• Vì sao có đông người Việt ủng hộ Putin?

    Vì sao có đông người Việt ủng hộ Putin?

    05:26 | Posted by BVN1

    Thiếu tướng Công an Đặng Văn Dũng

    Trong số các nước có hoàn cảnh địa chính trị giống Ukraina thì VN là giống nhất: chỉ cần nghĩ đơn giản Trường Sa giống bán đảo Crưm (Crimea), Lạng Sơn, Quảng Ninh giống Donetsk và Lugansk là thấy rõ. Trong hoàn cảnh địa chính trị tương tự, các nước như Finland (Phần Lan – tôi không muốn gọi bằng cách dịch của Tàu), ba nước Baltic, Azecbaizan, Hankok, Taiwan đều lên tiếng ủng hộ Ukraina kiên quyết nhất. Một nước theo đuôi TQ là Cambodia cũng lên án Russia (Nga) với lý do đơn giản là “có cùng một vị thế địa chính trị”. Nhà nước VN với những tính toán thực dụng của riêng mình (đúng sai còn cần bàn thêm) đã bỏ phiếu trắng. OK, đây là cân nhắc của lãnh đạo hiện nay. Điều đáng bàn ở đây là báo chí, khá nhiều người Việt có học và ít học lại ủng hộ điên cuồng Putin. Sao vậy ta?!

    Nhiều người giải thích:

    – Là do có nhiều người học ở LX (Liên Xô) về, coi LX là siêu tổ quốc, coi Putin là người kế thừa LX nên ủng hộ bất chấp đúng sai.

    – Nhiều người nhớ ơn LX đã giúp vũ khí, mì hột trong thời chiến tranh VN nên vẫn ủng hộ Putin.

    – Nhiều người ghét USA, Phương Tây nên ủng hộ Putin

    – Nhiều người chỉ theo dõi tin trên báo, TV, đài mà các thứ đó phần lớn đưa tin theo thông tấn Russia đưa tin có lợi cho Putin nên ủng hộ Putin.

    Tóm lại có đủ lý do cho những người hoài niệm quá khứ ủng hộ Putin. Họ không chỉ là người già; họ có thể còn trẻ và được đào tạo rất đầy đủ theo bài bản của thầy Nhạ, thầy Sơn và nếu họ làm việc trong Hệ thống chính quyền thì số lượng ủng hộ Putin rất đông đảo.

    Trong ngôn ngữ những người này luôn là phạm trù khôn – dại, chống lại Russia là dại, theo EU, NATO, theo USA là dại, theo Putin là khôn. Putin lúc nào cũng sáng suốt, luôn làm cho NATO, USA bất ngờ choáng váng. Nhiều lúc nghe họ nói cứ tưởng đang nghe dư luận viên của ĐCS TQ.

    Trong ngôn ngữ của họ không có đau thương mất mát của Ukraina. Ukraina là phát xít, Tổng thống Zelensky là “thằng hề”, người dân Ukraina, nền chính trị dân chủ Ukraina không được tính đến.

    Một số người trong bọn họ lên giọng yêu hoà bình, chống chiến tranh nhưng ẩn sau ngôn từ của họ là mưu đồ thâm độc hướng tới ủng hộ Putin. Theo họ có chiến tranh “là do Ukraina không chịu theo Nga (Russia)”(?!)

    Hay thật!

    Họ là ai?!

    Họ có thể là người quen biết của chúng ta, có thể là bạn học, đồng nghiệp, hàng xóm, anh em, bạn thân thiết, người từng được chúng ta kính trọng, có người từng cao giọng phê phán những bệnh trạng của xã hội, cao giọng chống tham nhũng, mong muốn có những thay đổi theo hướng công bằng, dân chủ hơn, có người từng tức giận trước sự chèn ép của TQ đối với VN.

    Thì đủ cả, tất tần tật.

    Vì sao họ lại lên đồng tập thể trước một cuộc chiến tranh xâm lược hiển nhiên của Putin?! Sinh ra ở một đất nước đã từng tan nát vì các cuộc chiến tranh xâm lược của nước ngoài, cả TBCN và XHCN, mà họ không hề động lòng trước cảnh tên lửa tới tấp nã vào các thành phố văn minh xinh đẹp, không hề động lòng trước cảnh hàng triệu người rời bỏ nhà cửa tìm nơi tị nạn!?

    Cái gì đã làm cho họ mù quáng, nhẫn tâm và vô cảm như vậy?! Rõ ràng là tên lửa, siêu tên lửa của Russia bắn vào các thành phố của Ukraina, 20 vạn quân Putin tràn vào lãnh thổ Ukraina mà họ nhơn nhơn bảo rằng “tại thằng hề Zelensky” (?!) Có lúc tôi đã phát khùng bảo lại: “Từ nay ai gọi một vị tổng thống đáng kính trọng được dân bầu là ‘thằng hề’ tôi sẽ tự cho mình quyền gọi lại nó là ‘đồ chó má’!”

    Hay thật!

    Nếu hỏi một người trong bọn họ:

    – Vì sao anh ủng hộ Putin ?!

    Anh ta sẽ ấp a ấp úng hoặc im lặng không trả lời.

    Họ ủng hộ Putin vì yêu Lenin, yêu LX, yêu CNXH chăng?!

    Putin thì liên quan gì đến LX, đến CNXH?! Putin là kẻ sỉ vả Lenin nhiều nhất vì đã để mất Finland, mất vùng Baltic, mất Poland (Ba lan)… và để cho nhiều dân tộc trong LX được hưởng quy chế dân tộc.

    Họ ủng hộ Putin vì LX trước đây từng ủng hộ, giúp đỡ VN trong chiến tranh chăng?! Cái đó liên quan gì đến Putin và trong việc ủng hộ của LX cho VN trước đây thì người Ukraina ủng hộ nhiều nhất nếu tính tỷ lệ theo đầu người !

    Có vị bí nên nói: – Tôi ủng hộ Putin vì Putin đã xoá khoản nợ 10 tỷ usd VN nợ LX. Xin thưa, khoản nợ 10 tỷ đó là tính lại với giả định đồng rub bằng usd thôi chứ thực ra đó là khoản nợ vật chất không tính cụ thể được trong đó có cả hạt bo bo. Vả lại khoản nợ đó là không đòi được và VN đã trả lại bằng cách cúc cung tận tụy như một đồng minh trung thành của LX trong một thời gian dài, bám theo đường lối chính trị của LX trên mọi diễn đàn quốc tế.

    Tôi nghĩ động cơ thúc đẩy những người ủng hộ Putin mù quáng có thể xem xét ở những góc độ sau:

    1. Não trạng hai phe thời chiến tranh lạnh. Do được giáo dục một thời gian dài theo não trạng phe ta – phe địch nên thực chất những người này lúc nào cũng tìm kiếm “phe”; không có “phe” họ cảm thấy bất an, bơ vơ. Họ hiển nhiên coi Putin, Russia là “phe ta” vì kế thừa LX, kế thừa CNXH, cho dù Russia bây giờ là nước tư bản không khác gì những nước tư bản khác. Thậm chí, họ coi Putin như một kiểu “lãnh tụ sáng suốt” của “phe ta.

    2. “Mối hận thù rừng rú” đối với Phương Tây. Có một số người luôn coi Phương Tây là kẻ thù, luôn ghét Phương Tây như các vị văn thân ngày xưa thù ghét Đạo Thiên Chúa mặc dù ngày nay Phương Tây đã hoàn toàn khác trước và sinh hoạt chính trị quốc tế ngày nay là sáng tạo của Phương Tây. Một số người ghét Phương Tây vì đố kỵ với Phương Tây tiến bộ, giàu có (thậm chí ghét Phương Tây vì muốn sang Phương Tây mà chả có cơ hội); một số người ghét Phương Tây vì ngưỡng vọng mù quáng quá khứ và các giá trị văn hoá Phương Đông. Thật buồn là điều này xảy ra khi thịnh vượng của đất nước ta xảy ra nhờ ở sự hợp tác với Phương Tây và đi theo trào lưu tiến bộ do Phương Tây khởi xướng. Rõ ràng người Việt khác xa người Nhật, người Hàn. Do Putin đối đầu với Phương Tây nên đương nhiên họ ủng hộ.

    3. Một nhân sinh quan lệch lạc do não trạng địch – ta. Do không thoát khỏi não trạng phe địch – phe ta nên họ có một thứ nhân sinh quan lệch lạc: ta luôn luôn đúng, địch luôn luôn sai, ta tử tế, địch phát xít, ta tốt đẹp, địch xấu xa, ta khôn ngoan, địch ngu dốt … không may Ukraina thuộc về phe địch nên có thể gán cho họ đủ thứ nào là phát xít, nazi, nào là diệt chủng, phản bội… Phe ta tốt đẹp nên Putin sáng suốt, có lẽ phải, nên Tổng thống Zelensky bị gọi là “thằng nọ”, “thằng kia”; nào là “Putin bảo vệ hoà bình thế giới” … Khổ thân Ukraina vừa bị đánh tơi tả vừa bị các vị này lên án là hiếu chiến, gây chiến. Vì Ukraina thuộc phe địch nên họ dửng dưng trước những cảnh tang thương của một đất nước xinh đẹp, dửng dưng trước cái chết vì bom đạn, tên lửa của người Ukraina, một dân tộc yêu chuộng hoà bình; họ dửng dưng như đã từng dửng dưng trước hai triệu thuyền nhân vượt biển người Việt trước đây.

    4. Bày tỏ lòng trung thành. Trước ngôn từ của những kẻ lên TV dẫn dắt dư luận như Lê Văn Cương, Lê Thế Mẫu, Lê Ngọc Thống… và đám báo chí chính thống, họ cho rằng chính quyền nước ta ủng hộ Putin nên họ gào lên, “bảo hoàng hơn vua” để bày tỏ lòng trung thành.

    Thực ra Nhà nước ta không đứng về phe nào trong cuộc xung đột này và lập trường rõ ràng của VN là hai bên phải đàm phán giải quyết xung đột bằng biện pháp hoà bình; hiến chương LHQ, quyền dân tộc tự quyết và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia phải được tôn trọng. Rất nhiều người có lương tri trong và ngoài chính quyền cũng đã từng lên tiếng bảo vệ lẽ phải. Nói như Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Còn nếu để Ukraine thất bại thì công lý thất bại, hòa bình thế giới thất bại và đây là điều không ai chấp nhận.”

    Thế thôi !

    Ngày 04/04/2022

    Đ.V.D.

    Nguồn: FB Nguyễn Đình Bin

  • “THƯƠNG TIẾC”: NGƯỜI VÀ TƯỢNG

    Bài của Nguyễn Ngọc Chính

    Kiến trúc sư kiêm điêu khắc gia, Đại úy NGUYỄN THANH THU (1934-2025), một nhân vật nổi tiếng với bức tượng “Thương Tiếc” đã ra đi ngày 06/05/2025 ở tuối 92 tại Sài Gòn.

    Dấu tích của bức tượng “THƯƠNG TIẾC” (nằm tại lối vào Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa) đã tan biến trong “lò nấu đồng” sau Tháng 4/1975 khi Sài Gòn sụp đổ. Tuy nhiên, hình ảnh ngày nào của nó sẽ còn đọng lại trong ký ức của những người Sài Gòn xưa đã có dịp chiêm ngưỡng trên đường vào thành phố!

    Rất nhiều câu chuyện đã trở thành “huyền thoại” về bức tượng “anh lính cô đơn” với khầu súng nằm trên đùi nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Người ta kể rằng vào những buổi chiều mờ sương, anh lính rời bệ đá, đi lững thững xuống con suối gần đó để uống nước. Có người còn nói, anh có lúc đã đứng dậy cầm bidon đi “xin nước” người qua lại!

    Có một câu chuyện hoàn toàn không mang tính “huyền thoại” mà ta tạm gọi là “Hai ly… một người” được kể lại khi điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu được lệnh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tạc một bức tượng tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, một công trình mang tầm vóc quốc gia nói lên lòng tri ân của mọi người đối với những chiến sĩ đã bỏ mình ngoài chiến trường.

    Trong thời gian chuẩn bị, anh Thu đã sang Philippines để nghiên cứu về cách quy hoạch nghĩa trang với một đài kỷ niệm dành cho hơn 17.000 quân nhân Hoa Kỳ đã bỏ mình tại đây và các hòn đảo thuộc Thái Bình Dương trong trận thế chiến thứ hai.

    Nghĩa trang có tên gọi là American Cemetery, nằm trên một khu đất rộng 615.000 mét vuông, trồng cỏ xanh rì vây quanh là những hàng cây rợp bóng mát. Điểm xuyết cho nghĩa trang là một vài tượng đài kỷ niệm ghi những dòng chữ tưởng nhớ công ơn những vị anh hùng “vị quốc vong thân”.

    (Năm 2003, tôi đã có dịp đến đây trong một chuyến công tác tại Phi Luật Tân và viếng nghĩa trang tại thủ đô Manilla trong một khung cảnh thật tĩnh mịch nhưng không kém phần uy nghi).

    oOo

    Ngày cuối cùng của một tuần tìm ý tưởng trên đường từ Nghĩa trang Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, anh Thu ghé vào một quán nước gọi ly đá chanh. Và đây chính là giờ phút “định mệnh” khi anh nhìn thấy một người lính thuộc binh chủng Nhảy dù, một mình ngồi trước những chai bia nhưng có tới hai cái ly…

    Anh lính ngồi nói chuyện với cái ly thứ hai trước sự ngạc nhiên của chủ quán lẫn khách uống nước. Hình như anh lính là người vừa thăm bạn được chôn cất tại Nghĩa trang Hạnh Thông Tây. Một ly anh cúng bạn và một ly anh uống. Anh ngồi vừa uống vừa nói chuyện với chiếc ly!

    Cảm động trước hình ảnh một người lính đau khổ khi phải mất bạn, anh Thu cầm ly nước chanh bước qua bàn làm quen. Anh lính ngước lên nhìn anh Thu với vẻ khó chịu vì sự riêng tư của mình bị người lạ làm phiền và tiếp tục trở về với ly bia… “cúng” bạn.

    Anh Thu cũng lúng túng vì thái độ “bất hợp tác” của anh lính nhảy dù. Mấy cô bán hàng lại cười khúc khích, có lẽ các cô nghĩ nãy giờ có một người “điên” ngồi uống bia nói chuyện với cái ly và bây giờ lại thêm người “điên” nữa lân la đến làm quen.

    Người lính tiếp tục gục đầu ngồi độc thoại, phớt lờ những lời xã giao làm quen của anh Thu. Hình như anh lính tưởng bị quân cảnh hỏi giấy nên lẳng lặng móc bóp trình giấy tờ cho anh Thu mà không hề ngước mắt nhìn. Anh tiếp tục uống và độc thoại!

    Anh Thu cầm bóp trở về bàn mình và ghi lại tên anh lính: Võ Văn Hai, cấp bậc Hạ sĩ, binh chủng Nhảy dù, cả tên tiểu đoàn lẫn KBC. Khi anh Thu trả lại giấy tờ, Hạ sĩ Võ Văn Hai nhét vào túi với vẻ bất cần, cũng không thèm ngước mặt nhìn lên.

    oOo

    Lịch gặp Tổng thống vào lúc 9 giờ sáng nhưng vì ông còn đang tiếp khách nên anh Thu trong lúc đi lại trên hành lang dinh Gia Long và bỗng nảy ra câu hỏi “Tại sao lại không vẽ Võ Văn Hai ?”. Nghĩ là làm ngay. Anh tưởng tượng một bố cục dựa trên hình ảnh Hạ sĩ Hai ngồi nhớ bạn tại quán nước.

    Anh trở ngay vào phòng Đại tá Cầm (tùy viên của Tướng Thiệu) chụp một cây bút nguyên tử, lấy trong giỏ rác một bao thuốc lá và rút mảnh giấy bạc bọc bao thuốc trở ra hành lang ngồi vẽ lại hình ảnh Hạ sĩ Hai.

    Một lần nữa, “định mệnh” lại ra tay: Trong các bản vẽ mang theo, anh Thu thấy bản cuối cùng, một “tốc họa” trên bao thuốc lá tại dinh Gia Long, là bản anh ưng ý nhất. Đến khi vào gặp Tổng thống, anh trải các bản vẽ lên sàn nhà trước bàn làm việc, bản vẽ cuối cùng trên bao thuốc anh vẫn còn cầm trên tay.

    Tổng thống Thiệu sau khi đi tới, đi lui ngắm các bản vẽ, ông nói: “Anh là ‘cha đẻ’ của dự án này nên theo ý anh, bức nào làm anh hài lòng nhất?”. Phải nói, anh Thu là người thật thà, chất phác, anh thẳng thắn trình bày: “Thưa Tổng thống, nếu Tổng thống cho tôi chọn lại thì bản vẽ mới đây tôi vừa nghĩ ra và vẽ vội trên bao thuốc lá lại là bản vẽ tôi ưng ý nhất… nhưng tôi sợ mình quá vô lễ để đưa ra tại đây”.

    Tổng thống Thiệu vui vẻ và đồng ý xem “tốc họa” trên bao thuốc lá. Ông cầm bản phác thảo Hạ sĩ Võ Văn Hai về ngồi trên ghế ngắm nghía, một lúc sau ông nói: “Anh Thu à, người nghệ sĩ hay lãng mạn lắm mà chiến sĩ của mình thực tế hơn, họ cần một cái tên cho đề tài, anh cho tôi biết đề tài của bức hình là gì đây ?”.

    Anh Thu lần lượt đề nghị các tên: (1) Khóc bạn, (2) Tình đồng đội, (3) Nhớ nhung, (4) Thương tiếc và (5) Tiếc thương. Cuối cùng, Tổng thống chọn tên “Thương Tiếc” cho bức phác họa Hạ sĩ Võ Văn Hai ngồi nhớ bạn.

    Bất ngờ, Tổng thống yêu cầu anh vẽ một bản thứ hai lớn hơn, vẽ tại chỗ, ngay ở dinh Gia Long. Thế là với dụng cụ giấy vẽ, giá vẽ và các loại màu được cung cấp ngay theo yêu cầu, anh Thu bắt đầu… “ra tay” trước mặt Tổng thống Thiệu và một số sĩ quan thân cận của ông.

    Sau khi Tổng thống Thiệu ký tên vào bức “tốc họa”, anh Thu chỉ có 3 tháng để hoàn tất công trình tượng đài trước ngày 1/11/1967, ngày Quốc khánh của Việt Nam Cộng Hòa. Vấn đề trước mắt là đi tìm “người mẫu” Võ Văn Hai trong quán nước ngày trước tại Gò Vấp. Anh đã tìm đến đơn vị của Hạ sĩ Hai và gặp vị Thiếu tá phụ trách đơn vị.

    Thoạt đầu khi nghe anh Thu trình bày vấn đề, vị Thiếu tá có vẻ băn khoăn, suy tính… nhưng khi thấy tận mắt bức họa có chữ ký của Tổng thống Thiệu, ông lại hãnh diện khi có người lính thuộc đơn vị nhảy dù của mình được chọn làm biểu tượng cho người lính Việt Nam Cộng Hòa tại nghĩa trang…

    Vị Thiếu tá còn ra lệnh cho tập họp đại đội với súng ống đầy đủ để anh Thu chọn “người mẫu”, vì theo ông, trong đơn vị có nhiều người cao to tới 1,7 hoặc 1,8 mét, còn Hạ sĩ Hai chỉ cao chừng 1,6 mét.

    Chỉ có duy nhất hình ảnh Võ Văn Hai ngồi tiếc thương bạn trong quán nước đã ám ảnh anh Thu để sáng tạo ra bức tượng “Thương Tiếc” ngồi trước cửa Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

    Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu có thể hài lòng với công trình nghệ thuật kéo dài 3 tháng của mình. Và chúng ta được chứng kiến pho tượng “Thương Tiếc” ngồi trước cổng vào Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa từ năm 1967 cho đến sau ngày 30/4/1975.

    oOo

    Sài Gòn xưa có xa lộ Biên Hòa là con đường huyết mạch nối liền Sài Gòn với Biên Hoà. Đây là xa lộ đầu tiên tại miền Nam do Hoa Kỳ xây dựng năm 1959 và khánh thành năm 1961. Hãng thầu phụ trách xây dựng xa lộ là RMK-BRJ của Mỹ, họ áp dụng công nghệ hiện đại của thời đó là đổ bê-tông toàn bộ con đường.

    Xa lộ Biên Hòa dài 31 km, rộng 21 m, bắt đầu từ cầu Phan Thanh Giản (nay là cầu Điện Biên Phủ) và kết thúc tại ngã tư Tam Hiệp, Biên Hoà. Khi người Mỹ xây dựng, họ cũng tính đến trường hợp khẩn cấp, xa lộ có thể sử dụng làm phi đạo dã chiến cho các loại phi cơ quân sự.

    Tuy nhiên, chủ đề của bài viết này không nói về xa lộ Biên Hòa mà là Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa nằm phía trái dọc theo xa lộ nếu đi từ Sài Gòn. Ngày nay, nếu có dịp viếng nghĩa trang này, người Sài Gòn không khỏi chạnh lòng trước cảnh điêu tàn, đổ nát của những nấm mồ hoang phế tại đây.

    Được thành lập từ năm 1965 với quy hoạch 30.000 mộ phần, Nghĩa trang Quân đội tính đến năm 1975, đã là nơi an nghỉ của khoảng 16.000 tử sĩ. Trong số đó có hơn 10.000 quân nhân tử trận trong hai chiến trường đẫm máu nhất: Tết Mậu Thân năm 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.

    Dù sao đi nữa, xét về khía cạnh nhân bản, những người sống vẫn còn được an ủi là nghĩa trang chỉ mới đạt một nửa công suất thiết kế. Nếu 30.000 mộ được lấp kín, niềm đau thương sẽ tăng gấp đôi khi cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt.

    Ông cha ta đã có câu rất chí tình: “nghĩa tử là nghĩa tận”. Dù tử sĩ trước khi nằm xuống có khoác áo quân đội miền Nam hay miền Bắc thì họ vẫn là người Việt. Năm 1964, nghĩa trang Quân đội ở Gò Vấp trở nên chật hẹp, không gánh vác được hậu quả của chiến tranh khi những người lính tử trận được đưa về ngày một nhiều.

    Từ những lý do đó, người ta nghĩ đến một nghĩa trang rộng lớn hơn. Ðơn vị Chung sự, chuyên lo hậu sự cho những chiến sĩ đã nằm xuống, cũng có nhu cầu về cơ sở để hoạt động. Kiến nghị được trình lên cấp trên, thông qua hệ thống Cục quân nhu, Tổng tham mưu, Tổng cục Tiếp vận.

    Các sĩ quan Quân nhu, Công binh, Ðịa ốc thuộc Tổng tham mưu đã phải bay trực thăng trên không phận Thủ Ðức, Bình Dương, Biên Hòa, nghiên cứu địa thế thật đẹp dành làm nơi an nghỉ cho các chiến hữu.

    Nhìn từ trên cao, Nghĩa trang Quân đội được xây dựng theo mô hình của một con ong. Đầu ong hướng về phía xa lộ Biên Hòa với mũi kim là con đường đâm ra xa lộ. Từ Cổng Tam Quan có hai con đường dẫn lên Nghĩa Dũng Ðài cao 43m.

    Ðầu ong là đền thờ chiến sĩ, cũng có lúc gọi là Ðền Tử Sĩ hay Ðền Liệt Sĩ. Phía dưới chân đền là Cổng Tam Quan nối thẳng một đường dài ra xa lộ. Con đường này làm thành cây kim nhọn của con ong và đầu kim là bức tượng “Thương Tiếc” ngay bên xa lộ.

    Tử sĩ chôn từ trung tâm Nghĩa Dũng Ðài lần lượt tỏa ra các khu bên ngoài. Ðã có trên 10 tướng lãnh nằm tại nghĩa trang Biên Hòa trong đó người có cấp bậc cao nhất được chôn tại Nghĩa trang là cố Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí.

    Tháng 3/1975, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm lên thăm nghĩa trang và làm lễ đặt vòng hoa tưởng niệm. Không ai có thể nghĩ đây là lần viếng sau cùng của một viên chức cao cấp sau biến cố tháng 4/1975.

    Nghĩa trang có các toán quân danh dự canh gác theo lễ nghi quân cách tại Vành Khăn Tang của Nghĩa Dũng Ðài. Quân nhân từ các quân binh chủng mặc sắc phục được điều động về theo đơn xin khi họ có đủ điều kiện. Với vóc dáng trẻ trung, khỏe mạnh, cao lớn, đoàn quân này được huấn luyện để canh gác và biểu diễn các thao tác nghi lễ như các đoàn quân danh dự tại nghĩa trang Arlington, Hoa Kỳ.

    Thế giới đã có không ít những bài học về tinh thần hòa giải dân tộc qua những giai đoạn lịch sử khác nhau. Hoa Kỳ đã trải qua thời nội chiến phân tranh khốc liệt giữa hai miền Nam-Bắc, kéo dài từ năm 1861 đến năm 1865.

    Khi cuộc nội chiến kết thúc, tử sĩ của cả hai miền đều được an nghỉ bên nhau tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington ở thủ đô Washington DC. Mỗi năm có gần 4 triệu người Mỹ đến viếng Arlington với lòng thành kính biết ơn những người đã nằm xuống cho đất nước đứng lên. Họ hoàn toàn không bị phân biệt liệt sĩ là người của quân đội miền Nam hay miền Bắc.

    Lớp hậu duệ của những người Đức đã bỏ mình trong những trận mưa pháo của hạm đội Hoa Kỳ và Anh Quốc cùng con cháu những chiến binh Anh-Pháp-Mỹ đã gục ngã trước họng súng đại liên của Đức quốc xã trong ngày đổ bộ lên bãi biển Normandy (6/6/1944) hồi Đệ nhị thế chiến… ngày nay đều cùng quay trở về thăm mộ bia của cha ông đến từ cả hai chiến tuyến.

    Tại Trung Hoa, Nghĩa trang Hoàng Hoa Cương của quân đội Tưởng Giới Thạch – trong đó có cả mộ phần của liệt sĩ chống Pháp Phạm Hồng Thái đến từ Việt Nam – vẫn được chính phủ Hoa Lục trùng tu và chăm sóc cẩn thận. Ngày nay nghĩa trang này đã trở thành di tích lịch sử, thu hút một lượng khách du lịch đông đảo. Họ có thể là những người đến tham quan thắng cảnh và cũng có thể là hậu duệ của những tử sĩ đã nằm xuống tại đây.

    Tại Việt Nam, biết bao gia đình có con em phục vụ dưới hai mầu áo khác nhau nhưng mẹ Việt Nam vẫn không hề phân biệt trong những dịp cúng giỗ. Tình cảm thiêng liêng đó đã có từ trước 1975 và tiếp tục duy trì sau ngày Sài Gòn mất tên. Sao chúng ta không mở lòng như người mẹ bình thường đã và đang làm ?

    Tại sao chúng ta không làm được như những dân tộc khác đã làm ? Đối với những người còn sống, chúng ta vẫn có thể phân biệt chính kiến nhưng đối với người đã chết, liệu sự phân biệt đối xử đó có hợp với đạo lý muôn đời của người Việt hay không ?

    Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu đã không chỉ gửi vào bức tượng “Tiếc Thương” kỹ thuật điêu khắc tinh vi, mà còn dồn vào đó cả linh hồn của cả một thế hệ. Đó là một linh hồn không thể nào quên, một linh hồn không chịu cúi đầu trước bi thương của thời đại./.

    Nguyễn Ngọc Chính

    Nguồn: https://t-van.net/nguyen-ngoc-chinh-thuong-tiec-nguoi-va-tuong/

    ***

    NHÀ ĐIÊU KHẮC NGUYỄN THANH THU QUA ĐỜI

    Theo thông báo của gia đình, điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu, tên thật là Nguyễn Văn Thu, vừa qua đời ở tuổi 92. Ông là một nhà điêu khắc nổi tiếng của miền Nam trước 1975, tác giả của bức tượng “Thương tiếc” – tác phẩm được xem là kiệt tác để đời của ông. Bức tượng được đặt tại nghĩa trang quân đội quốc gia Biên Hòa của Việt Nam Cộng hòa nhưng đã bị kéo sập sau khi Sài Gòn sụp đổ.

    Sau năm 1975, ông Thu phải trải qua tám năm tù cải tạo ở trại tù Hàm Tân. Đến khi được trả tự do, ông Thu đã tìm mọi cách để vượt biên và cuối cùng cũng định cư tại Mỹ. Ở đây, ông mong được phục dựng lại bức tượng “Thương tiếc” thứ hai nhưng không thành. Sau chừng 15 năm ở Mỹ, ông quay về Việt Nam.

    Nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu còn là tác giả của bức tượng An Dương Vương ở ngã sáu Chợ Lớn và một số bức tượng nổi tiếng thời Việt Nam Cộng hòa như “Ngày về”, “Chiến sĩ vô danh”, “Quyết thắng”.

    #BBCTiengViet

    ***

    Giờ đây, Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu còn một tượng đài nằm ở Ngã sáu Chợ Lớn, đó là tượng đài An Dương Vương được ông thực hiện năm 1966. Chính quyền hiện tại vẫn để sử dụng, nhưng tránh nhắc tên ông, một Đại úy Việt Nam Cộng Hòa là tác giả. (trích báo Saigon nhỏ)

    Tượng đài An Dương Vương xây dựng năm 1966 ở ngã sáu Nguyễn Tri Phương – vòng xoay lớn tiếp giáp quận 5 và 10 được tu sửa, phục dựng nguyên trạng.

    Tượng đài An Dương Vương tay cầm nỏ, đặt trên đỉnh cột cao khoảng 50 m, nằm ở phần lõi vòng xoay kết nối ba trục đường chính gồm Nguyễn Tri Phương, Ngô Gia Tự và Nguyễn Chí Thanh. Phần cột có kiến trúc Hy Lạp và La Mã cổ, phía dưới là bốn bức tượng con nghê, hướng nhìn ra các tuyến đường xung quanh. Sau 56 năm, khu vực tượng đài xuống cấp, nhất là ở phần chân với các mảng tường bị bong tróc, ố đen; nhiều vị trí nền đã bị lún nứt… Năm 2019, UBND TP HCM đồng ý cho tu sửa, tôn tạo công trình này theo đề xuất của Sở Văn hóa và Thể thao.(VnExpress.net)

    Tượng đài An Dương Vương khi chưa tu sửa. Ảnh: Minh Hoà
    Trên đỉnh cột có bức tượng An Dương Vương tay cầm nỏ. Công trình do Binh chủng Công binh Việt Nam Cộng hòa thực hiện vì họ xem An Dương Vương là “thánh tổ” của lực lượng. Trong hình là hình ảnh tượng trước phục dựng, tượng được xây dựng năm 1966. (Trích https://plo.vn/tphcm-tu-sua-phuc-dung-tuong-dai-an-duong-vuong-post678300.html)

    Tượng đài An Dương Vương sau khi tu sửa, phục dựng:

    Tượng chính, cột tượng và các tượng nhỏ phía dưới được phủ sơn trắng. Tuy nhiên phần đế và tiểu cảnh bồn hoa chưa được xử lý đồng bộ. Ảnh: KIÊN CƯỜNG (Trích từ https://plo.vn/tuong-dai-an-duong-vuong-o-tphcm-sau-khi-duoc-tu-sua-phuc-dung-post700317.html)
    Khi người dân dừng đèn đỏ sẽ ngắm rõ hơn tượng An Dương Vương cầm nỏ sau khi được tu sửa, phục dựng đẹp hơn. Ảnh: KIÊN CƯỜNG (Trích từ https://plo.vn/tuong-dai-an-duong-vuong-o-tphcm-sau-khi-duoc-tu-sua-phuc-dung-post700317.html)

     

     

     


  • Một số hình ảnh ngày thứ ba Hội khóa Pleiku 2025

    Tham quan “Đôi mắt Pleiku” – Biển hồ Gia Lai:

    Thăm chùa Minh Thành:

    Tiệc chia tay tại nhà hàng Thiên Thanh:

    Đoàn Huế lên đường về Huế lúc 11h và về đến Huế an toàn lúc 22h.

    Đoàn Đà Nẵng về Quy Nhơn nghỉ lại đêm, hôm sau cà phê sáng với thân hữu tại Quy Nhơn, sau đó lên đường về lại Đà Nẵng anh toàn.

    Đoàn Sài Gòn còn vui chơi ở phố núi chiều 10/4: Chiều cuối HK Pleiku 2025 (10/4), Đoàn SG rong chơi, thư giãn ở Công viên Diên Hồng ngay trung tâm TP. Pleiku; và thưởng ngoạn cà phê ở Vương Cát Coffee & Tea cạnh đó mà chủ nhân là cô Đoàn Hồng – một thân hữu Pleiku. (Lê Bân)

    Nguồn hình ảnh từ FB các bạn: Diệu Hòa, Lê Bân, Nguyễn Quang Mười, Tôn Nữ Lan Hương, Nguyễn Duy Dẫn, Lê Đình Châu, Trần Dư Sinh, Đặng Ngọc Thanh Hải,…

    ***

    Về thấu Sài Gòn vẫn còn nhiều cảm xúc lâng lâng:

    Anh Nguyễn Quang Mười viết:

    Du Hành Pleiku trở về!

     Chia tay phố núi, trở lại SG sau 22g đêm: Hà và Mười cùng các anh chị Triệu – Nhung- Lâu Cúc và chị Bê xuống bến xe Miền Đông.

       Vừa dọn sơ chiến lợi phẩm sau 5 ngày vừa nghe ngóng Về Tới Chốn của các anh chị. Được thấy nhiều nhà đã lên tiếng bình an. Dư âm của chuyến đi nhiều dấu tích nên còn lâng lâng P.A- BPL- DH …còn tiếp post hình ảnh, clip, và để lại comment. Hy vọng anh BPL về đến nhà sau buổi trưa để cho trọn chuyến đi riêng anh 6 Đêm 7 Ngày!

        Mong các anh chị tìm lại cảm giác cũ tại nơi mình ở và không buột miệng Lạ Nhà… Mười đã nói nhỏ có một số các anh chị nghe: SG đăng cai và tổ chức tại Pleiku Thành Công Ngoài Mong Đợi – Đối với Biệt Đội SG gần 3 ngày cùng ngồi xe với nhau với quảng đường xấp xỉ 1.500km đùa vui đã quên đi cái tuổi U80; chuyến đi như sợi giây gắn chặt các thành viên Biệt Đội với nhau và còn lan tỏa với các cựu SV cùng thời. – Tổ chức đi tiền trạm, ăn uống, nghĩ và dừng chân …chu đáo quá. – Pleiku May Mà Có Em…ơn nghĩa cho thiên chức nhà giáo đậm sâu, có những học trò thành đạt và nặng tình như cô Hồng, Hợp, Liên – Lộc, Định – Tuyết… đắc lực xắn tay cùng thầy cô Hội khóa, mới thấy câu Bách Niên Chi Kế Mạc Như Thụ Nhân quá đúng. Qua đó mới thấy các thầy cô nơi đây để lại dấu ấn Nhà Giáo như anh Nho – chị Giáng Hương, Tường Vân và anh Lân có học trò miền xuôi đi khai phóng Thành công quá cũng là áp lực cho Đà Nẵng 2026, mình nghĩ có tiền cũng khó mua được. Hà – Mười rất hân hạnh được tháp tùng là thân hữu của hội khóa Pleiku Xa Rồi Mà Nhớ Hung.

    ***

    Đúng rồi,anh @Nguyenquangmuoi ơi !

    Thầy giáo @Lân SĐ-HTK  cũng lưu lại hương thơm trong lòng học trò cũ.

    Em Định hiện là GĐ Sở Giáo dục Gia Lai, đã thương Thầy, quý Thầy, nhờ A Khả Nho chuyển lời mời cả Nhóm ăn buổi tối, mà tưởng chửng như buổi tiệc đặc sản (nhiều chị em không dám ăn).

    Anh Lân có học trò cũ “hiếu thảo”, cả nhóm hướng ké. Lời nói tâm tình của Định rất dễ mến và tỏ vẻ tôn trọng khách mời làm mình vui lòng. Cảm ơn anh Lân nhé 😃 (Diệu Hòa)

    **

    Hội khoá rất vui được đón nhận tình cảm thật đẹp của Chị Phương @Phuong Truong  và ac Lê Đình Bì& Ngô Thị Tình với ace Hội khoá. Rất mong các ac tiếp tục tham gia các HK kế tiếp để gắn kết tình thân của các ace đã có duyên gặp nhau và giao lưu thật vui 💖(Diệu Hòa)

    **

    Phương Trương cám ơn hội khóa ĐHSP nhiều lắm

    5 ngày đầy ắp tình thân, thêm bạn nhiều niềm vui gom góp thêm nhiều bài học

    Chúc các thầy cô các anh chị em và gia đình luôn nhiều sức khỏe hạnh phúc may lành

    Về nhà bình an rồi

    Thank you

    I love you all

  • Một số hình ảnh đêm Văn nghệ lửa trại – Hội khóa Pleiku

    Một sinh hoạt rất ý nghĩa, đậm chất văn hóa Tây Nguyên và mọi người cùng vui hết mình.

    Nguồn: FB các bạn Diệu Hòa, Tôn Nữ Lan Hương, Nguyễn Văn Dòa. Lê Đình Châu, Trần Dư Sinh, Nguyễn Duy Dẫn, Tôn Nữ Thị Định, Lê Khắc Phương Anh,…

  • Một số hình ảnh ngày thứ hai – Hội khóa Pleiku 2025

    Tham quan Măng Đen – một Đà Lạt thu nhỏ tại huyện Kon Plông, Kon Tum:

    • Từ FB Nguyễn Văn Dòa

    Đến Hồ Damri và ăn trưa tại nhà hàng Damri:

    Thăm Chùa Khánh Lâm :

    Thăm Nhà Thờ Gỗ ở tp Kontum:

    Nguồn: Từ FB các bạn: Bành Phi Lân, Nguyễn Hữu Dung, Nguyễn Duy Dẫn, Lê Khắc Phương Anh, Anh Nguyễn Hải, Đặng Ngọc Thanh Hải, Đặng Thanh Nhã, Nguyễn Văn Dòa, Lê Đình Châu.

  • Đứng ở ngã tư đường chúng ta phải đối mặt với câu hỏi tại sao nước Mỹ chọn một người TT chiến đấu

    Nếu bạn đánh giá một nhà lãnh đạo bằng cảm xúc, bạn sẽ bị lừa. Hãy phán xét họ bằng sự hy sinh, và sự thật sẽ trở nên rõ ràng.

    Chỉ sau 100 ngày, chúng ta đừng để cho kẻ thù của chúng ta làm chệch hướng và khiến chúng ta quên đi lý do tại sao chúng ta đã bầu Donald J. Trump!

    Mọi quốc gia vĩ đại đều phải đối mặt với ngã ba đường:

    Không phải bằng lời thì thầm — mà bằng một sự lựa chọn lớn đến mức làm rung chuyển mặt đất dưới chân chúng ta.

    Đứng trước ngã ba đường chúng ta phải chọn lựa.

    Và câu chuyện thực sự đằng sau sự lựa chọn đó không phải là về chính trị. Mà đó là việc ai đã giám hy sinh tất cả để làm những điều không ai dám làm.

    Joe Biden đã dành gần 50 năm ở Washington.

    Ông ấy mỉm cười.

    Ông ấy đã đưa ra những lời hứa.

    Ông ấy đã thành thạo nghệ thuật sinh tồn.

    Năm 2009, ông trở thành Phó Tổng thống, một trong những người nghèo nhất trong quốc hội.

    Ba thập kỷ tại vị… và ông ấy vẫn chưa xây dựng được sự giàu có thực sự.

    Nhưng sau khi rời Nhà Trắng vào năm 2017? Đột nhiên, ông ấy trở thành triệu phú.

    Không có phát minh nào.

    Không có doanh nghiệp nào.

    Không có sự hy sinh thực sự.

    Chỉ có bài phát biểu.

    Chỉ có quyền truy cập.

    Chỉ có những thỏa thuận thầm lặng đằng sau hậu trường.

    Joe Biden đã không đấu tranh cho người dân Mỹ.

    Ông ấy đã bán đứng họ – qua từng cái bắt tay một.

    🔥Donald Trump thì khác.

    Khi ông bước vào Nhà Trắng, ông không cần sự chấp thuận của Washington.

    Ông không cần chính trị để làm giàu.

    Ông đã giàu rồi Và khi ông rời nhiệm sở?

    Ông nghèo đi gần 1 tỷ đô la.

    Ông đấu tranh không phải để làm giàu cho bản thân mà để giữ lời hứa với nước Mỹ.

    🔥Ông đối mặt với giới truyền thông, nhà nước ngầm, giới tinh hoa toàn cầu, thậm chí cả các thành viên trong chính đảng của mình — và ông không bao giờ lùi bước.

    Đó là lý do tại sao sự lựa chọn trở nên rõ ràng như vậy.

    🔥Khi đến lúc phải lựa chọn giữa một chính trị gia chuyên nghiệp và một chiến binh dày dạn kinh nghiệm, nước Mỹ đã chọn người sẵn sàng hy sinh mọi thứ vì đất nước mà họ yêu quý.

    🔥Nhưng để hiểu được sự lựa chọn đó đòi hỏi phải nhìn thấy toàn bộ sự thật.

    Joe Biden đã hứa sẽ đoàn kết. Ông đã mang đến sự chia rẽ.

    Ông đã hứa sẽ bảo vệ an ninh. Ông đã mở cửa biên giới.

    Ông đã hứa sẽ chữa lành.

    Ông đã khơi dậy nỗi sợ hãi và sự tức giận.

    Khi hậu quả trở nên không thể che giấu được, Biden đã không lãnh đạo.

    Ông đã mỉm cười.

    Ông đã đổ lỗi cho người khác. Ông đã nói dối.

    Biden không phải là một nhà lãnh đạo.

    Ông ta là một nhà kinh doanh, mỉm cười trong khi bán cho bạn một quốc gia đã tan vỡ.

    🔥Donald Trump?

    🔥Ông ta đã nói với bạn sự thật xấu xí ngay từ đầu.

    🔥Ông ta không hứa hẹn điều kỳ diệu.

    🔥Ông ta hứa sẽ chiến đấu — và ông ta đã thực hiện điều đó.

    🔥Ông ta không ứng cử để được yêu thương.

    🔥Ông ta ứng cử để làm nên hiệu quả.

    🔥Ông ta không rao bán những giấc mơ.

    🔥Ông ta chiến đấu vì hiện thực.

    🔥Lãnh đạo thực sự không phải là sự hoàn hảo. Nó không được tập dượt trước ống kính máy quay.

    🔥Lãnh đạo thực sự phải đổ máu. Lãnh đạo thực sự phải hy sinh.

    🔥Lãnh đạo thực sự phải đặt cược tất cả mọi thứ – và không đòi hỏi bất cứ điều gì đáp lại.

    Joe Biden mỉm cười trước ống kính máy quay.

    🔥Donald Trump đứng giữa biển lửa.

    Biden hứa hẹn để được vỗ tay. 🔥Trump hy sinh để có kết quả. Biden chơi trò chính trị.

    Trump đã chiến đấu.

    🔥Đây là lý do tại sao nước Mỹ chọn Donald Trump.

    Bởi vì khi bạn loại bỏ những bài phát biểu, khẩu hiệu và nụ cười giả tạo, chỉ có một người đàn ông sẵn sàng đánh mất tất cả để chiến đấu vì người dân Mỹ.

    Và đó—không phải đảng phái, không phải cá tính, không phải lời lẽ bóng bẩy — là hình ảnh của một nhà lãnh đạo thực sự.

    🔥Nếu bạn đã đọc đến đây, tôi thách bạn:

    Hãy ngừng phản ứng.

    Hãy bắt đầu suy ngẫm.

    So sánh lời nói với hành động.

    Sau đó, hãy nhớ lý do tại sao chúng ta đưa ra lựa chọn như vậy – và tại sao chúng ta phải tiếp tục đấu tranh để bảo vệ nó.

    (Dịch từ bài viết Michael McCune)

  • Nhân chứng chiến tranh Stephen Young: ‘Nước Mỹ thua bởi một người!’

    Ảnh: Tác giả Stephen B. Young (trái) và bìa sách Kissinger’s Betrayal:
    How America Lost the Vietnam War

    Đúng 50 năm sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, những ký ức về ngày 30/4/1975 vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí nhiều người đã trải qua thời khắc lịch sử đó.

    Với Giáo sư Stephen B. Young, một người Mỹ từng làm việc tại Việt Nam vào những năm 1960-1970, ngày đáng nhớ nhất với ông lại là tròn một tháng trước đó, 30/3/1975.

    “Hôm đó là Chúa nhật, tôi cùng Hòa [người vợ Việt Nam của ông] và hai đứa con đương sơn phết lại ngôi nhà mới mua ở phố Brooklyn, New York,” ông Young kể lại với BBC News Tiếng Việt bằng chất giọng Nam Bộ đặc sệt và cách dùng từ cũ xưa.

    “Lúc đó chúng tôi mở radio nghe nhạc rock and roll, nhưng khoảng độ 3 – 4 giờ chiều thì nhạc ngưng, radio phát là có tin quan trọng từ Việt Nam, nói thành phố Đà Nẵng đã rơi vào tay cộng sản.”

    “Lúc đó tôi coi như là hết hồn, cái đó là một việc trời đánh. Vì tôi biết là nếu Tướng Ngô Quang Trưởng không giữ được Đà Nẵng và Vùng I thì không thể nào mà miền Nam thoát khỏi sự tấn công của cộng sản, của Hà Nội,” ông Young nhớ lại.

    “Nhưng sau đó tôi phải nghĩ đến, thứ nhứt là gia đình của vợ tôi, thứ hai là mấy người bạn ở Việt Nam. Nếu họ ở lại Việt Nam thì tôi chắc chắn là họ sẽ gặp khó khăn, sẽ bị cộng sản đàn áp, cho đi trại cải tạo… thành ra tôi chịu không được.”

    Gia đình của bà Phạm Thị Hòa, vợ ông, ở Hà Đông, nhưng đã vào Nam năm 1954, theo lời mà ông Young nói là đã bỏ nhà cửa, tài sản lại miền Bắc để trở thành một gia đình nghèo nhưng có đầy đủ tự do trong đời sống ở Sài Gòn.

    “Tôi nghĩ là Mỹ không thể bỏ rơi những người như họ, không thể bỏ rơi đồng minh,” ông Young, người từng làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) từ năm 1968-1972, sau đó là Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, chia sẻ.

    Ngay ngày hôm sau, 31/3/1975, ông Young đã đi máy bay từ New York xuống Washington để thuyết phục mấy người bạn đang làm việc cho Bộ Ngoại giao Mỹ và Nhà Trắng, đề nghị họ tổ chức một chương trình đón người Việt Nam di tản.

    Câu chuyện tại Hoa Thịnh Đốn

    Người bạn mà ông Young nhắc tới là ông Parker Borg, khi đó làm Phụ tá cho Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger.

    “Tới Washington, tôi gọi điện thoại cho Parker để nói là tôi cần sự giúp đỡ của anh ấy. Hồi trước Parker và tôi học tiếng Việt chung một lớp tại Vietnam Training Center ở Hoa Thịnh Đốn, trước khi tôi sang Việt Nam làm cho chương trình bình định xây dựng CORDS – Civil Operations and Rural Development Support của USAID”, ông Young kể lại.

    “Parker nhận điện thoại của tôi. Tôi tha thiết khẩn khoản: ‘Parker, tôi cần sự giúp đỡ để tổ chức một chương trình di tản cho người Việt Nam’.”

    “Hôm đó, sau giờ làm việc, Parker đón tôi và mấy anh em đều là phụ tá của ông Ngoại trưởng, có Al Adams, Lionel Rosenblatt và Ken Quinn nữa đến nhà Lionel gần đại lộ Connecticut.”

    “Lúc đầu, đêm đó họ nói với tôi là: ‘Thôi Steve, không làm được, ông Kissinger không muốn làm, ông Ford muốn bỏ qua.”

    “Phần tôi, tôi cảm thấy một sự giận dỗi dâng lên trong bụng. Tại sao ông [Tổng thống Gerald] Ford, ông Kissinger, là loại người thế nào mà không thấy động lòng để nghĩ cách cứu giúp những người dân nạn nhân của quốc gia đã từng đồng minh với mình?”

    “Tôi phải nói cho họ là cái đó không được, người Mỹ là người không bỏ rơi đồng minh. Người Mỹ có danh dự, người Mỹ phải tranh đấu tới mức nào cần thiết để giữ được chính nghĩa của tự do và những cái truyền thống ở dân tộc các nước đồng minh.”

    Sau đó, ông Young nói rằng những người bạn của ông, nhất là Lionel Rosenblatt đã liên lạc với phụ tá ngoại giao của Thượng nghị sĩ Edward Moore “Ted” Kennedy, Phó chủ tịch Ủy ban thượng viện có quyền cho phép sự di cư vào Hoa Kỳ và nhập quốc tịch Hoa Kỳ, xin phép ông Kennedy và Thượng viện Mỹ không chống chương trình định cư cho người Việt Nam di tản.

    “Khi tôi đến văn phòng của Lionel mà ông ấy đương nói chuyện với văn phòng của ông Nghị sĩ Kenedy, Lionel cầm điện thoại và hỏi tôi: ‘Theo Steve nghĩ mình phải nhận bao nhiêu người Việt Nam di cư?’, tôi trả lời: ‘Trời đất ơi, năm 1954 có độ 1 triệu người ở ngoài Bắc đi vô Nam, bây giờ họ lại có con cháu. Quân đội 800.000 người, nhân dân tự vệ, cảnh sát 200.000, các cấp hành chánh trung ương, tỉnh, quận mấy trăm ngàn người, giáo viên, xã trưởng, hội đồng xã… Tôi nói là: 2 triệu!

    Mà Lionel lắc đầu, nói với tôi là: “Cái đó không được, nhiều quá, rồi sau đó Lionel nói với tôi là ông Kennedy đồng ý cho số người Việt Nam vào Hoa Kỳ bằng số người Cuba được phép vào Hoa Kỳ năm 1965, tức là 150.000 người,” ông Young kể.

    Năm 1975, ngay sau khi Sài Gòn sụp đổ, có khoảng 130.000 người Việt Nam được di tản qua Mỹ.

    Đạo luật Người Tị nạn 1980

    Sau chiến thắng của quân cộng sản Bắc Việt, hàng trăm ngàn người Việt Nam Cộng hòa đã chạy trốn bằng thuyền vì sợ bị trả thù.

    Họ đã hình thành nên làn sóng thuyền nhân Việt Nam đầu tiên – những người khác đã theo sau vào năm 1978 để chạy trốn khỏi các đợt cải tạo công thương nghiệp của nhà nước cộng sản.

    Giáo sư Steve Young kể lại rằng, vào năm 1978, có một ủy ban tư nhân phi vụ lợi là Ủy ban Cứu hộ Quốc tế (International Rescue Committee) do ông Leo Cherne tổ chức vận động chính phủ Tổng thống Jimmy Carter để đón nhận nhiều thuyền nhân hơn.

    “Leo tổ chức một ủy ban 6-7 người, đi qua Thái Lan, Malaysia, đi các trại nơi những thuyền nhân Việt Nam ở lại để phỏng vấn. Tôi cũng tham gia ủy ban đó,” ông Young nói.

    Chính quyền Carter sau đó đã chấp thuận một đạo luật mới là Đạo luật Người Tị nạn (Refugee Act 1980), cho phép hàng trăm ngàn người tị nạn Đông Nam Á, đại đa số là thuyền nhân Việt Nam, nhập cư.

    Sau đó, ông Carter tiếp tục có chính sách đón nhận cho định cư thuyền nhân vượt biển, con lai, cựu tù cải tạo cũng như thân nhân được đoàn tụ gia đình theo Chương trình Ra đi Có trật tự (ODP), vì thế Tổng thống Jimmy Carter được tôn vinh là một đại ân nhân của thuyền nhân tị nạn người Việt.

    Nói về cộng đồng thuyền nhân Việt Nam, những người đã vượt biển với hai bàn tay trắng đến Mỹ, Giáo sư Stephen B. Young nhận xét: “Người nào mà biết họ thì phải phục”.

    “Tại vì bao nhiêu người họ qua đây bằng tay không, không có tiền nhưng mà họ có cái gì? Họ có trí óc, tâm hồn, họ có sự tự tin muốn làm việc cho gia đình họ. Và họ thành công, con cháu họ đi học, khu Little Saigon ban đầu nhỏ xíu, có vài trăm cửa tiệm, bây giờ có người Việt Nam mua nhà lớn, họ chịu khó và thành công.”

    “Và tôi thấy là văn hóa Mỹ là một văn hóa, một xã hội cho phép người ta làm việc và có thành công, rất hợp với khả năng của người Việt,” ông nêu quan điểm.

    ‘Sự phản bội của Henry Kissinger’

    Nhắc lại về sự sụp đổ của Sài Gòn, Giáo sư Stephen B. Young cho rằng “sự phản bội” của Ngoại trưởng Mỹ đóng góp 95%, khi ông Kissinger “bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa”.

    Ông Henry Kissinger, lúc đó là Cố vấn An ninh quốc gia (1969-1975) và là Ngoại trưởng (1973-1977), đóng vai trò quan trọng trong chiến lược của Hoa Kỳ trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam.

    Ông Kissinger và ông Lê Đức Thọ đã đạt được Hiệp định Paris vào tháng 1/1973, theo đó Washington hoàn thành việc rút quân khỏi miền Nam Việt Nam sau khi đã chấm dứt phần lớn các cuộc tấn công và tránh xung đột với cộng sản miền Bắc trước tình hình tinh thần quân đội ngày càng sa sút và các cuộc biểu tình phản chiến lớn ở Mỹ.

    Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War (Sự phản bội của Kissinger: Mỹ đã thua Chiến tranh Việt Nam như thế nào) của mình, Giáo sư Young cho rằng nền hòa bình mang lại sau Hiệp định Paris ký ngày 27/01/1973 là “không có danh dự” như Tổng thống Nixon từng mong muốn.

    “Tôi đã tìm kiếm tài liệu viết quyển sách này trong hơn 40 năm và đã tìm ra một vài tài liệu của Henry Kissinger trong các năm 1971 và 1972.”

    “Kissinger có ý riêng của ổng: ‘Người miền Nam không phải là người đứng đắn, không phải là người tốt lắm. Mỹ không nên hy sinh cho người như vậy. Mỹ phải bỏ họ đi’.”

    Theo Giáo sư Young, ông Kissinger đã có định kiến bị ảnh hưởng từ chính trị gia người Pháp Jean Sainteny, Cao ủy Cộng hòa Pháp tại Bắc Bộ vào năm 1946.

    “Và cũng theo hồi ký của Henry Kissinger, ông ta đã lắng nghe Jean Sainteny về Việt Nam và ông ta viết rằng Sainteny chỉ nói với mình hai điều.”

    “Thứ nhất, những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam Cộng hòa là vô giá trị, không thể tạo dựng quốc gia, tham nhũng, không phải là người tốt…”

    “Thứ hai, người Mỹ không bao giờ có thể chiến thắng trong cuộc chiến này khi hậu thuẫn cho những người ở Việt Nam Cộng hòa vô tổ chức, vô kỷ luật, tham nhũng, lười chiến đấu… Và tôi suy đoán là còn có một ý thứ ba, đó là chỉ có Hồ Chí Minh là người cộng sản, người Việt Nam tốt,” ông Young nói.

    “Nhưng mà ông Kissinger không bao giờ nói cho Tổng thống Nixon biết,” vị giáo sư luật này cho hay.

    “Tôi đã tiếp cận Tổng thống Nixon. Kết bạn với Nixon vốn là chuyện không dễ dàng vì tôi phải mất đến 4-5 năm. Lần đầu tôi gặp Nixon là vào khoảng năm 1981. Vào khoảng năm 1989, khi nghĩ ông ấy đã tin tưởng mình, tôi hỏi ông ấy ở New Jersey, ‘Có phải ông đã ủy quyền cho Henry Kissinger bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa hay không?’, và khi đó ông ấy bị sốc, mặt ông ấy xanh lét, ông ấy nói không nên lời. Ông ấy nói mình không biết Kissinger thật sự làm gì vào năm 1971.”

    “Nếu có một cái hiệp định riêng giữa miền Nam và người Mỹ, người Mỹ gởi viện trợ, cùng với hệ thống phòng thủ của miền Nam, thì chưa chắc là Hà Nội thắng được. Nhưng mà Hà Nội có phép của Kissinger để lại ít nhất 300.000 lính. Thành ra nếu không có Hiệp định Paris, tôi thấy Hà Nội không thắng được,” ông Young chia sẻ quan điểm.

    Trao đổi với BBC, tác giả Young cũng nói về những tác động của cuộc Chiến tranh Việt Nam ở nước Mỹ sau 50 năm.

    “Nhiều người Mỹ cho đến nay vẫn thắc mắc vì sao mình thua trận, tại sao mình không giúp Việt Nam theo ý của mình?”

    “Vì lẽ đó mà tôi viết cuốn sách về Henry Kissinger.”

    “Tại vì tôi muốn người Mỹ nói là người Mỹ, nước mình, dân mình không thua.”

    “Mình làm đúng bổn phận của mình. Mình thua vì một người. Ông ấy có quyền, nhưng mà ổng không phải là người tốt, không phải là người thành thật,” ông Young chốt lại cuộc trả lời phỏng vấn với BBC.

    Tác giả Stephen B. Young hiện là Giám đốc điều hành tổ chức Caux Round Table for Moral Capitalism. Ông từng làm phó khoa Luật Đại học Harvard, Giáo sư Luật tại Hamline University Law School.

    Giáo sư Stephen B. Young từng làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) từ năm 1968-1972, sau đó là Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Những năm sau 1975, ông cùng vợ tham gia trợ giúp các thuyền nhân Việt Nam tị nạn tại Mỹ.

    Các tác phẩm của Giáo sư Stephen B. Young gồm Kissinger’s Betrayal: How America lost the Vietnam WarThe Theory and Practice of Associative Power – CORDSThe Tradition of Human Rights in China and Vietnam, Moral CapitalismThe Way to Moral Capitalism…

    Ông cùng vợ đã dịch tác phẩm Đỉnh cao chói lọi (The Zenith) của Dương Thu Hương sang tiếng Anh.

    Theo BBC News Tiếng Việt.

  • Chiến tranh thương mại Mỹ Trung xảy ra, thế giới chia làm 2 phe

    Nguyên Tống

    Chiến tranh thương mại Mỹ Trung xảy ra, thế giới chia làm 2 phe, kẻ ủng hộ Trump, kẻ phản đối, kể cả ngay trong nước Mỹ cũng vậy. Nhưng có lẽ ít người hiểu được nguyên nhân sâu xa của trận chiến này. Trump buộc phải làm vậy, do sai lầm của nhiều đời Tổng Thống trước tích lũy lại.

    Các đời Tổng Thống trước của Mỹ cũng không phải là quá tệ hay hay phản quốc gì, cũng là những đỉnh cao của nhân loại cả đấy. Mà chỉ là họ, Obama hay Biden không phải là Thương gia, cũng không phải là những TT kỹ trị, mà chỉ là những Chính khách thuần túy. Họ cũng không có một bộ máy giúp việc tầm cỡ và thạo việc theo kiểu “lính chiến” mà cũng chỉ là những chính khách Salong.

    Nên đã không ai nhận ra nước Mỹ đã bị rơi vào Nghịch lý Triffin một cách trầm trọng và bị TQ lợi dụng đồng thời. Nếu Trump không nhìn ra điều này mà có những điều chỉnh cơ bản về dòng chảy thương mại toàn cầu, thì chẳng mấy chốc Mỹ sẽ như một chú chó cảnh to xác quý hiếm đắt tiền, bị TQ tròng cái xích vào cổ và muốn dắt đi đâu thì dắt. Thiên hạ sẽ về tay Hán Đế.

    Vậy Nghịch lý Triffin là gì mà kinh thế? Nó cũng chẳng phải cái gì ghê gớm cả đâu. Và không phải là không ai trong số TT Mỹ hay các chuyên gia cố vấn của họ biết nghịch lý này. Mà ngược lai, ai cũng biết, biết rõ đến mức coi thường nó, chủ quan không để ý đến nó trong suốt quá trình điều hành kinh tế Mỹ, không để ý đến những dấu hiệu bất thường của nó mà thôi.

    Bởi vì đó là một Nghịch lý trong kinh tế vĩ mô, luôn xảy ra với quốc gia phát hành đồng tiền dự trữ ra thế giới. Nói một cách vắn tắt và trọng tâm nhất thì Nghịch lý là Quốc gia phát hành đồng tiền dự trữ của thế giới phải luôn chịu thâm hụt tài khoản vãng lai. Mà Mỹ thì luôn đóng vai trò là Quốc gia đó kể từ Hội nghị Bretton Woods năm 1944. Nên việc Mỹ bị thâm hụt năm này qua năm khác là đương nhiên, trở nên “rất nhàm” với các TT Mỹ và cả người dân Mỹ luôn.

    Họ chỉ không ngờ được là TQ đã nắm được điểm yếu này, âm thầm và triệt để khai thác. Để từ vị trí kẻ làm thuê gia công cho Mỹ, tích lũy tiền bạc để mua lại Trái phiếu Chính phủ Mỹ (do bị thâm hụt mà phải phát hành), trở thành Chủ nợ lớn nhất của Mỹ lúc nào không hay.

    Ở nhiệm kỳ trước, Trump đã tìm cách ngăn chặn việc này, nhưng lúc đó nó cũng chưa phải là một mối nguy lớn. Sau khi Trump rớt đài, Biden đã phát hành thêm khoảng 7,9 nghìn tỷ USD trái phiếu chính phủ. Khi Biden nhậm chức vào tháng 1 năm 2021, nợ công của Mỹ ở mức khoảng 27,8 nghìn tỷ USD. Đến đầu năm 2025, con số này đã tăng lên hơn 35,7 nghìn tỷ USD. Và trong lúc đó thì TQ, đã từng là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, nay đang đứng thứ 2 sau Nhật mà thôi.

    Nhưng có lẽ là do không có con mắt cảnh giác và tinh tường của một “con buôn” và do cả ngây thơ chủ quan “tin tưởng” Tập không chơi xấu Mỹ mà Biden không có động thái nào đề phòng Tập lật kèo, ngoài việc vẫn duy trì một cách hời hợt chính sách thuế quan do Trump để lại. Tình thế trở nên nguy cấp khi Trump trở lại nắm quyền.

    Nếu Trump không ra tay mà để Tập tiếp tục thao túng, khống chế chuỗi cung ứng bao vây Mỹ, tiếp tục biến Mỹ thành con nợ mà Mỹ rơi vào thế bất lợi thì mọi tội lỗi sẽ được người dân Mỹ đổ hết lên đầu Trump. Chứ không ai biết nó là do tích lũy từ thời Obama đến Biden (thời Trump 1.0 đã khắc phục được 1 phần cũng nhờ Chiến tranh thương mại, nhưng lại mắc nợ sâu hơn dưới thời Biden).

    Nhân tiện nói qua về EU. Anh chàng này thì như đã nói, luôn như nước Đông Ngô trong Tam quốc, đứng giữa 2 nước lớn hơn Thục Hán-Tàu và Ngụy-Mỹ, tận dụng “rỉa” cả 2 nước. EU một mặt cũng đã trở thành chủ nợ của Mỹ, trong khi vẫn “rỉa” được hàng hóa giá rẻ của TQ để sống phè phỡn. Vì thế nên Trump cũng phải “đòi lại công bằng” cho Mỹ từ EU luôn. Chứ không phải là “chơi” đồng minh đâu.

    Kẻ thối mồm ác ý thì có thể bảo Mỹ đánh đồng minh. Cũng đúng, nhưng chỉ một phần. Bởi đòn đánh đó chỉ là đánh thức, “đánh yêu” để đồng minh đang khoan khoái ngủ kia tỉnh giấc mơ trưa mà chọn phe thôi. Bây giờ không còn thế Tam Quốc nữa mà chị còn Nhị Quốc phân tranh thôi. EU phải chọn lấy 1 bên. Và tất nhiên là EU sẽ chọn Mỹ rồi. Ngu gì mà đi với ông châu Á ăn thịt chó kia? Lúc đói nó ăn cả thịt người thì sao?

    Vậy đó. Hiểu như vậy thì sẽ thấy Trump đang vì cứu nước Mỹ mà chơi nhau với Tập. Qua đó, các nước lớn như EU bị lôi vào vì phải rõ ràng bạn thù cho Trump dễ hành động và cũng để trả lại những gì đã lợi dụng bòn rút của Mỹ trước đây. Các nước nhỏ như VN cũng bị kéo vào do liên quan đến anh “Đại ca” kia. Nhưng nó cũng lại vô tình trở thành cơ hội cho VN thoát ra khỏi băng của Đại ca mà tái hòa nhập với xã hội.

    Nên mình nghĩ, là người Việt yêu nước Việt thì chúng ta đừng chửi Trump nữa. Trump không thể làm khác, vì Mỹ và chính bản thân Trump bị Tập (và Biden) đẩy vào thế nguy cấp. Ổng lại còn vừa vô tình, vừa cố ý giúp ta thoát ra khỏi cái ống cống hiện tại. Nên chăng cám ơn ổng một câu?!

    Nguồn: FB. Nguyên Tống

  • Một số hình ảnh đêm Gala Dinner – Hội khóa Pleiku 2025

    Giao lưu trước Gala Dinner:

    Trước khi vào Hội trường

    Nguyễn Đình Phú (SĐ-HTK) và Nguyễn Vê (VH-HTK)

    Vào hội trường chuẩn bị cho đêm Gala:

    Đoàn Đà Nẵng: Võ Thị Vũ, Trần Thị Minh (VHU), Huỳnh Thị Hường (VH-HTK)
    Lê Thị Tường Vân (AV-HTK), Nguyễn Thị Minh Hà (thân hữu), Nguyễn Khoa Phương Dung (AV-HTK)
    Thầy Huỳnh Ngọc Phiên và chị Trần Thị Hường (SĐ-LVC)
    Minh Hà cà Trần Thị Cúc (PN bạn Lê Lâu)
    4 bạn VH-HTK, đoàn Đà Nẵng: Võ Thị Vũ, Trần Thị Minh (VHU), Huỳnh Thị Hường và Phạm Thị Nhạn.
    Thầy Huỳnh Ngọc Phiên và thầy Trương Ngọc Phú.
    Anh Nguyễn Hải (PQ bạn Nguyễn Khoa Phương Dung)
    Tố Nga (PN bạn Nguyễn Hữu Dung)
    Bên phải: Chị Tâm (PN bạn Lê Bá Văn đã mất), Ái Liên (PN bạn Lê Văn Lộc)
    Nguyễn Đăng Hậu (LH-LVC) và bạn Trương Phương (đông môn Nguyễn Hoàng Quảng Trị)
    Nhóm thân hữu Nguyễn Hoàng Quảng Trị cùng dự Hội khóa: Anh Lê Đình Bì, chị Ngô Thị Tình, Võ Thị Diệu Huyền (PN bạn Nguyễn Văn Lục, SĐ LVC), chị Phan Thị Bằng (PN bạn Nguyễn Đăng Hậu), bạn Trương Phương.
    Vợ chồng bạn Nguyễn Đăng Hậu (LH-LVC) – Phan Thị Bằng
    Lan Hương (VH-LSPT), Bành Phi Lân và Giáng Hương
    Nguyễn Hữu Dung (LH-HTK)
    Anh Trần Hùng Linh (PQ bạn Nguyễn Thị Sửu)
    Anh Hải (PQ Nguyễn Khoa Phương Dung) và anh Lê Văn Trung (PQ bạn Tường Vân)
    Đặng Ngọc Thanh Hải (AV-HK) và Nguyễn Thị Giáng Hương (AV-LVC)

    Nguồn ảnh từ anh Quang Mười và Tôn Nữ Lan Hương

  • Nhật ký Hội khóa Pleiku 2025 – Sáng 8/4/2025

    Sáng ngày 8/4/2025, các đoàn Huế, Quảng Trị, Quy Nhơn, Đà Nẵng và gia đình thầy Huỳnh Ngọc Phiên, đã đến Pleiku tối qua, cùng hẹn nhau tận dụng thời gian trước khi vào Hội khóa chính thức, rũ nhau cùng đi tham quan đập Thủy điện YALY đầy ấn tượng bên dòng sông Sê San và khu nhà mồ của dân tộc Gia Rai ở Chư Pã

    Có thể nói, Thủy điện Yaly được xem là bản hoà tấu thú vị của thiên nhiên. Nơi đây là sự giao thoa giữa vẻ hoành tráng, kỳ vĩ của công trình nhân tạo và nét thi vị, trữ tình của quang cảnh thiên nhiên bao quanh.

    Nép mình bên dòng sông Sê San thơ mộng, Yaly là công trình thuỷ điện lớn thứ hai của Việt Nam, chỉ đứng sau thuỷ điện sông Đà. Do đó, đây được xem là nơi cung cấp nguồn sáng cho cả một vùng Tây Nguyên rộng lớn. Mỗi năm, Thủy điện Yaly sản xuất lượng điện lên tới 3.650 triệu KWh với công suất 720 MW.

    Cùng với Cánh đồng điện gió Đắk Đoa, Thủy điện Yaly không đơn thuần chỉ là điểm tham quan với cảnh sắc tuyệt đẹp mà còn mang ý nghĩa to lớn trong việc cải thiện đời sống sinh hoạt cho người dân vùng đất đại ngàn.

    Công trình Thủy điện Yaly vô cùng hoành tráng, hiện đại và đồ sộ
    Nơi đây mang nét thơ mộng và hữu tình do nép mình bên dòng sông Sê San và dãy núi Ngọc Lĩnh
    Với Hướng dẫn viên du lịch

    Nhà mồ Gia-rai

    Ngôi nhà mồ do 5 người đàn ông Gia-rai Aráp ở làng Mrông Ngọ (huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai) dựng năm 1998. Ở làng, trong nhà mồ như thế này có thể chôn khoảng 30 người chết.

    Nhà mồ được bao bằng một hàng rào tượng, được đẽo và tạc bằng rìu, đục và dao. Những tượng trai gái giao hoan, phô ra bộ phận sinh dục và tượng phụ nữ mang thai liên quan đến sự sinh sôi. Mái nhà lợp gỗ ván và được phủ một lớp phên nan tre có trang trí nhiều hình vẽ bằng phẩm màu đỏ tự chế tác theo lối cổ truyền. Những hình tạc trên nóc mô tả chủ yếu sinh hoạt lễ bỏ mả.

    Nhà mồ được coi là dành cho người chết ở thế giới bên kia. Bên trong nhà có nhiều ché, bát, đĩa, chai, chén và mô hình dụng cụ lao động, là những đồ dùng cho người quá cố. Người Gia-rai làm nhà mồ đẹp chỉ để phục vụ lễ bỏ mả. Nghi lễ diễn ra trong vài ba ngày, sau đó, toàn bộ nhà mồ cùng với tượng và các trang trí… bỏ hoang, hư hỏng dần theo năm tháng.

    Tượng người đàn ông ở góc nhà mồ
    Tượng phụ nữ mang thai

    Hình ảnh từ FB Tôn Nữ Lan Hương (SĐ-HTK) và FB Tôn Định Phương