm còn li chút lòng t bi

    NGÔ THẾ VINH California, 20.07.2017

    [Trích Tuyn Tp Chân Dung, sp xut bn]

    Tham kho:

    1/ Trn Ngc Ninh. Một Hình Bóng, Một Con Người, Giáo Sư Bác Sĩ Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

    2/ Nghiêm Đo Đi. Nhìn Lại Trường Y Khoa Đại Học Sài Gòn với Giáo Sư Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

    3/ Hà Ngc Thun. Tiểu sử Giáo sư Phạm Biểu Tâm [1913-1999]. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

    4/ Thân Trng An. Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, Biểu Tượng của Y Đạo, Y Học, Y Thuật. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

    5/ Ngô Thế Vinh. Tìm Lại Thời Gian Đã Mất, Tưởng Nhớ Thầy Phạm Biểu Tâm. Tập San Y Sĩ, số 201, 05.2014

    * Ghi chú: Một số hình ảnh hiếm quý trong bài viết được trích từ Album gia đình Giáo Sư Phạm Biểu Tâm. Cám ơn Anh Phạm Biểu Trung, đã scan các hình ảnh và gửi cho chúng tôi.

    Nguồn: https://vanviet.info/tu-lieu/tuong-nho-gs-y-khoa-pham-bieu-tm/

    *****

    Đặt tượng Giáo sư Phạm Biểu Tâm và Giáo sư Trương Công Trung tại Đại học Y – Dược TPHCM

    18/11/2024 15:48 Theo Báo Sài Gòn Giải Phóng

    Lễ đặt tượng Giáo sư Phạm Biểu Tâm và Giáo sư Trương Công Trung đã được long trọng tổ chức tại khuôn viên Đại học Y  – Dược TPHCM sáng 18-11-2024:

    https://www.sggp.org.vn/dat-tuong-giao-su-pham-bieu-tam-va-giao-su-truong-cong-trung-tai-dai-hoc-y-duoc-tphcm-post768901.html

    *****

    Lễ đặt tượng cố GS. Phạm Biểu Tâm và cố GS. Trương Công Trung19/11/2024

    Sáng ngày 18/11/2024, hòa chung không khí hân hoan chào mừng kỷ niệm 42 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 – 20/11/2024), Đại học Y Dược TPHCM long trọng tổ chức Lễ đặt tượng cố GS. Phạm Biểu Tâm và cố GS. Trương Công Trung:

    https://ump.edu.vn/tin-tuc-su-kien/tin-tuc/le-dat-tuong-co-gs-pham-bieu-tam-va-co-gs-truong-cong-trung/7830

  • Áp thấp nhiệt đới có thể mạnh thành bão số 8

    VIỆT NAM ƠI! CƠN BÃO SỐ 8 NGÀY 17 THÁNG 9 NĂM 2025 SẼ VÀO CHƠI NƯỚC MIỀN HOA LỚN! ĐẬP TAM HIỆP MƯA LŨ CÀNG LỚN SỨC CHỨA NƯỚC CÀNG VỮNG BỀN! ÔNG TỔNG THỐNG NGA LÀ VLADIMIMIR PUTIN DƯ SỨC MÚC TỪNG MUỖNG ỐC XÍT BẠC TRỘN MUỐI THẢ TRÊN MÂY GÂY LŨ QUÉT. ÔNG TẬP CẬN BÌNH CŨNG CÓ THỂ LÀM NHƯ VẬY THẬT DỄ DÀNG. ÔNG DONALD TRUMP CŨNG CHẲNG CHỊU KÉM! SÁU NĂM QUA, THIÊN TAI LÀ CHUYỆN XƯA RỒI DIỄM. NHÂN TAI ĐÓ MÀ! ĐỪNG MONG NGỒI LỀ ĐƯỜNG MÀ KHÓC NHƯ DƯƠNG THU HƯƠNG VÌ ĐÓI RÉT! CHIẾN TRANH NƯỚC MƯA CHỈ Ở NGOÀI RIỀM. BÂY GIỜ ĐANG NGẤP NGHÉ VÔ ĐẬP TAM HIỆP!

    LIỆU HỦ GẠO TRONG NHÀ MÌNH CÓ CÒN ĐỦ ĐỂ NẤU CƠM KHÔNG ĐÂY? LẠY TRỜI ĐỪNG SẬP!

    Bản đồ dự báo đường đi, khu vực ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới. (Nguồn: NCHMF)

    Dự báo trong 24 giờ tới, áp thấp nhiệt đới trên vùng biển phía Đông Bắc đảo Luzon. Sức gió mạnh nhất vùng gần tâm áp thấp nhiệt đới mạnh cấp 8, giật cấp 10, di chuyển theo hướng Bắc Tây Bắc, mỗi giờ đi được khoảng 15 km, khả năng mạnh lên thành bão.

    Áp thấp nhiệt đới có thể mạnh thành bão số 8

    MỘT NHÚM ỐC XÍT BẠC THẢ XUỐNG THÁI BÌNH DƯƠNG ĐẦY MUỐI! GIÓ LỐC CUỐN LÊN!

    Hoàng Tôn Cát trích NGÀY XƯA THẬT GẦN – chuyển từ California ngày 16 tháng 9 năm 2025.

    Xin tùy ý sử dụng.

  • Chuyện bên nước Mỹ – Những ai ăn mừng, chế diễu Charlie Kirk sẽ bị mất việc.

    Các công ty trên khắp Hoa Kỳ đã đưa ra cảnh báo cho nhân viên rằng họ sẽ không thể quay lại làm việc vào thứ Hai (September 15, 2025) nếu họ đăng bình luận ca ngợi hoặc chế giễu vụ ám sát.

    Thống đốc Utah Spencer Cox cho biết nghi phạm ám sát Charlie Kirk, một nhân vật có ảnh hưởng bảo thủ, đã để lại một bức thư tuyệt mệnh, và xác nhận các báo cáo rằng nghi phạm có quan điểm chính trị cánh tả.

    Các nhà phát triển cho biết trí tuệ nhân tạo đã cắt giảm rất nhiều công việc nặng nhọc trong việc viết mã phần mềm, nhưng các nhà phát triển dày dạn kinh nghiệm đang phát hiện ra các lỗ hổng với tốc độ đáng báo động, đặc biệt là khi nói đến an ninh mạng.

    Nhân viên bị sa thải, đình chỉ công tác vì ăn mừng cái chết của Charlie Kirk

    Các công ty trên khắp Hoa Kỳ đã đưa ra cảnh báo cho nhân viên rằng họ sẽ không được quay lại làm việc vào thứ Hai nếu họ đăng bình luận ăn mừng hoặc chế giễu vụ ám sát Charlie Kirk.

    Các ngành nghề bị ảnh hưởng bao gồm từ giáo viên đến phi công hàng không. Một trong những trường hợp nổi bật nhất là việc sa thải nhà phân tích Matthew Dowd của MSNBC vào ngày 11 tháng 9, một ngày sau khi Kirk bị bắn chết tại một trường đại học ở Utah.

    Bộ trưởng Giao thông Vận tải Sean Duffy cho biết vào ngày 13 tháng 9, nhiều phi công của American Airlines đã bị đình chỉ công tác ngay lập tức và bị đình chỉ công tác, và nhân viên của Delta Air Lines cũng đã bị đình chỉ công tác chờ điều tra.

    “Hành vi này thật kinh tởm, và họ nên bị sa thải”, Duffy viết trên X để đáp lại tin tức về American Airlines. “Bất kỳ công ty nào chịu trách nhiệm về sự an toàn của hành khách đều không thể dung thứ cho hành vi đó.”

    Người phát ngôn của Cơ quan Mật vụ, Anthony Guglielmi, đã xác nhận trong một email gửi tới The Epoch Times vào ngày 12 tháng 9 rằng cơ quan này đã được thông báo về những bình luận của một trong những đặc vụ của mình và đã cho đặc vụ đó nghỉ việc.

    “Cơ quan Mật vụ Hoa Kỳ sẽ không dung thứ cho những hành vi vi phạm quy tắc ứng xử của chúng tôi”, Guglielmi nói.

    Đặc vụ Anthony Pough đã viết trên Facebook sau vụ sát hại Kirk: “Nếu bạn đang thương tiếc anh chàng này… hãy xóa tôi đi. Anh ta đã gieo rắc hận thù và phân biệt chủng tộc trong chương trình của mình.”

    Pough sau đó nói thêm: “Cuối cùng, bạn phải chịu trách nhiệm trước Chúa và nói ra những điều cần phải xảy ra. Bạn chỉ có thể lách luật nhân quả, còn Chúa thì không.”

    Thượng nghị sĩ Marsha Blackburn (Đảng Cộng hòa-Tenn.) đã viết thư cho Giám đốc Cơ quan Mật vụ Sean Curran vào ngày 11 tháng 9, kêu gọi sa thải Pough.

    “Nhân viên của ông đã ăn mừng và cố gắng biện minh cho một vụ ám sát chính trị”, Blackburn viết.

    “Hành vi này là không thể tha thứ, và tôi kêu gọi các vị bằng những lời lẽ mạnh mẽ nhất hãy chấm dứt hợp đồng lao động với anh ta ngay lập tức.”

    Các cuộc điều tra cũng đã được bắt đầu đối với các thành viên của quân đội và các cơ quan an ninh nội địa, bao gồm Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ và Hải quân Hoa Kỳ.

    “Việc quân nhân và nhân viên Bộ Chiến tranh ăn mừng hay chế giễu vụ ám sát một người Mỹ đồng hương là không thể chấp nhận được,” người phát ngôn Sean Parnell viết trên X. “Bộ Chiến tranh không khoan nhượng với hành vi này.

    • Các quan chức sẽ đệ đơn cáo buộc Tyler Robinson, nghi phạm ám sát Charlie Kirk, vào thứ Ba.

    • Hàng ngàn người đã cùng nhau tưởng nhớ Charlie Kirk và bày tỏ lòng kính trọng sâu sắc tại Trung tâm John F. Kennedy ở Washington vào Chủ nhật.

    • Nghi phạm ám sát đang bị giam giữ dưới sự “giám sát đặc biệt” tại một khu nhà ở riêng biệt.

    Nguồn: https://mail.google.com/mail/u/3/#inbox/FMfcgzQcpnMDqnTsDdmNDCTCGLcDpPsw

    Thái Cát Thân Trọng Tuấn (VH-LVC) NGÀY XƯA THẬT GẦN – chuyển từ California ngày 15 tháng 9 năm 2025. Xin tùy ý sử dụng

  • Các công tố viên công bố cáo buộc đối với nghi phạm ám sát Charlie Kirk

    Tyler Robinson, 22 tuổi, bị cáo buộc bắn chết Kirk vào tuần trước tại Đại học Utah Valley.

    Luật sư Quận Utah Jeffrey S. Gray công bố cáo buộc đối với nghi phạm ám sát Charlie Kirk tại Provo, Utah, vào ngày 16 tháng 9 năm 2025. Madalina Kilroy/The Epoch Times

    Jack Phillips Phóng viên Tin nóng & Janice Hisle Phóng viên 16/9/2025|Cập nhật: 16/9/2025 0:00 4:37

    PROVO, Utah—Hôm thứ Ba, các công tố viên đã công bố cáo buộc đối với người đàn ông bị cáo buộc trong vụ ám sát Charlie Kirk, bao gồm tội danh giết người có chủ đích.

    Các cáo buộc chống lại Tyler James Robinson bao gồm các tội danh giết người nghiêm trọng, tội danh xả súng và gây thương tích nghiêm trọng, hai tội danh cản trở công lý, hai tội danh mua chuộc nhân chứng và tội danh bạo lực có sự hiện diện của trẻ em, Luật sư Quận Utah Jeffrey S. Gray cho biết trong một cuộc họp báo với hàng chục phóng viên tại Tòa nhà Y tế và Tư pháp Quận Utah ở Provo, Utah.

    “Vụ sát hại Charlie Kirk là một thảm kịch của nước Mỹ”, Gray nói, bày tỏ lời chia buồn và cầu nguyện cho gia đình Kirk.

    Cáo buộc giết người nghiêm trọng đồng nghĩa với việc Robinson có thể phải đối mặt với án tử hình nếu bị kết tội trong vụ giết người ở Kirk. Vì các công tố viên “đang đề nghị án tử hình”, Gray khuyến nghị Robinson nên bị giam giữ mà không được bảo lãnh.

    Các cáo buộc chống lại Robinson, 22 tuổi, được đưa ra sau khi anh ta bị bắt vào tuần trước vì bị chỉ định là nghi phạm trong vụ sát hại Kirk, một nhà bình luận bảo thủ được cho là đã tiếp thêm sinh lực cho những người bảo thủ trẻ tuổi và giúp Tổng thống Donald Trump giành lại Nhà Trắng vào năm 2024, tại một trường đại học ở Utah vào ngày 10 tháng 9.

    Gray cho biết các cáo buộc can thiệp vào lời khai nhân chứng xuất phát từ việc Robinson bị cáo buộc đã yêu cầu bạn cùng phòng im lặng nếu cảnh sát thẩm vấn anh ta và cũng yêu cầu bạn cùng phòng xóa các tin nhắn chứa bằng chứng buộc tội.

    Các nhà điều tra đã thu thập bằng chứng trong vụ giết người, bao gồm một khẩu súng trường bắn tỉa và đạn dược có khắc thông điệp chống phát xít, được tìm thấy sau vụ xả súng hôm thứ Tư tại Đại học Utah Valley ở Orem. Kirk đang phát biểu tại một sự kiện thì bị bắn trước đám đông.

    Hiện chưa rõ Robinson có luật sư hoặc người nào có thể đại diện cho anh ta hay không. Hôm Chủ nhật, một phát ngôn viên của Văn phòng Cảnh sát trưởng Quận Utah nói với tờ The Epoch Times rằng ông đã được chuyển đến khu vực giám sát đặc biệt trong nhà tù của quận trước khi các viên chức y tế tâm thần tiến hành đánh giá.

    Ảnh chụp tội phạm của cảnh sát cho thấy Tyler Robinson, nghi phạm trong vụ nổ súng giết chết nhà bình luận bảo thủ Charlie Kirk trong một sự kiện tại Đại học Utah Valley, ở Orem, Utah, trong bức ảnh do Sở An toàn Công cộng Utah công bố vào ngày 12 tháng 9 năm 2025. Sở An toàn Công cộng Utah/Tài liệu phát tay qua Reuters

    Robinson đã bị bắt vào tuần trước gần St. George, cộng đồng phía nam Utah nơi anh ta lớn lên, Thống đốc Utah Spencer Cox cho biết vào ngày 12 tháng 9.

    Những cá nhân khác có thể đã liên quan hoặc biết về Robinson, Giám đốc FBI Kash Patel cho biết trong phiên điều trần tại Thượng viện hôm thứ Ba. Ông cho biết có hơn 20 người trong máy chủ trò chuyện Discord với Robinson đang bị điều tra.

    Cả Cox và Patel đều nói rằng Robinson có quan điểm tư tưởng cánh tả, với việc Cox tuyên bố rằng những viên đạn thu được trong hộp được khắc những thông điệp chống phát xít. Gray cũng đề cập đến những dòng chữ khắc trên những viên đạn trong cuộc họp báo hôm thứ Ba.

    “Này bọn phát xít! Bắt lấy,” là một trong những thông điệp trên những viên đạn, Gray nói.

    DNA phù hợp với Robinson được tìm thấy trên khẩu súng trường, cò súng, vỏ đạn đã bắn, vỏ đạn chưa bắn, và một chiếc khăn dùng để quấn khẩu súng trường, Patel cho biết hôm thứ Hai. Các quan chức cho biết nghi phạm đã vứt khẩu súng trường kiểu khóa nòng trong một khu rừng.

    Gray cũng tiết lộ thêm thông tin về vụ bắt giữ, cho biết vào ngày 11 tháng 9, Robinson đã cùng cha mẹ đến văn phòng cảnh sát trưởng để đầu thú.

    Công tố viên cho biết sau khi FBI công bố ảnh của nghi phạm vào tuần trước, cha mẹ Robinson đã bày tỏ lo ngại với nhau rằng những hình ảnh này trông giống hệt anh ta.

    Cha mẹ Robinson khai với các quan chức rằng “trong khoảng một năm trở lại đây”, Robinson bắt đầu “có quan điểm chính trị hơn, và bắt đầu nghiêng về cánh tả hơn, ủng hộ quyền của người đồng tính và người chuyển giới”, và “Robinson bắt đầu hẹn hò với bạn cùng phòng, một người đàn ông sinh học”, Gray nói.

    Robinson cũng được cho là đã nói với cha mẹ rằng anh ta bắn Kirk vì “anh ta gieo rắc quá nhiều hận thù” và rằng “có quá nhiều điều xấu xa” trên thế giới. Anh ta cũng được cho là đã xác nhận những thông điệp mà anh ta khắc trên đạn.

    Người bạn cùng phòng có quan hệ tình cảm với Robinson khai với các quan chức rằng anh ta nhận được một tin nhắn yêu cầu tìm một mẩu giấy. Mẩu giấy được cho là có nội dung: “Tôi đã có cơ hội hạ gục Charlie Kirk và tôi sẽ làm điều đó.”

    Một tin nhắn khác được cho là viết rằng “Tôi đã chịu đựng đủ sự thù hận của hắn ta rồi”, ám chỉ Kirk, theo Gray.

    Robinson cũng nói với bạn cùng phòng rằng hắn ta đã lên kế hoạch cho vụ nổ súng chỉ trong “hơn một tuần”, bao gồm cả những chi tiết khác được cho là về kế hoạch của hắn, Gray nói.

    Viện công tố quận nói với các phóng viên rằng hắn ta cũng được cho là đã yêu cầu bạn cùng phòng không được nói chuyện với giới truyền thông và khuyên người này nên thuê luật sư.

    Không đi sâu vào chi tiết về động cơ có thể xảy ra, Gray lưu ý rằng các cáo buộc chống lại Robinson chỉ là cáo buộc và hắn ta vẫn phải đối mặt với phiên tòa xét xử trước bồi thẩm đoàn.

    Jack Phillips là một phóng viên tin tức nóng hổi, ​​chuyên đưa tin về nhiều chủ đề, bao gồm chính trị, Hoa Kỳ và tin tức y tế. Là cha của hai đứa con, Jack lớn lên ở Thung lũng Trung tâm California. Theo dõi anh ấy trên X: https://twitter.com/jackphillips5

    Nguồn: https://www.theepochtimes.com/us/prosecutors-announce-charges-against-suspected-charlie-kirk-assassin-5915908?utm_source=RTNews&src_src=RTNews&utm_campaign=rtbreaking-2025-09-16-2&src_cmp=rtbreaking-2025-09-16-2&utm_medium=email&est=h%2B7pNu2FqOGPZZ39YVh5I7OiPDuLcCW5ve5GbHisuGnMRZYQDNiZ5WqaVFmgVHEp8kqS

    Thái Cát Thân Trọng Tuấn (VH-LVC) NGÀY XƯA THẬT GẦN – chuyển từ California ngày 16 tháng 9 năm 2025. Xin tùy ý sử dụng.