• Nhóm thân hữu Đà Nẵng họp mặt cuối năm 2025 và bàn về Hội khóa Đà Nẵng – Hội An 2026

    Sáng nay tại Café Én Vàng 22 Cô Giang, nhóm thân hữu cựu SV ĐHSP Huế hai khóa LVC và HTK tại Đà Nẵng, đặc biệt có anh Trần Dư Sinh từ Huế vào, hàn huyên tâm sự và thảo luận sôi nổi về Hội khóa 2026 tại Đà Nẵng-Hội An sắp tới . Mong được gặp lại tất cả các bạn . Chúc an vui.

    Hàng ngồi, trái sang: Lê Thị Định (T-HTK), Nguyễn Thị Trinh (VH-HTK), Nguyễn Thị Vinh (AV-LVC), Nguyễn Thị Hồng (VH-HTK), HTN Huệ Tâm (VH-LVC), Võ Thị Vũ (VH-HTK)
    Hàng sau: Nguyễn Em (T-HTK), Nguyễn Văn Xoa (SĐ-LVC), Lê Văn Thành (VH-HTK), Tống Văn Thụy (SĐ-LVC), Anh Thưởng (phu quan bạn Võ Thị Vũ), Lê Thí (SĐ-HTK), Trần Dư Sinh (T-HTK), Trần Bá Hà (T-LVC), Phan Phước Hiệp (LH-HTK)

    Nguyễn Thị Vinh (AV-LVC)

    ***

    Hôm nay, chúng ta họp không những ĐÔNG mà còn VUI nữa. 16 người, con số tròn trăng rất đẹp. Nội dung Hội khóa 2026 anh Thụy phác thảo làm nóng lên bầu không khí ĐN đăng cai. Năm2016, mình đã tổ chức. 10 năm sau tái ngộ thật là háo hức. Các vấn đề: thời gian, lưu trú, văn nghệ, làm báo, MC, mời Thầy phát biểu, học sinh của chúng ta nói lên cảm tưởng, đóng góp kịnh phí, hỗ trợ nhau, slogan… đã được đem ra bàn rất là hay, có nhiều ý kiến bổ sung. Tiếc là Ba có việc phải về sớm chút. Chắc lần sau họp chương trình sẽ hoàn thiện hơn. Bây giờ lo về tìm ảnh và viết đoạn văn ngắn gởi về cho bạn Sinh trước ngày 15/3/26.

    Kế hoạch phác thảo sẽ do BTC Đà Nẵng đăng lên website hai khóa để các bạn góp ý.

    Lê Thị Ba (VH-HTK)

    ***

    Ghi chép của bạn HTN Huệ Tâm (VH-LVC):
    HỌP MẶT TRÙ BỊ HỘI KHOÁ ĐÀ NẴNG 2026
    -Chủ trì họp mặt: anh Tống văn Thụy và anh Trần dư Sinh ( từ Huế vào tham dự) lúc 8h tại cà phê ÉN VÀNG ĐN trù bị. Phác thảo sơ lược, dự kiến thời gian khoảng trong vòng 15/4 đến 20/4/2026

    • tham dự 16 thành viên ngày 18/12/2025
      Toàn thể đã dự thảo chương trình Hội khóa như sau:
    • thời gian 3 ngày 2 đêm .
      Cụ thể : ngày đầu tiên họp mặt và lưu trú, Khai Mac tại ĐN ( khách sạn THANH BÌNH ), đọc diễn văn khai mạc do anh Thụy phụ trách, mời thầy NGÔ THẾ PHIỆT phát biểu,…, ăn tối.
    • ngày thứ hai: ăn sáng tại ĐN sau đó lên xe vào HỘI AN. Đốt lửa trại tại Hội An.
      Ăn ở một khách sạn rất hoành tráng.
    • ngày thứ ba: trưa chia tay tại Hội An . Buổi tối nếu bạn muốn lưu trú để khám phá thêm Hội An phố cổ sẽ ở tại KS AN BÀNG (do BTC Lo)
    • Về TẬP SAN: khoảng 200 trang. Mỗi bạn sẽ gửi 1 hình ảnh của chính bạn và người thân như vợ , chồng , con… hay một vật rất ưu ái nhé cây cỏ con vật… vào tấm Ảnh. Và tự đặt nhan đề , viết khoảng 1 trang giấy A 4 về chủ đề Tự chọn ( có liên quan đến tấm hình của bạn.) Gửi đến bạn TRẦN DƯ SINH (hạn chót 15/3/2026)-
    • Văn Nghệ : trung đội SÀI GÒN rất giỏi về mục này nên đề nghị Sài Gòn phụ trách chương trình văn nghệ Hội khóa 2026.
      Đòan ĐN đăng kí 3 tiết mục như sau : đơn ca Võ thị Vũ, 1 tốp ca Trường Làng tôi (nhạc sĩ Phạm trọng Cầu) và song ca)
    • Mc : LE THÍ, VÕ THỊ VŨ
      HỘI KHOÁ ĐN CÓ Ý MUỐN HỖ TRỢ CÁC BẠN CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN THAM GIA HỘI KHOÁ 2026 tại ĐN . Vậy mong các Mạnh thường quân giúp đỡ kinh phí.
    • Riêng HTN HUỆ TÂM SẼ HỖ TRỢ CHỊ XUÂN HOA (AV – LVC) lệ phí ăn ở lưu trú và tham dự hội khóa 3 ngày tại ĐN và Hội An. Chị Xuân Hoa cố gắng sắp xếp để tham dự nhé! Rất mong!
    • SLOGAN chính thức anh Thụy sẽ thông báo có đủ Đà Nẵng và Hội An
      Rất mong một hội khóa thành công mỹ mãn
      Kính chúc tất cả mạnh khoẻ để đi Hội khóa 2026 Đà Nẵng Hội An
      Ghi chép:
      Htn Huệ Tâm
      18/12/2025
    • ***
    • Kế hoạch chi tiết sẽ gửi sau.

    Nguyễn Em cùng vợ chồng Nguyễn Văn Xoa và Lê Thị Định
    Bạn LÊ THÍ góp ý về dự thảo Chương trình hội khóa 2026
  • Thơ: TRÊN ĐỈNH BÀ NÀ MÙ SƯƠNG

    TRÊN ĐỈNH BÀ NÀ MÙ SƯƠNG(*)

    Trên đỉnh Bà Nà cao vời vợi…
    Mây trắng giăng giăng khắp lối
    Lãng đãng trời xanh
    Núi Chúa lung linh
    Sương mù bàng bạc.

    Ai đem kim cương lóng lánh phủ Bà Nà?
    Ai khoác tấm áo bạc lộng lẫy kiêu sa?
    Từ chốn xa
    Trôi về trên đỉnh Bà Nà
    Để khung trời thêm óng ả
    Cao lồng lộng
    Xanh thăm thẳm, gió hát ca
    Đàn bướm chập chờn chao cánh…
    Rợp động hoa vàng.

    Trên đỉnh Bà Nà mù sương…
    Bốn bề lộng gió
    Đường đèo uốn lượn quanh co
    Giọt nắng màu hoa cà
    Rơi trên mắt em hiền dịu
    Chùa Linh Ứng ẩn chốn mây trời
    Phật từ bi thiền định
    Tiếng chuông chùa ngân vọng giữa thinh không!

    Trên đỉnh Bà Nà…
    Sớm xuân về mênh mông huyền ảo
    Thiếu nữ mộng mơ dõi mắt trời xa
    Sương khói lửng lơ bay theo suối tóc
    Thoang thoảng hương rừng
    Tình ai vấn vương…
    Lòng nhớ thương da diết…
    Một mai khi xa cách Bà Nà!

    Huyền Tôn Nữ Huệ-Tâm
    Đà Nẵng, 24.4.2014

    (*) Núi Bà Nà cách thành phố Đà Nẵng khoảng 46 km về phía Tây. 
    Hiện nay Bà Nà trở thành khu du lịch nổi tiếng của Đà Nẵng, thu hút nhiều khách nội, ngoại tỉnh, khách nước ngoài đến tham quan, vui chơi và nghỉ dưỡng.

    Hình: (trái qua) BÙI NHƯ ÁNH, ĐOÀN PHÙNG THUÝ LIÊN, TRẦN VI HIẾN, HUỆ TÂM tham quan khu du lịch cáp treo BÀ NÀ
  • QUÁN KỲ NAM – HẠNH PHÚC NHỎ CŨNG LÀM TA MUỐN KHÓC

    Nguyễn Thị Tịnh Thy

    Quán Kỳ Nam là phim điện ảnh mới ra rạp hôm 28/11/2025.

    Xem xong, lòng man mác cảm xúc về cái đẹp bình thường của cuộc sống, của tình yêu, tình người, tôi viết mấy dòng này tỏ bày lòng trân trọng và biết ơn ê-kíp làm phim đã cho mình được thưởng thức một tác phẩm điện ảnh đúng nghĩa.

    Kịch bản hay, cốt truyện chặt chẽ, trước sau – đầu cuối hô ứng với nhau mạch lạc trong từng chi tiết, tiểu tiết. Tất cả đều rất tinh tế, kín đáo chứ không lộ liễu, đủ để khán giả suy tư, suy ngẫm mà không quá thách đố nặng nề.

    Phim là câu chuyện về tình yêu và tình người của một khu chung cư cũ ở Sài Gòn vào thập niên 1980. Cô Kỳ Nam tuổi trung niên, vợ của một sĩ quan tâm lý chiến VNCH, từng nổi tiếng trên báo chí và truyền hình về tài dạy nữ công gia chánh. Sau 1975, trong căn bếp nhỏ, cô nấu cơm tháng cho người ta, nuôi chồng nuôi con. Khang – chàng trai giỏi tiếng Pháp, yêu văn chương nghệ thuật, đang dịch lại “Hoàng tử bé” của Saint–Exupéry. Sự đời đưa đẩy, lòng tốt đã khiến họ gặp nhau, gần nhau, hiểu nhau và yêu nhau – một tình yêu đẹp đẽ, trong sáng, tinh khôi giữa bộn bề của cuộc sống với nhiều mất mát, kiếm tìm, hy vọng và tuyệt vọng.

    Tác giả kịch bản và đạo diễn lựa chọn sự tinh tế, sâu lắng thay vì kịch tính, dữ dội và ngang trái. Đó là một thử thách thực sự cho biên kịch, đạo diễn và diễn viên. Phải có một nội lực mạnh mẽ lắm, người đàn bà – thiếu phụ – goá phụ Kỳ Nam mới có thể chôn chặt những nỗi đau thất cơ lỡ vận, thay thân đổi phận xuống tận đáy lòng để bình thản sống, chờ đợi, hy vọng và chấp nhận mất mát. Tự miệng nhân vật không thốt ra một lời nào, tất cả bi kịch của đời nàng đều được hé lộ từ những nhắc nhớ tình cờ của người khác. Ở Kỳ Nam, ta chỉ thấy vẻ đẹp và cái đẹp cao sang đến giản dị, thánh thiện đến gần gũi và táo bạo đến bình thường – tự nhiên nhi nhiên – như cái gì đến thì sẽ đến. Kịch tính của nhân vật Kỳ Nam là kịch tính ngầm. Tất cả tích tụ lại trong đôi mắt, bờ vai, dáng người, lời nói ít ỏi nhưng rắn rỏi và trí tuệ, vẻ thẫn thờ, ngấn nước mắt. Những cơn bão cuộc đời, cơn sóng lòng của nàng lắng lại ở đó đòi hỏi diễn viên phải diễn xuất thật tốt. Đỗ Hải Yến đã làm được! Cô đã làm toát lên cái chất kỳ nam – vưu vật của tạo hoá – trong một người đàn bà đi qua giông bão tảo tần của cuộc đời vẫn giữ được cốt cách thanh cao, quý phái, lãng mạn mà đoan trang.

    Kịch bản chọn từ khoá “chừng mực” để triển khai mọi yếu tố nghệ thuật khác. Tình cảm chừng mực, nụ hôn chừng mực, cái ôm chừng mực, cái xấu chừng mực, cái đẹp chừng mực, mâu thuẫn cũng chừng mực. Chừng mực mà không nửa vời, không ba phải. Chừng mực để con người ta có chút thoáng ngã lòng để không buông thả, thoáng đau đớn để không gục ngã, thoáng hờn ghen để không mạ mị, thoáng xấu xa để không tha hoá, thoáng tuyệt vọng để không kiệt quệ, thoáng buông lơi để không cuồng dại… Các nhân vật đều diễn được “chút thoáng” đó, và họ đều diễn rất tròn vai, từ vai chính của Kỳ Nam, Khang; cho đến các vai phụ như Su, ông Hạo, Đôn,…

    Không gian chính của phim rất nhỏ hẹp, tập trung vào khu chung cư cũ với ti vi cũ, máy hát cũ, bản nhạc cũ, bàn cờ cũ, xe đạp cũ, những con người cũng “muôn năm cũ” của Sài Gòn một thời hoa lệ. Ánh sáng phim rất nhạt nhưng không gây cảm giác nặng nề; đủ để người xem nhận ra những trì đọng, cũ kỹ, tăm tối, khốn khó của một thời.

    Với những người Sài Gòn xưa và những người từng biết, từng yêu Sài Gòn, cái làm ta xao xuyến vẫn là cái cũ: những bản “nhạc vàng” đậm chất vàng mười như nói thay nỗi lòng da diết và khắc khoải của nhân vật: “Xin thời gian qua mau” của Lam Phương qua giọng hát của Thanh Thuý, “Bến giang đầu” của Lê Trọng Nguyễn qua giọng hát của Hà Thanh” và “Thu sầu” của Lam Phương qua giọng hát Thái Thanh; lời bài thơ “Trường tương tư” của Lương Ý Nương; những câu văn triết lý nhẹ nhàng trong “Hoàng tử bé” hoặc của danh nhân Yersin; lối sống an bần lạc đạo với chim muông, âm nhạc, cờ tướng; nhịp điệu nước mía, cà phê sớm, chợ khuya của Sài Gòn… Và hơn hết thảy là cốt cách của người Sài Gòn – cốt cách ấy cũng như chất kỳ nam, trải qua bao mưa nắng biến động rục rã mà kết tinh thành gỗ quý; cốt cách ấy cũng như ngọc trai, âm thầm quằn quại vì đau đớn mà tiết ra chất ngọc.

    “Chừng mực” của phim cũng đủ cho ta thấy những sự kiện chính trị – xã hội của Sài Gòn sau ngày thống nhất đất nước. Đó là bữa tiệc sinh nhật bị lập biên bản; là ông già tư sản bị tịch biên tài sản; là đứa con lai bị kỳ thị, bị mua bán; là viên sĩ quan cải tạo không trở về; là những người bỏ xác trên biển vì giấc mơ Mỹ không thành; là chuyện đổi tiền, chuyện gửi gắm cho “con ông cháu cha”…

    Muôn mặt của Sài Gòn đều được tái hiện. Tái hiện để thấy những điều đã từng xảy ra, từng trôi qua; tái hiện chứ không đổ lỗi hay quy kết; tái hiện để hiểu hơn, hiểu sâu về bối cảnh xã hội chứ không nhằm mục đích khơi lại vết thương ngày cũ. Tái hiện này cũng chính là chất Sài Gòn của bộ phim – một Sài Gòn bao dung và hồn hậu, khiến tận trong sâu thẳm cõi lòng, ta thấy bình yên.

    Sự kiện chính của phim là mối tình vượt qua khoảng cách về tuổi tác, về xuất thân của hai con người tìm thấy sự đồng điệu ở tình yêu văn chương nghệ thuật và lòng trắc ẩn với cái đẹp, với tình người. Nhưng bối cảnh phim cho thấy tác giả kịch bản và đạo diễn đã chạm đến những vấn đề vốn vắng bóng lâu nay: đó là nỗi đau con lai và nỗi đau vượt biên. Không lên gân, không dữ dội, không lên án, không kết tội, không quá buồn,… nhưng đủ làm ta nhớ, ta đau.

    Phim có nhiều hình ảnh ẩn dụ mang tính biểu tượng rất giản dị, rất đời thường mà chất chứa và biểu đạt được nội tâm của nhân vật: chiếc chìa khoá cổng ở đầu và cuối phim, viên gạch chặn cửa,… đều thay lời muốn nói.

    Nhân vật không nói, không khóc bằng lời mà bằng các hành động phi ngôn ngữ như ánh mắt, nét mặt, mái đầu, bờ vai, cái ôm, cái nắm tay, khoảng lặng,…

    Không có những cú máy, góc quay độc đáo, hiện đại và hầu như không dùng kỹ xảo; chuyện phim không gai góc, cật vấn; nhưng Quán Kỳ Nam đúng là điện ảnh ra điện ảnh. Tất cả mọi yếu tố nghệ thuật đều vừa đủ cho những điều cần nói và không nói; cho chất bình thường lẫn bất thường và vô thường đan quyện; cho người trẻ lớn khôn thêm, cho người già trẻ lại…

    Và hơn hết là cho Sài Gòn ra Sài Gòn.

    Ta tìm lại một Sài Gòn chưa xa – tại thời điểm giao thoa giữa cũ và mới, giữa mất và còn, và ta xao xuyến, xúc động.

    Hạnh phúc nhỏ vậy thôi, nhưng đôi khi “Hạnh phúc nhỏ cũng làm ta muốn khóc/ Đừng nói chi những chuyện xa vời”.

    (Nguyễn Thị Tịnh Thy)

    *****

    – Nguồn ảnh: https://www.facebook.com/moveekvn

    – Hai câu thơ cuối của bài viết chưa rõ tác giả.

    ***

    Mời đọc thêm bài viết của thầy Cao Huy Hóa (Toán khóa Nguyễn Du, tốt nghiệp 1963):

    HƯƠNG XƯA THỀM CŨ

    Nếu có ai đó như tui, một buổi chiều âm u, lọ mọ leo thang máy lên tầng cao chót vót để… xem phim, thì có thể bị xem xưa nay hiếm, nhất là thời buổi bây giờ; thế nhưng nếu như biết được hôm đó, rạp chỉ có… 10 người xem, thì chắc mọi người thông cảm. Ít người thì ông già bớt dị, và gật gù: Của hiếm như kỳ nam thì làm sao nhiều người biết tới?

    Kỳ Nam là một ẩn dụ, với trầm kỳ nam là trầm vô cùng quý, một loại trầm hương đặc biệt và hiếm có, được hình thành từ nhựa cây Dó Bầu khi chúng bị nhiễm nấm hoặc bị thương. Nó là “tinh hoa” của trầm hương, có giá trị cao gấp nhiều lần trầm thông thường do sự hình thành phức tạp và tích tụ tinh dầu đậm đặc hơn.

    Ẩn dụ đó là trong một phim, từ chất liệu cuộc sống (hư cấu) của một thiếu phụ đã từng là một vợ một sĩ quan cấp cao thời VNCH trước 75, là một cô giáo nữ công gia chánh đoan trang, từng trải, với một sự nghiệp đáng kể giữa Sài gòn đô hội, thế rồi qua bước ngoặt lịch sử, phải âm thầm kiếm sống bằng nghề nấu cơm tháng trong một chung cư đông đúc, trong hoàn cảnh chồng con trôi nổi theo dòng đời và nước biển. QUÁN KỲ NAM là quán đứng tên thiếu phụ đó, là nhan đề của phim mới ra mắt, khá âm thầm.

    Quán là tâm điểm của một quần cư hỗn tạp với dân lao động, thừa cá tính, đa dạng nghề; từ anh bán chai bao, đồ phế liệu đến ông già châm cứu, mê cờ tướng và chính ông già đó thời trước là tư sản với khối bất động sản to đùng, nay chỉ còn là một góc trong chung cư để hành nghề; từ mấy bà sồn sồn lắm chuyện cho đến những cô gái còn giữ nét e lệ… Không gian sống chật chội, tránh nhau mà đi, nhưng cũng đủ chỗ để dung chứa tình người.

    Nhân vật chính, như chứng nhân thời đại, là một trí thức từ ngoài kia vô, mải mê với tác phẩm Le Petit Prince (Hoàng tử bé) của Antoine de Saint-Exupéry, nghiềm ngẫm dịch cho bằng được; và thế là chất trí thức gặp gỡ cái sự thông minh từng trải của người thiếu phụ Sài gòn để đi đến cái kết nhẹ nhàng chấp nhận được.

    Phim như gợi hương xưa, tưởng như phôi pha theo năm tháng, thế mà được những nhà sản xuất và đạo diễn nhặt lấy nơi thềm cũ, và chắc là người làm phim không mong chi ăn khách, không mong chi đạt doanh thu bao nhiêu tiền tỷ, mà chỉ mong lấy chuyện cũ mà sáng tạo.

    Tôi xin viết cho vui, và tuổi tác này thì khó mà viết đúng và đủ; tôi chỉ xem, tưởng tượng và thỉnh thoảng lùi về thời xa xưa… như khi đang lim dim thì một giọng ca cất lên, cao, sang, nhẹ, huế: Chao ơi, Hà Thanh! Bến Giang Đầu của Lê Trọng Nguyễn!

    Phim hay rứa, ý nghĩa rứa, xứng đáng để những ai đứng tuổi hoài niệm và sống chậm đi xem lắm chớ, nhất là những người còn lưu giữ một chút hương xưa thềm cũ – một chút cũng là quý trong thời đại này. Nhưng thôi rồi, “gánh hát” đã đi qua Huế rồi. May sao còn chút gì đó… Cô Tịnh Thy đã có bài rất hay, vừa là điểm phim đầy đặn, vừa là nhận định phim với tình cảm chan chứa sâu sắc.

    Nhờ cô Tịnh Thy, năm mươi phần trăm thưởng thức phim của tôi là nhờ bài của cô trên facebook.

    Facebook, 04/12/2025

    ***

    Mời đọc thêm lời bình phim của thầy Ngô Thế Phiệt:

    Tôi đi xem phim “Kỳ Nam quán”

    —-

    Thế rồi chúng tôi cũng xem Kỳ Nam Quán. Chỉ đi bộ có 10 phút mà được chiêm ngưỡng 2 vẻ đẹp. Nếu vẻ đẹp của Kỳ Nam được chắt ra từ đau thương đổ vỡ: chồng mất trong trại cải tạo, con trai chết trên đường vượt biển, cảnh khốn khó của người thua cuộc, thì vẻ đẹp của cô đóng vai chủ quán (Hải Yến) tôi nghĩ là của Trời ban không chắt ra từ đâu cả. Quán không phải là quán chỉ là một căn phòng chật hẹp với cái bàn chất đầy thức ăn và hàng chục cái cặp lồng đợi Su, cậu-bé-con-lai-đang-chờ-xuất-cảnh (tên Su có thể hiểu cứt su của trẻ sơ sinh cũng có thể là bắp cải (chou, tiếng Pháp) hay cục cưng tuỳ ngữ cảnh). Không gian là một mớ hỗn độn: chen lẫn hận thù, độc ác với lòng tốt nhân ái của cư dân Sài Gòn, tình-yêu-nhẹ-nhàng-sương-khói giữa người quả phụ lớn tuổi và người thanh niên trẻ chen lẫn với các tác phẩm nổi tiếng của văn học Pháp: Hoàng Tử Bé, Người đàn bà ngoại tình… Âm thanh là hợp tấu của tiếng hát Hà Thanh với tiếng rao của người thu mua phế liệu, tiếng mỉa mai dè bỉu của những người xấu tính, ganh ghét, tiếng của 2 người thầm yêu nhau bàn về tác phẩm Le Petit Prince của Saint Exupery, tiếng cộc cộc của chiếc máy đánh chữ cổ. Ánh sáng thì tăm tối lúc sáng, lúc tối theo lịch cúp điện thời bao cấp. Vượt lên tất cả là tình yêu: Vượt lên nghịch cảnh, tuổi tác, thế hệ, thời đại, hận thù… Chỉ có tình yêu mới chữa lành mọi tổn thương để có được cái quý nhất: Kỳ Nam. Kể từ “Mùa len trâu” tôi mới xem được một phim hay.

    PS: Xem phim làm tôi nhớ đến một người, cô nữ sinh Đồng Khánh có ngôi nhà sàn trên 1 cái cống ở 1 con kiệt ngày ngày sau giờ học đem cà mèn cơm cho chúng tôi thời còn đi học ở ĐH Huế. Ngôi nhà và bà mẹ già tật nguyền ngồi nấu cơm tháng cho SV. Đời thực chẳng khác gì trên phim.

    Ngô Thế Phiệt

  • THÁNH NICHOLAS: MỘT TRUYỀN THỐNG XỨ BỈ XA XƯA HƠN ÔNG GIÀ NOEL

    Thái Lan (Phan Nữ Lan) sưu tầm & dich

    Một lễ hội thấm sâu vào văn hóa Bỉ t xưa
    Từ rất lâu trước khi Ông già Noel trở thành biểu tượng của mùa lễ hội cuối năm, Thánh Nicholas đã chiếm lĩnh thế giới tưởng tượng của trẻ em Bỉ. Hàng năm, vào ngày 6 tháng 12, những đứa trẻ ngoan ngoãn sẽ được nhận kẹo bánh và quà, trong khi những đứa trẻ không ngoan sẽ phải đối đầu với Père Fouettard (Ông Roi Vọt) đáng sợ.
    Lễ hội này, vẫn được tổ chức khắp nơi cho đến ngày nay, là thời điểm của niềm vui và sự sẻ chia, đánh dấu sự khởi đầu của các lễ hội mùa đông ở Bỉ.

     Nguồn gốc của Thánh Nicholas
    Câu chuyện về Thánh Nicholas bắt nguồn từ thế kỷ thứ 4 ở Tiểu Á (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ), nơi Nicholas de Myra làm giám mục. Nổi tiếng với lòng hào hiệp vô bờ bến, nhân vật lịch sử này đã tạo nên nhiều truyền thuyết, đáng chú ý nhất là câu chuyện ngài cứu ba đứa trẻ khỏi một tên đồ tể độc ác.*1/-

    Thánh Nicholas nhanh chóng trở thành người bảo vệ trẻ em và học sinh ở châu Âu, khởi nguồn cho truyền thống ngày 6 tháng 12, ngày ngài đến để ban thưởng cho những đứa trẻ ngoan ngoãn.

    Theo dòng thời gian, truyền thống này đã bén rễ ở Bỉ, Hà Lan, Luxembourg và miền Đông nước Pháp, rất lâu trước khi Ông già Noel xuất hiện, Ông được Thánh Nicholas truyền cảm hứng với vẻ bề ngoài và lòng hào phóng của ngài.

    Lễ mừng Thánh Nicholas được tổ chức như thế nào ở Bỉ?
    Vào tối ngày 5 tháng 12, trẻ em đặt giày của mình bên lò sưởi hoặc trước cửa ra vào, cùng với một củ cà rốt và một miếng đường cho con lừa của Thánh Nicholas. Sáng hôm sau, chúng khám phá ra những điều bất ngờ mà vị thánh vĩ đại để lại:

     -Quà tặng cho những bé may mắn.-Bánh quy Speculoos hình Thánh Nicholas.
    -Bánh hạnh nhân và quýt, biểu tượng của sự ngọt ngào và thịnh vượng.

    Ở một số trường học và làng mạc, Thánh Nicholas thậm chí còn đích thân đến thăm trẻ em, thường đi cùng với người bạn đồng hành của mình, Père Fouettard (Ông Roi Vọt), – người luôn ở đó để nhắc nhở những đứa trẻ hư hỏng rằng chúng phải cư xử thật tốt.

    Speculoos

    Thánh Nicholas và Ông Già Noel: Khác nhau như thế nào?

    Mặc dù Thánh Nicholas và Ông già Noel có nhiều điểm tương đồng nhưng có một số điểm khác biệt sau:   

    Thánh Nicholas                                                                            Ông già Noel  
    1/- Nguồn gốc

    – Thế kỷ thứ 4,  Giám mục De Mare  
      -Lấy cảm hứng từ Thánh Nicholas, được phổ biến vào thế kỷ XIX  
    2/- Ngày  Lễ hội

    – 6 tháng 12         
        -25 tháng 12  
     3/-Phương tiện di chuyển

    – Chú lừa     
      –  Xe trượt tuyết do tuần lộc kéo
      4/-Người bạn đồng hành

     – Ông Roi Vọt      
        – Tiểu quỷ phương Bắc
    5/-Loại phần thưởng

    Kẹo bánh và quà nhỏ    
      -Đồ chơi và quà tặng dưới gốc cây thông Noel

    Ở Bỉ, trẻ em chủ yếu nhận quà vào lễ Thánh Nicholas, còn lễ Giáng Sinh là dành riêng cho lễ hội với cả gia đình Những món ăn không thể thiếu trong Ngày Thánh Nicholas
    Ngày Thánh Nicholas cũng là dịp để thưởng thức các món ngọt truyền thống.

    Spectuloos: Bánh quy giòn theo kiểu Thánh Nicholas có tẩm gia vị, thường được tạo theo hình ảnh vị thánh vĩ đại.
    Marzipan: Bột hạnh nhân ngọt có hình dạng động vật nhỏ hoặc trái cây.

    Sô cô la và tượng nhỏ (con giống) bằng sô cô la: Thường có hình Thánh Nicholas.
    Quả quýt: Một món quà theo truyền thống xa xưa cho trẻ em, gợi nhớ đến quả cam, từng rất hiếm và quý giá vào mùa đông.

     Ngoại hình cũng khác nhau;  sau này chiếc áo choàng đỏ và bộ râu dài mới xuất hiện, trong khi phiên bản Thánh Nicholas của Pháp vẫn mặc áo giám mục, thường có màu tím, m vàng hoặc trắng, và bộ râu khá ngắn.Khi những người  kiều dân   Hà Lan đến Mỹ vào thế kỷ 17, họ đã mang theo truyền thống này. Cái tên “Sinterklaas” trở thành “Santa Claus”, và văn học Mỹ thế kỷ 19 đã thêm vào hình ảnh tuần lộc, xe trượt tuyết và ống khói. Hình minh họa của Thomas Nast và sau đó là các quảng cáo của Coca-Cola đã định hình nên diện mạo hiện đại của ông.

    Ngày Thánh Nicholas, một truyền thống nên lưu truyền

    Ngày Thánh Nicholas không chỉ là một ngày lễ; đó là thời điểm các thế hệ trong gia đình sum họp, chia sẻ những kỷ niệm tuổi thơ, những món ăn ngon và những câu chuyện huyền thoại. Một cơ hội tuyệt vời để khám phá hoặc tìm lại một truyền thống đã ăn sâu vào văn hóa Bỉ!

    nguồn:

    https://shop.labelleetlebelge.com/blogs/infos/saint-nicolas-une-tradition-belge-plus-ancienne-que-le-pere-noel

      CHÚ THÍCH

    *1/-

    Truyền thuyết về Thánh Nicholas được Gérard de Nerval thu thập tại tỉnh Valois vào năm 1842.
    Truyền thuyết này kể về việc Thánh Nicholas nhân từ, giám mục thành Myra, đã hồi sinh ba đứa trẻ vô tội bị một người bán thịt tham lam sát hại và cách ông trở thành vị thánh bảo trợ của trẻ em.
    Những dấu vết đầu tiên của truyền thuyết về ba đứa trẻ vô tội trong thùng muối có từ thế kỷ 12.

    Truyền thuyết kể rằng có ba đứa trẻ đi mót lúa ngoài đồng, bị lạc đường khi trở về.

    Nhìn thấy ánh sáng ở một ngôi nhà, chúng đến và gõ cửa.

    Một người bán thịt đã mở cửa và giả vờ đồng ý cho chúng ở lại qua đêm. Thực ra, ngay khi bọn trẻ bước vào, ông ta đã giết chúng, sau đó dùng con dao lớn của mình cắt chúng thành từng miếng nhỏ, ri bỏ chúng vào một thùng lớn chứa đầy muối để làm thịt muối! 

     Mt thi gian sau, Thánh Nicholas cưỡi lừa, tình cờ đi ngang qua và gõ cửa nhà hàng thịt. Ngài muốn có thịt muối cho bữa ăn tối – Ngài đã lừa người bán thịt, và ông này nhận ra mình đã bị phát hiện. Thánh Nicholas giơ ba ngón tay lên trên thùng thịt muối và làm ba đứa trẻ sống lại, chúng thức dậy sau giấc ngủ dài.

    Thánh Nicholas làm cho ba đứa trẻ sống lại từ cõi chết. Minh họa từ Sách Giờ Kinh của Jacques de Langeac (bản thảo số 5154 tại Thư viện Thành phố Lyon, 1465-1468)

  • Cô gái nào trong “EM ĐẾN THĂM ANH MỘT CHIỀU MƯA” — TÔ VŨ?

    Niệm Quân – Nhacxua.net

    Hoàn cảnh sáng tác “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa” (nhạc sĩ Tô Vũ) – Tuyệt phẩm trữ tình lãng mạn của thập niên 1940

    “Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa” là một nhạc phẩm trữ tình nổi tiếng của nhạc sĩ Tô Vũ được sáng tác từ năm 1947, được đánh giá là một trong những tuyệt phẩm của Tân nhạc Việt Nam thời kỳ đầu.

    Bạch Yến hát:

    Nhạc sĩ Tô Vũ (tên thật Hoàng Phú, sinh ngày 9 tháng 4 năm 1923 tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang nhưng từ khi còn nhỏ ông đã chuyển về sống tại Hải Phòng cùng bốn người anh em ruột của mình.

    Nhạc sĩ Tô Vũ sáng tác không nhiều, nhưng ông đã có đóng góp đáng kể cho sự phát triển của âm nhạc Việt. Ngay từ thập niên 1940, nhạc sĩ Tô Vũ cùng với anh trai là nhạc sĩ Hoàng Quý đã phôi thai thành lập nên nhóm “Đồng Vọng” để cùng sinh hoạt văn nghệ và sáng tác nhạc. Nhóm lôi kéo được sự đóng góp và tham gia của nhiều nhạc sĩ tên tuổi như Canh Thân, Phạm Ngữ, Văn Cao,… Nhóm đã sáng tác được khoảng 60 ca khúc hùng ca, sử ca, và Hướng đạo ca.

    Bên cạnh thể loại nhạc hùng ca, vui tươi, khoẻ khoắn, nhóm còn cho ra đời loại “nhạc tâm tình”, tức những bài nhạc tình, nhạc lãng mạn. Tuy nhiên, nhưng bản nhạc tình này không được in vào trong những tập nhạc “Đồng Vọng” của nhóm mà chỉ phổ biến hạn hẹp, truyền tay nhau trong các nhóm bạn bè tri kỷ. Tô Vũ là tác giả của các ca khúc nổi tiếng: Em đến thăm anh một chiều mưa, Tạ từ, Tiếng chuông chiều thu, … Bên cạnh công việc sáng tác, Tô Vũ còn là một giáo sư, nhà nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc. Ông giữ vai trò quan trọng trong việc tham gia xây dựng và phát triển các trường, viện âm nhạc tại Việt Nam, đào tạo ra nhiều thế hệ nhạc sĩ, ca sĩ sau này.

    Chia sẻ về hoàn cảnh ra đời của ca khúc Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa, trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 11 năm 2002, nhạc sĩ Tô Vũ từng chia sẻ rằng đó là một câu chuyện có thật của chính ông. Câu chuyện được nhạc sĩ kể lại rất dễ thương như sau:

    “Bản nhạc được tôi viết năm 1947, khi đơn vị tuyên truyền huyện Kiến An chúng tôi tiếp nhận 3 nữ cứu thương của huyện Tiên Lãng đi phục vụ chiến đấu bị lạc đường. Tôi và 2 người bạn ở trong một ngôi đình. Khi chúng tôi tập hát thì các cô này rủ nhau tới xem. Thoạt đầu họ còn e dè nhưng sau đó cũng nhận lời tập múa hát chung với chúng tôi. Trong đó, một cô hát rất hay và vững nhịp nên thường song ca với tôi. Mỗi lần đi biểu diễn, tiết mục của chúng tôi được hoan hô nhiều nhất. Nhưng chỉ khoảng 2 tháng sau thì ba cô gái này phải trở về đơn vị cũ, cách chỗ tôi khoảng 8 km. Khi chia tay, chúng tôi ước hẹn sẽ sang thăm nhau vào chủ nhật mỗi tuần. Nếu họ không qua thì ba đứa tôi sang, nếu cả hai bên cùng sang thì sẽ gặp nhau ở giữa đường, bởi là đường độc đạo và phải qua một bến sông. Hôm ấy trời mưa, chúng tôi không thể sang bên kia thăm được. Buổi chiều trời vẫn mưa. Tôi đang “trụ trì” ngôi đình (hai ông bạn kia đã đi chơi) thì đột nhiên “em” một mình đội mưa đến. Xúc động đến bồi hồi, tôi đã viết:

    Em đến thăm anh một chiều đông
    Em đến thăm anh một chiều mưa
    Mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều
    Em đến thăm anh, người em gái…

    Ở chữ “gái”, tôi chọn nốt “si bémol” (si giáng) lửng lơ mà khi hát lên, nghe rất… nũng nịu, không chút gì giống với “người em gái” bình thường cả. Tuy nhiên, theo thời gian tôi không tài nào nhớ nổi người nào trong số 3 cô gái đã “hiện ra” trong buổi chiều mưa năm ấy. Sau này, tôi cũng đã lần lượt gặp lại từng “cố nhân”. Có người nhận “là em đấy!” nhưng tôi không tin. Có người lại chối phắt, người còn lại thì không tiện hỏi… đành phải tan giấc mơ hoa:

    Ta ước mơ một chiều thêu nắng
    Em đến chơi quên niềm cay đắng và quên… đường về!”

    Em đến thăm anh một chiều đông
    Em đến thăm anh một chiều mưa
    Mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều

    Em đến thăm anh,
    Người em gái tà áo hương nồng,
    Mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh

    Em đến thăm anh chiều đông giá
    Em đến thăm anh trời mưa gió
    Đường xa lạnh lùng
    Mặt nhìn mặt, cầm tay bâng khuâng không nói một câu
    Lời nghẹn ngào, hồn anh như say như ngây, vì đâu? 


    Cuộc gặp gỡ của đôi trai gái diễn ra trong một hoàn cảnh đầy chất xúc tác. Giữa chiều đông lạnh, “mưa dầm dề, đường trơn ướt tiêu điều”, chàng nhạc sĩ trẻ hẳn là đang một mình thẩn thơ với nỗi buồn vắng hoang lạnh xung quanh, thì cô gái bất ngờ xuất hiện, một mình, đội mưa tìm đến: “tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh”. Hẳn là chàng trai đã vô cùng xúc động trước tấm chân tình của cô em gái mà chàng đã thầm để ý.

    Trong nguồn cảm xúc dâng trào, họ nắm tay nhau, nhìn nhau đầy thấu hiểu nhưng “không nói một câu” bởi mọi ngôn từ đều tắc tịt, “nghẹn ngào” và bởi trái tim loạn nhịp đã chiếm giữ lý trí khiến “hồn anh như say như ngây”. Cả đoạn hát, nhạc sĩ sử dụng những ca từ nhẹ nhàng, giản dị nhưng giai điệu thì đắm đuối, da diết lột tả trọn vẹn cõi lòng của đôi trai gái “tình trong như đã mặt ngoài con e”.

    Gió đưa cánh chim trời
    Đó đây cách xa vời
    Chiều vui mưa lạc cánh 

    Khá thương kiếp bềnh bồng
    Dẫu khắng khít đôi lòng
    Chiều nào em xa anh?

    Tuy nhiên, niềm vui gặp gỡ nhanh chóng bị xâm lấn bởi những cảm xúc âu lo, ái ngại. Bởi trong hoàn cảnh tao loạn, cả chàng trai và cô gái đều chẳng thể biết được ngày mai còn có thể gặp lại hay không, chẳng biết rồi cuộc đời, công việc, những nhiệm vụ sẽ đưa đẩy họ đi đâu về đâu. “Dẫu khăng khít đôi lòng”, chàng trai vẫn không khỏi chạnh lòng khi nghĩ đến tương lai: “Chiều nào em xa anh?”

    Có hay lúc em về
    Gót chân bước reo âm thầm
    Trên đường một mình ngoài mưa 

    Hình ảnh cô gái với đôi chân reo vui trở về một mình giữa cơn mưa sau khi từ biệt chàng trai được nhạc sĩ phác hoạ thật đẹp. Nhưng đối lập với hình ảnh đáng yêu đó là nỗi buồn dầm dề như cơn mưa rả rích phủ xuống tâm hồn người đứng trông theo:

    Mưa như mưa trong lòng anh
    Lòng bồi hồi nhìn theo chân em chìm trong ngàn xanh
     

    Và chàng trai ước rằng:

    Ta ước mơ một chiều thêu nắng
    Em đến chơi quên niềm cay đắng
    …và quên… đường về

    Giá như chẳng có cơn mưa kia, giá như chẳng có những cay đắng, rào cản, giá như cô gái không phải trở về, giá như cô quên mất… đường về…

    Ca khúc khép lại bằng những lời ca bềnh bồng mang theo niềm ước ao khôn nguôi của chàng trai trẻ. Cuộc gặp gỡ chóng vánh để lại bao cảm xúc, quyến luyến đã nhanh chóng kết thúc bằng một cuộc chia ly vội vã không kém, để lại bao tiếc nuối, nhớ nhung cho chàng nhạc sĩ trẻ.

    Nhạc sĩ Tô Vũ đã qua đời vào 3g30 phút sáng 13-5- 2015 tại Sài Gòn.

     Bài: Niệm Quân

    Bản quyền bài viết của nhacxua.vn

  • Khi đi xa, nhớ đặt một đồng xu trong ngăn đá của tủ lạnh

    Tôi từng làm bảo mẫu cho một gia đình người Đức. Có lần chủ nhà tôi phải về Đức thăm thân nhân, họ đưa cả gia đình về Đức và cũng cho tôi nghỉ phép. Ngày đầu tiên trước khi đi, cô chủ người Đức bảo tôi lấy một bát nước rồi cho vào ngăn đá tủ lạnh; đợi bát nước đông thành đá, cô đặt một đồng xu lên trên mặt.

    Tôi nghĩ mãi không hiểu vì sao, nhưng cũng không dám hỏi vì cô chủ người Đức rất lạnh lùng, tiếng Trung của cô cũng không tốt, tôi ít khi giao tiếp với cô. Cô đặt thì tôi cứ để vậy. Sau đó cả nhà ba người họ lên đường về Đức.

    Một tháng sau, họ từ Đức trở về, tôi lại đến nhà họ làm việc. Trước khi làm việc, cô chủ người Đức bảo tôi vứt hết mọi thứ trong tủ lạnh đi. Trong tủ có thịt bò, thịt cừu, sườn, thịt gà, thịt vịt và rất nhiều hải sản. Những thứ này để trong ngăn đá suốt một tháng, sao lại không ăn được? Tôi thấy tất cả vẫn còn đông đá mà.

    Tôi vẫn không dám hỏi, chỉ gom hết tất cả vào một túi tiện lợi, định đem về chia cho hàng xóm vì bình thường cô chủ cũng hay cho tôi những thứ sắp hết hạn. Tôi hay mang về chia cho mọi người.

    Trước khi tan làm tôi đã gói hết mang về. Hàng xóm của tôi, bà Hứa, thấy tôi mang nhiều đồ ngon như vậy thì vui lắm. Bà biết tôi ăn không hết nên chắc chắn sẽ chia cho bà.

    Ăn không hết, tôi chia mỗi món một nửa cho bà Hứa, phần còn lại để trong ngăn đá tủ lạnh nhà mình. Vì ngày nào cũng phải đi làm, tôi không có thời gian nấu nướng nên tạm để đó.

    Hôm sau, trước khi đi làm, tôi gặp bà Hứa. Bà trông không khỏe, tôi hỏi thì bà nói cả nhà bà đều bị tiêu chảy mấy hôm nay. Bà hỏi đồ tôi mang cho có khi nào bị hỏng không. Tôi nói thật rằng số đồ đó là chủ nhà bảo tôi vứt đi, tôi tiếc nên mang về.

    Bà Hứa bảo tôi phải vứt hết ngay vì tất cả đều đã hỏng. Tôi rất ngạc nhiên: chúng được cấp đông trong tủ lạnh, sao lại hỏng được? Mang theo thắc mắc đó, tôi quay lại nhà cô chủ người Đức để tiếp tục làm việc.

    Lúc làm, tôi dọn dẹp tủ lạnh và thấy bát đá vẫn còn ở trong ngăn đá, nhưng đồng xu thì không còn trên bề mặt nữa. Tôi cũng không bận tâm, lấy bát đá ra để tan rồi rửa bát sau.

    Khi đá tan, tôi đi rửa thì thấy một đồng xu dưới đáy bát. Đó chính là đồng xu đặt trên mặt băng ban đầu! Sao nó lại xuống đáy bát? Tôi cầm đồng xu đến trả cho cô chủ. Cô chủ dùng tiếng Trung lơ lớ hỏi: “Đồng xu ở đáy bát sao?” Tôi nói: “Đúng vậy.” Cô chủ nói rất nhiều tiếng Anh với chồng mà tôi không hiểu. Sau đó tôi lại tiếp tục công việc.

    Sau đó, ông chủ giải thích cho tôi: “Đồng xu ở đáy bát chứng tỏ trong thời gian chúng tôi về Đức, nhà đã bị mất điện. Mất điện thì đồ đông lạnh bị rã đông, sau đó có điện trở lại thì chúng lại đông lại. Bát nước trong ngăn đá cũng tan rồi đông lại, làm đồng xu chìm xuống đáy.”

    Nghe xong, tôi lập tức hiểu vì sao bà Hứa ăn đồ mang về liền bị đau bụng, vì tất cả đã bị hỏng.

    Qua bài học này, tôi cũng học được một mẹo: Trước khi đi xa, hãy cho vào tủ lạnh một bát nước đá và đặt một đồng xu lên trên.

    Khi trở về, kiểm tra:

    1. Nếu đồng xu vẫn nằm trên mặt băng, nghĩa là chưa từng mất điện. Đồ ăn vẫn an toàn.
    2. Nếu đồng xu nằm ở giữa bát, nghĩa là mất điện trong thời gian ngắn, băng chỉ tan một nửa, một số thực phẩm vẫn có thể ăn được.
    3. Nếu đồng xu nằm dưới đáy bát, nghĩa là mất điện lâu, băng đã tan hoàn toàn, toàn bộ thực phẩm trong tủ phải bỏ đi.

    Y Ngải / Vision Times

    Nguồn: https://www.secretchina.com/news/gb/2025/11/24/1087036.html

    (Phan Nữ Lan chuyển từ bạn)

    ***

    Hình ảnh từ trang: https://www.dienmayxanh.com/kinh-nghiem-hay/tac-dung-khong-ngo-cua-viec-dong-xu-trong-tu-lanh-1266639?srsltid=AfmBOorxMhUbTsdjZ4w6xMqALZDqAuzc_CPZE-tf5Rbw4oNYFP1hAZd6

  • NGẮM BIỂN NHỚ MẸ…

    Sáng nay biển bỗng xôn xao
    Trắng bờ, trắng bãi, cồn cào lòng tôi…
    Mênh mông, sóng bạc bãi bồi
    Lòng tôi nhớ mẹ những lời ru xưa…

    À ơi… dáng mẹ sớm trưa
    Lưng còng mái tóc bạc phơ tháng ngày!

    Êm êm tiếng mẹ đâu đây
    Lẫn trong sóng biển, vỗ đầy tâm thơ
    Rì rào ôm gọn bãi bờ
    Mẹ xa tít tắp, trăng mờ năm nao
    Mẹ đi, nước mắt tuôn trào
    Mà con nín lặng nuốt vào tâm can
    Vu Lan nhớ mẹ muôn vàn
    Thì thôi để mẹ thư nhàn ra đi…

    Biển xanh sóng trắng như ri
    Trắng như tóc mẹ bạc vì trẻ thơ
    Oằn lưng buôn bán chợ đò
    Nuôi con khôn lớn, có nhờ được đâu!
    Con gái còn phải làm dâu
    Lấy chồng xa xứ, thêm rầu lòng con!

    Ngồi nghe sóng biển vỗ dồn…
    Thoảng đâu tiếng mẹ gọi con năm nào!(*)

    Huyền Tôn Nữ Huệ-Tâm
    Mùa Vu Lan
    25/8/2018
     

    ___________

    (*) Ngày thơ ấu, mùa đông, trời Huế rất lạnh, tôi có tật ngủ nướng! Sợ trễ giờ học mạ tôi gọi liên hồi mà tôi vẫn ngái ngủ!

    Mời nghe bài hát Ngắm biển nhớ mẹ:

    Mời nghe bài hát Nhớ khúc hát mẹ ru năm xưa:

  • ÔI !. SÀI GÒN TRONG TÔI. NHỚ ƠI LÀ NHỚ !!! …

    ÔI!. SÀI GÒN TRONG TÔI. NHỚ ƠI LÀ NHỚ !!! …
     LÊ MINH ĐỨC (YK 1967-1974)

    Không biết các anh chị ghé duyên về sống ở vùng đất Saigon vào lúc nào? 

    Để tôi kể lại: 

    – Quê tôi ở Bến Tre từ trước năm 1954, Ba tôi làm sở Bưu Điện mà hồi xưa hay gọi là nhà dây thép. Ba tôi nhận nhiệm sở ở Vũng Tàu không có đem gia đình theo cùng. Má tôi và gia đình nhỏ tá túc ông nội tôi ở Bến Tre, cách nhà ông ngoại cô bạn cùng lớp Phương Khanh có vài ba căn phố trên đường từ sở thú ra đến bến sông Bến Tre. Muốn tới bến sông, phải băng qua ngã tư. Đến ngã tư, rẽ trái sang Cầu Cá Lóc về Giồng Trôm, rẽ phải ra chợ Bến Tre và Tòa Bố (tên gọi Văn Phòng tỉnh lỵ thời xưa). Từ đầu ngã tư này đến cổng vườn  thú (sau này xây trường trung học Bến Tre) là nhà ông nội tôi, đi xa hơn nữa là hồ Trúc Bạch, sau này có tên khác là hồ Chung Thủy. Ở châu thành Bến Tre, ai cũng đi qua nơi này. Sau khi Nhật đảo chánh Tây, ba tôi thất nghiệp cho tới Tây trở lại Đông Dương sau thế chiến. Lúc đó, nhà nước mới triệu hồi ra làm việc.

    Lần này, Ba tôi lên Saigon nhận nhiệm sở ở Bưu Điện Trung Ương vào năm nào tôi không rõ và từ đó tôi trở thành dân Sài Gòn.  

    Ba tôi làm công chức tuy là có đồng vào, đồng ra, nhưng chạy tiền mua nhà rất vất vả, đành ở thuê. 

    Tôi theo gia đình di chuyển từ Nancy qua Khánh Hội (xưa có tên là Xóm Chiếu), nằm trong quận Tư, thành phố Saigon. 

    Sau đó, từ Khánh Hội, đổi chỗ cư ngụ qua Lê Lai gần nhà thờ Huyện Sĩ, rồi quay trở lại Khánh Hội. 

    Năm 1963, một lần nữa tôi  lại dời nhà về Gò Vấp, Gia Định, và ở tại đó cho đến  năm 1975.  

    Cư ngụ từ nhà sàn, sang nhà gạch, đến nhà phố, đời tôi đã gởi gắm nhiều về Saigon. 

    Khi trí nhớ tôi bắt đầu lúc tôi 8 tuổi, hình ảnh Saigon càng ngày càng ghi đậm trong lòng tôi. Theo thời gian, từ lúc đón nhận người Bắc di cư năm 1954, truất phế Vua Bảo Đại, đến giặc Bình Xuyên, rồi Đệ Nhất Cộng Hòa qua với 2 lần đảo chánh, một lần ném bom tại dinh Tổng Thống.

    Từ sau năm 1963, tiếp theo nền đệ nhất Cộng Hòa sụp đổ. 

    Từ đó, Saigon trầm luân trong cuộc chiến, thay đổi chính phủ, không lúc nào yên, nổi bật nhất vào những năm 1968, 1972. Saigon liên tục thay đổi theo sự nhọc nhằn với chiến tranh. 

    Sài gòn trở mình vì biến đổi xã hội nhanh chóng. Người Mỹ mang một nền văn minh mới lạ đôi khi va chạm với nền đạo lý truyền thống của người Việt. Đời sống giao động theo chiến tranh và kinh tế lạm phát mãi tận đến ngày không bao giờ quên là ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Lúc đó, tôi mới đành từ giả Saigon lưu lạc xứ người. Nay đã hơn 40 năm trên xứ người, Saigon không phai mờ trong trí óc. Saigon một thời là nhịp thở của tôi.

    Có lẽ thời gian sau năm 1954 là thời gian mà Sài gòn chuyển mình mạnh nhất về xã hội, kinh tế, giáo dục và văn hóa. Con người và nếp sống tự do ngắn ngủi trong chừng 20 năm, mang rất nhiều vương vấn, thương nhớ Sài gòn. 

    Sài gòn có từ hơn 300 năm, Sài gòn trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm, trở mình lớn dậy từ buổi sơ khai do di dân từ đời chúa Nguyễn, tiếp nối Triều Nguyễn qua nhiều triều đại cho đến khi trở thành thuộc địa của Pháp. 

    Dầu sống dưới hình thức thể chế nào đi nữa, người dân Saigon chưa bao giờ phủ nhận là mình không phải là người Việt Nam mặc dầu về kinh tế, giáo dục, văn hóa tiếp cận Âu Tây sớm hơn người dân ở ngoài Trung, ngoài Bắc. 

    Trong lịch sử, có nhiều cơ hội để miền Nam tách ra thành một quốc gia độc lập, nhưng người Miền Nam và dân Saigon vẫn một lòng với chúa, với vua, giữ trọn đạo cương thường. 

    Saigon từ xưa vốn không phải là nơi đặc biệt dành cho người Nam Kỳ mà là nơi có nhiều sắc dân từ lâu sinh sống chung đụng hài hòa: người miền Nam, miền Bắc, miền Trung, người Hoa, người Miên, Chàm, Ấn Độ, Pháp. 

    Ai muốn giữ ngôn ngữ, tiếng nói của mình thì giữ, không có sự đồng hóa.  

    Người Tàu, người Việt (Bắc, Trung), người Pháp ngay cả người Miên, Ấn Độ vẫn có trường học dạy tiếng của họ.

    Tại Saigon có đủ chùa, đình, miếu, nhà thờ, mosque hồi giáo. Họ sống hòa đồng, quý mến nhau, không gay gắt kỳ thị.

    Ai đã từng ở Saigon, thở không khí Saigon, sống giữa những trưa hè oi ả.  Nghe tiếng ve sầu kêu vang suốt mùa, hay lặng nhìn những cơn mưa rào nặng hạt trên mái hiên, những con đường lầy lội, phập phồng chiếc bong bóng nước. Những buổi tan trường khi cơn mưa ập đến, đành đội mưa mà đi, tuy quần áo ướt sũng mà lòng phơi phới hân hoan không cần ô dù, cứ để mặc nước tuôn vào người. Nhớ hoài cái cảm giác lâng lâng, cái cảm nhận sâu sắc về cơn mưa rào trong lòng người Saigon.

    Có những lúc, cả nhà ngồi quây quần bên chiếc Radio nghe tuồng cải lương với tình tiết ly kỳ, những màn thoại kịch bi hài: Vũ Đức Duy, Dân Nam, Kim Cương, Túy Hồng, tay phe phẩy quạt muỗi giữa khí trời nóng nực, tha hồ mà ngậm ngùi rơi lệ với tuồng Lá Sầu Riêng hay Đời Cô Lựu. 

    Lại có bữa khác, hồi hộp nghe Huyền Vũ truyền thanh trận banh quốc tế, sao mà mê tơi , thấy mình như là cầu thủ đang vẻ vời những đường banh ngoạn mục trên sân cỏ. Trên những con đường phố xưa, sau buổi cơm chiều, bắt ghế bố, ngồi hóng mát trước sân, cùng hàng xóm chia sẻ nỗi buồn vui cuộc đời. Sống ở Saigon là thế.

    Lòng rộn ràng được cô chú dẫn đi xem một tuồng cải lương, một buổi đại nhạc hội, say sưa thả hồn theo màn trình diễn nghe ca sĩ Anh Ngọc với bài ” Em đến thăm anh một chiều mưa” !!! 

    Nghe Ban Thăng Long với” Ngựa Phi Đường Xa”, ngậm ngùi nghe Trần văn Trạch với “Chuyến xe lửa mùng Năm”, rơi lệ với Kim Cương trong thoại kịch Trà Hoa Nữ… 

    Saigon ôi nhớ ơi là nhớ.

    Có đôi khi trốn học ghé vào những rạp xi-nê tình tứ trong góc hẻm Lê thánh Tôn chéo chợ Bến Thành (rạp Lê Lợi thì phải – rạp Vĩnh Lợi), rạp Eden trong hẻm Eden, rạp hát Catinat trong ngõ hẻm vắt ngang đường Charner (Nguyễn Huệ) và đường Catinat (Tự Do). 

    Lạ lùng, đó là những rạp ciné nhỏ trang trí khá sang trọng chứa ít người. Người xem ăn mặc chỉnh tề như vào những rạp có tiếng là sang: Rex, Majestic, Casino.

    Tuy vậy, không có gì vui bằng vào rạp Cathay gần Ngân Hàng Quốc Gia, mặc quần tiều (xà lỏn) ướt sũng vì mưa, ngồi chồm hổm trên ghế cho khô quần, say mê xem phim “Canon de Navarone”, “Gunfight at the O.K.Corral”. 

    Thời đó thiếu gì rạp hát chiếu với giá 5 đồng 2 phim, đặc biệt là phim hay đứt nửa chừng. Mình ngồi ngáp dài chờ nối phim. Xem chớp bóng (Xi cờ la ma) với cung cách đó chỉ thấy ở những rạp bình dân ở Saigon.

    Người Saigon tìm giải trí về những tuồng Cải Lương trên sân khấu, ngày càng nở rộ, những buổi Đại nhạc Hội đầy kịch tính và những bài hát đa dạng về đồng quê, tình yêu nước, tình duyên ngang trái. Nghe Radio và sau này trên truyền Hình (TV) là lối giải trí rẻ tiền của người dân Saigon.

    Tuổi thơ Saigon có gì vui? nhiều lối chơi lắm: trong nhà, nhất là khi trời mưa: Bắn thun, bắn bì, diễn tuồng. Ngoài sân: tụm ba tụ bảy với hàng xóm, trời không mưa: đá banh, táng trống, đánh đáo, chơi bông vụ, đá cầu lông, bắn bi chai, đá dế, đá cá lia thia, tạc hình, nút phén đập dẹp, bao thuốc lá, ném đá trên lưng người cổng. Trời mưa: tắm mưa ngoài phố, trượt xi măng láng, bắt cá bằng lồng bẫy chuột trong cống dẫn nước từ sông Saigon chảy ngược vào.v.v.

    Còn nữa chưa hết: trèo lên nóc nhà thả diều, bẫy chim khoen, bắt dế cơm ở Ngân Hàng Quốc gia bên kia cầu Mống lúc trời tối. Đánh lộn với trẻ con của khu phố khác. Cờ bạc: Hốt lú, đánh bài, tạc hay khẻ tường, đổ xí ngầu ăn bò vò viên, ăn bò bía. Ban đêm: u mọi, bỏ khăn, chờ xe taxi qua cộng số xe theo bài cào để  định hơn thua  mà thay phiên nhau cổng. Tuổi thơ của tôi ở Khánh Hội, Saigon” là vậy đó.

    Ăn hàng vặt ở Saigon thì muôn hình vạn trạng: Trẻ con được vài đồng mỗi buổi sáng cha mẹ cho là vui rồi, số tiền đó vừa ăn vừa dè sẻn mới có được những trò chơi ở trên (nhất là trò chơi cờ bạc). Vài đồng thì ăn được cái gì hở? một tô cháo huyết, cháo đậu xanh với đường thẻ, cháo lòng. Một gói xôi đậu xanh và dừa nạo, bọc bánh phồng, xôi bắp kiểu Nam, kiểu Bắc, cốm dẹp trộn dừa, bánh mì chang sốt cà, một đỉa cơm tấm bì nhỏ, bánh ướt với một nửa bánh đậu chan nước mắm cay vừa cay vừa hít hà, bánh cuốn thanh trì chờ lâu vì tráng bánh, một tô bánh hoành thánh nước lèo, một đĩa ốc gạo với nước mắm chanh, một đĩa ốc len xào dừa, một tô bánh canh nhỏ, một đĩa bánh tằm bì, bánh bèo bì.

    Chắc tạm đủ, thêm những lặt vặt khác: như kẹo kéo, kẹo đậu phộng kẹp bánh tráng, một chiếc chuối nướng bọc nếp, một chiếc chuối nướng trên lò than, đập dẹp chan nước dừa. Một miếng khô mực nướng, khô cá đuối nướng, khô mực nướng tráng mỏng chấm tương ớt. Một trái cóc chẻ ngâm cam thảo, một trái ổi, một miếng xoài tượng ăn với mắm ruốc hay muối ớt, một miếng khóm ngọt.v.v. Còn chè thì đủ loại: táo soạn, chè thưng, chè trôi nước, chí mà phù, chè đậu xanh, chè đậu xanh bột bán, chè đậu đỏ, sương sa hạt lựu nước dừa, đá nhận chan nước siro, cà rem cây đậu xanh đậu đỏ…v.v.. anh chị nhớ mệt nghỉ.

    Ở Saigon, hàng sách báo tự do mở khắp nơi, nhật báo, tuần báo, nguyệt san, báo Xuân. Nhà sách lớn nhỏ, cho đến những quán sách vỉa hè đông đúc người đọc. Chờ báo Hồng Kông với truyện kiếm hiệp của Kim Dung, tiểu thuyết mới xuất bản của Quỳnh Dao là một trong món ăn tinh thần  đầy lôi cuốn của người dân Saigon. Người Saigon có cách đọc báo thú vị: ăn sáng trong quán cà phê, tiệm nước, hay ngồi vắt vẻo trên xích lô khi không có khách, hay ngồi chồm hổm, hay trên chiếc ghế đẩu thấp tè tè, miệng phì phèo điếu thuốc, đọc ngấu nghiến từng trang báo. Hình ảnh này, có từ hồi nhà văn Phú Đức cho ra tiểu thuyết trinh thám từng kỳ: Châu Về Hiệp Phố. Món ăn tinh thần phong phú đến đổi sau này  mỗi một góc phố Saigon, đều có hiệu sách thuê. Cứ thuê mà đọc khỏi phải mua.

    Sau năm 1954, phong trào văn nghệ phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết, từ báo chí, đến sách vở, tiểu thuyết, truyện dịch. Số nhà văn, nhà thơ tăng lên gấp bội. Nhạc sĩ, ca sĩ cũng vậy, ta có nhiều nhạc phẩm tuyệt vời còn lưu lại đến bây giờ. Phòng trà, quán cà phê ca nhạc bỏ túi, phong trào nhạc trẻ và những danh ca ngoại quốc len lỏi vào tâm hồn giới trẻ: Sylvie Vartan, Francoise Hardy, Christophe, the Beatle, the Animal, Elvis Presley, Pat Boone v.v.

    Chỉ có Saigon mới có những ngày Giáng Sinh thật tưng bừng. Nó đến như ngày vui quốc lễ, không phân biệt tôn giáo, ai cũng vui vẻ đón mừng. Những hang đá làm bằng giấy bồi, những ngôi sao có ren tua thấp sáng báo tin Chúa ra đời, những chiếc thiệp với lời chúc nồng ấm. Phố xá đông nhiều hơn, mua bán nhiều hơn. nhộn nhịp hơn . Dân bát phố đổ ra đường nhiều hơn, chen chân mà đi. Hàng quán lung linh ánh đèn chớp, đóng cửa trễ. Đúng là rộn ràng một nỗi vui. Đêm Giáng Sinh, con đường dẫn đến nhà thờ Đức Bà đông hơn bao giờ hết. Tan lễ rồi, ai vội vã về nhà ăn réveillon thì về, ai muốn thưởng thức phố khuya thì lang thang trên những con đường đang vào cơn ngủ muộn.

    Nhớ nhiều những rộn ràng cả tuần lễ trước Tết, khí hậu êm dịu, mát lạnh. Hàng hóa tuôn về thành phố. Những quầy hàng dưa hấu lớn có, nhỏ có. Gian hàng treo những ngọn đèn khí đá. Cây cảnh, quất tắc, mai, đào đươm nụ chờ đến ngày tết. Hàng quán bánh mứt, pháo đỏ, rượu hồng chưng bày làm tăng nét yêu kiều chào đón mùa xuân mới. Những bài hát Xuân lập đi lập lại trên đài phát thanh không ngừng nghỉ, những phong pháo, hàng vải lụa là mới tinh. Những cánh thiệp xuân treo dài trong sạp báo nhỏ. 

    Đi chợ hoa Nguyễn Huệ là một thú vị, xem người và hoa lấp lánh ánh xuân nồng. Mùa Xuân và Tết làm cho lòng người Saigon, háo hức, chộn rộn chờ đón Tết đến từ rằm tháng chạp, giao thừa, đến mùng 3, đi du xuân khoe áo mới khắp nẻo đường Saigon, đùa vui với tiếng pháo rộn rã liên tục, từ khu phố này đến khu phố khác. Đâu đâu cũng chan hòa niềm vui.. 

    Sài gòn trong tâm tư của tôi không bao giờ xóa hết cho đến khi tôi rời xa Sài gòn năm 28 tuổi và lưu lạc đất khách hơn 40 năm. Tôi nghĩ, anh chị dầu là người Bắc, người Trung, người Hoa đã sống ở Saigon, tâm hồn anh chị thế nào cũng chất chứa nỗi nhớ nhung Saigon. 

    Không phải chỉ tổng quát Saigon, mà từng con đường, từng khu phố, ngõ hẻm, từng công viên, từng chiếc lá me, lá chuồn chuồn tung bay trước gió, từng khu chợ, từng món ăn chơi trên vỉa hè, món chè món cháo không nơi nào mà không lưu dấu chân kỷ niệm của các anh chị về những địa danh quen thuộc: Đa Kao, Phú Nhuận, Tân Định, Chợ Cũ, Bàn Cờ, Xóm Chiếu, Khánh hội, Vĩnh Hội, Tân Thuận, Bình Tây, Chợ lớn, Phú Lâm, Cầu kho, Đồn Đất, Ba son, Bến Bạch Đằng, Bến đò Thủ Thiêm, Chợ Đũi, Chợ Quán, Ngã Sáu, Ngã bảy, Ngã tư Bảy Hiền, Phú Thọ, Phú Nhuận, Hàng Xanh, Ngã ba Chú Ía.v.v.

    Làm sao quên được tiếng rao hàng lanh lảnh giữa đêm. Tiếng mì gõ ở cuối ngõ. 

    Tiếng súc sắc tẩm quất. Tiếng gánh hàng kẽo kẹt giữa đêm về sáng. Tiếng chân ngựa thồ gõ từng nhịp bước trên đường phố. Rất thú vị bước lang thang độc hành dưới ánh đèn đường héo hắt khi thành phố Saigon đang yên giấc, ngủ vùi trong đêm. Nhớ câu hát: Nửa đêm lạnh qua tim, phố đã vắng thưa rồi, có người mãi đi tìm một người không hẹn đến, mà tiếng bước buồn thêm…thấm thía và nhớ nhiều về Saigon nếu ai đó đã từng lang thang giữa đêm khuya

    Ngày xưa, anh chị còn nhớ, khi tan trường về, nhìn những tà áo dài trắng và chiếc nón lá của nữ sinh phất phơ trước gió. Từng nhóm nhỏ, họ đi bộ hay xe đạp về hướng trung tâm thành phố như những cánh bướm trắng yêu kiều bay từng đàn nhỏ trên cánh đồng xanh và chỉ một thoáng sau đó, có vài giờ, những tà áo trắng ấy tan biến đi trong ngày nắng vội.

    Sài Gòn ôi đẹp làm sao những giờ phút ngắn ngủi đó. Lúc xưa nó ở quanh ta, mà giờ chỉ còn là hoài niệm. 

    Sài gòn nay vắng bóng những tà áo dài trắng yêu kiều  phất phơ ngoài Phố. Saigon vĩnh viễn mất đi hình tượng ấy rồi .

    Sài Gòn ngày ấy vẫn còn vương vấn mãi không biết cho đến bao giờ. 

    Bây giờ đã ngoài 70, mà ký ức xa xưa vẫn còn lãng vãng đâu đây.

    Tất cả tâm tình như đã gửi gắm ở phần trên kích động trong tâm tôi.

    Tôi phải làm gì đây để khơi lại những gì liên hệ đến Thành Phố Saigon này?

    Có những ngày trong căn phòng vắng, ngoài trời mưa lê thê không buồn trôi, ngồi thả hồn nhớ lại một Saigon xa xưa mà giờ đây chỉ còn là hồn thu thảo, bóng tịch dương và tôi viết bài này từ những gì tồn đọng trong ký ức của tôi với hy vọng gợi lại những lưu dấu về Saigon trong anh chị, cùng để lòng tràn dâng một niềm nhớ Sài Gòn dấu yêu.

    Ôi Saigon của tôi ! 

    Xin anh chị dành một phút suy tư về một nơi chốn đã chìm dần vào một bóng tối thăm thẳm của niềm nhớ. Phải chăng Saigon xưa chỉ còn hư ảo ? 

    Mà thật, Saigon bây giờ khác, khác hơn Saigon xưa nhiều.. nhiều lắm.

    Thân thương

    Lê Minh Đức (YK67-74)

    (Phan Nữ Lan chuyển từ bạn)

  • ÁO TRẮNG ĐỒNG KHÁNH XƯA

    Thơ Huệ-Tâm

    Nhạc Mộc Thiêng

    4 cô nữ sinh Đồng Khánh Huế nhà Lê thị Tường Vân đi học về, ngõ gần cầu Bến Ngự – ngược phía trên là Nam Giao (năm 1969).

    ÁO TRẮNG ĐỒNG KHÁNH XƯA

     Áo trắng hôm nào em qua  đây
    Mượt mà buông thả mái tóc mây
     Thanh thanh dáng ngọc đôi guốc mộc
     Nón lá chao nghiêng thoảng hương bay.

    Sân trường Đồng Khánh lá rơi đầy
    Tường vôi hồng thắm rợp bóng cây
    Thướt tha áo trắng tay ôm cặp
    Em vào lớp học mắt thơ ngây.

    Một sớm mai nào Huế vào thu
    Hương giang huyền ảo đậm sương mù
    Đường xưa thức giấc, giờ tan học
    Nặng đò Thừa Phủ, nhẹ tiếng ru.

    Mấy nhịp Trường Tiền cầu xưa ấy
    Áo trắng đi về gió heo may
    Em có biết chăng tôi vẫn đợi
    Ngắm nhìn tà áo trắng tung bay…

              Huyền Tôn Nữ Huệ-Tâm

                        Huế, tháng 8, 2010

    (Trích tập thơ Hương Cuộc Đời, NXB Đà Nẵng 2011)

    Mời nghe bài hát:

    Hình lớp ĐỆ NHỊ C2 ĐỒNG KHÁNH HUẾ NK 1967– 1968 là lớp của Huệ Tâm
    (Thu Hương đang ôm HT)
    Hình lớp ĐỆ NHỊ C2 ĐỒNG KHÁNH HUẾ NK 1967– 1968 là lớp của Huệ Tâm (HT ngồi ở vị trí 1 trái sang)

    .

  • Thơ ĐỜI ÔNG GIÁO GIÀ

    Cứ mỗi lần đến ngày 20/11 hằng năm tôi lại tìm bài thơ của Cụ Văn Thần-Lê Đình Phu (1900-1989) để mà nghiềm ngẫm bài thơ xưa vì bây giờ mình cũng đã trở thành ông giáo già rồi.

    Tôi vui mừng được hội ngộ với bài thơ ĐỜI ÔNG GIÁO GIÀ của thầy giáo Lê Đình Phu đã từng dạy tại trường Trung Học Nguyễn Tri Phương (Huế) thân sinh của thầy giáo Lê Đình Châu (T-HTK), bạn thân của tôi!

    BS Trần Đức Thái (cùng thế hệ với thân hữu khóa HTK, cựu HS Nguyễn Tri Phương 63-70)

    Đời ông giáo già

    Ngày xưa có kẻ từ quan
    Lui về quê quán sửa sang ruộng vườn
    Sông mê, bể hoạn chán chường
    Ra đi lòng chẳng vấn vương chút nào.
    Phong phiêu phiêu
    Châu diêu diêu
    Gió lay tà áo, thuyền xuôi mái chèo
    Người xưa xử thế thanh cao
    Tới lui đúng lúc, ra vào đúng khi
    Ta thời chẳng bận nghĩ suy
    Yêu nghề, mến trẻ không gì đắn đo
    Ba mươi năm khoác áo thầy đồ
    Vui nơi trường ốc già nua mới về
    Giao du sẵn có bạn bè
    Túi thơ bầu rượu đề huề gió trăng
    Giang hồ ai dám đón ngăn
    Bổng hưu ta rút lần lần mà tiêu
    “Kẻ có rương vàng lo sợ thiếu
    Mình trong Kho Bạc mãi luôn còn”
    Bác Thảo Am ơi, bác Thảo Am
    May đâu dưới đó bác còn lãnh hưu
    Dinh hư sự thế đáo đầu
    “Lạc phù thiên mạng” sầu tư ích gì.

    *

    Lui về sang sửa mảnh vườn xưa
    Tùng cúc nhường ngôi dãy sắn dưa
    Đu-Đủ, đủ dùng còn đủ biếu
    Mảng-Cầu, cầu đủ chẳng cầu thừa

    Bốn mùa rực rỡ màu hoa phượng
    Ba mặt sum sê cánh lá dừa
    Cái kiếp phong lưu còn nặng nợ
    Lân la rượu sớm với trà trưa.

    1978

    Văn Thần Lê Đình Phu (1900-1989)

    Bài thơ này trích trong Thi tập Tuyết Xưa của cụ Văn Thần, viết sau năm 1975. Cụ Lê Đình Phu là thân phụ người bạn rất thân của tôi là thầy giáo Lê Đình Châu. Những năm cuối đời của cụ, tôi thường lui tới thăm cụ và nghe cụ đọc thơ, bài thơ Đời Ông Giáo Già là một trong những bài thơ mà tôi tâm đắc. Nội dung của bài thơ rất phù hợp với tâm trạng của tôi bây giờ. Cụ Văn Thần là thầy giáo của nhiều thế học trò từ thời Pháp thuộc, cụ về hưu khá sớm. Trước năm 1975 cụ còn lãnh lương hưu, nhưng sau năm 1975 cụ không còn được lãnh lương hưu để sinh sống, nên trong bài thơ có đoạn cụ viết về tình cảnh đó.

    Có lần tôi hỏi cụ: Sao ôn lại lấy bút hiệu là Văn Thần. Cụ giải thích Văn Thần chỉ là bầy tôi của văn chương mà thôi.

    Trần Đức Thái