• Nguyễn Hoàng – Người khơi thông hệ thống thương mại miền Trung cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII

    10 Tháng 7, 2024 – 10:38

    ĐNA –

    Nguyễn Hoàng (1525-1613) là vị chúa Nguyễn đầu tiên vào trấn thủ đất Thuận Hóa (1558-1570) và sau đó là Thuận- Quảng (1570-1613). Ông không chỉ là người đặt nền móng cho cơ nghiệp của họ Nguyễn và sự hình thành của của Đàng Trong mà còn là người có công lao to lớn trong việc khơi thông hệ thống thương mại ở miền Trung Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, góp phần đưa Việt Nam hội nhập vào luồng thương mại quốc tế phát triển cực kỳ sôi động thời bấy giờ.

    Chúa Nguyễn Hoàng – Người khơi thông hệ thống thương mại miền Trung cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII

    Ở phương diện này, công lao của Nguyễn Hoàng thể hiện nổi bật ở 3 điểm: Phát hiện, kế thừa và phục hưng hệ thống thương mại ven sông ra cửa biển theo trục đông- tây của cư dân Champa cổ; Ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển các vùng nguyên liệu và khai thác lâm thổ sản để xuất khẩu và Chủ động mời gọi thương nhân nước ngoài (đặc biệt là Nhật Bản) đến trao đổi buôn bán.

    Thay đổi và phát triển Thuận Quảng, đặt nền móng cho sự ra đời của Đàng Trong

    Năm 1558, vâng mệnh vua Lê[1], Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông đã chọn vùng cát trắng Ái Tử bên bờ sông Thạch Hãn để đóng thủ phủ.

    Thuận Hóa hồi bấy giờ mặc dù đã trở về với Đại Việt đã 250 năm (tính từ mốc 1306) nhưng vẫn nổi danh là vùng “Ô châu ác địa” với thành phần dân cư phức tạp[2], trình độ phát triển của nền kinh tế còn rất lạc hậu, thấp kém, chủ yếu là khai thác lâm thổ sản tự nhiên và trồng lúa.

    Để thuần hóa đất dữ Ô Châu trong buổi ban đầu vô cùng gian nan ấy, Nguyễn Hoàng đã sử dụng chính sách “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng…” . Chính quyền được xây dựng theo kiểu thể chế quân sự của ông có kỷ luật rất nghiêm minh, chưa từng xâm hại đến lợi ích dân chúng. Đường lối chính sự khoan hòa, rộng rãi đó đã khiến các tầng lớp dân chúng đều tin yêu, khâm phục và thường gọi (ông) là chúa Tiên.

    Với uy tín và tài đức của mình, Nguyễn Hoàng đã tập hợp được quanh ông nhiều nhân vật kiệt xuất, xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau. Nổi bật trong số này là Nguyễn Ư Dĩ, Thái phó Uy quốc công của triều Lê, người đã nuôi nấng, dạy dỗ Nguyễn Hoàng trưởng thành; Thống binh Mạc Cảnh Huống, vốn là tôn thất nhà Mạc, em ruột của Khiêm vương Mạc Kính Điển; Luân quận công Tống Phước Trị, quan trấn thủ Thuận Hóa tiền nhiệm đã tình nguyện ở lại phục vụ dưới trướng Nguyễn Hoàng; Thiện vũ vệ Đô chỉ huy sứ Lương Văn Chánh[3]; Lương quận công Trương Công Gia[4] ..vv. Đây chính là những nhân tố quan trọng giúp chính quyền của Nguyễn Hoàng vững vàng và đạt được nhiều thành công trên vùng đất mới.

    Đạt được “nhân hòa” thì mọi chuyện trở nên thuận lợi. Nguyễn Hoàng đã lần lượt dẹp yên các cuộc chống đối trong xứ và đánh tan các lần tấn công xâm nhập của các thế lực thù địch.

    Năm 1571, Nguyễn Hoàng đánh tan cuộc tấn công của Mỹ Lương, tay chân của họ Trịnh (sách Đại Nam thực lục cho là Trịnh Kiểm mật sai Mỹ Lương đánh úp dinh Vũ Xương của Nguyễn Hoàng nhưng cũng nêu lên giả thuyết Mỹ Lương đánh úp Vũ Xương để hàng nhà Mạc vì thời điểm này Mạc Kính Điển đang đem quân tấn công Thanh-Nghệ[5].

    Năm 1572, Nguyễn Hoàng đánh bại cuộc tấn công của tướng Lập Bạo nhà Mạc, bắt sống hàng ngàn tù binh.

    Nội bộ thống nhất, bên ngoài yên tĩnh, Thuận Hóa mới sau hơn 10 năm kể từ ngày có chúa Tiên thì “nhân dân đều an cư lạc nghiệp. Chợ không bán hai giá, không có trộm cướp, thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một nơi đô hội lớn”[6] .

    Từ năm 1570, Nguyễn Hoàng kiêm quản thêm đất Quảng Nam[7], với chiếc ấn Tổng trấn nhị trấn Thuận-Quảng, uy tín, quyền lực của ông càng tăng lên gấp bội. Sự kiềm tỏa của họ Trịnh từ phía Nam thông qua các tướng trấn thủ cũ của Quảng Nam như Bùi Tá Hán rồi Nguyễn Bá Quýnh được loại bỏ. Tuy nhiên, với chính quyền Lê-Trịnh ở Bắc hà, Nguyễn Hoàng vẫn hết lòng giữ mối quan hệ hòa hiếu. Tất cả các nghĩa vụ hàng năm của Thuận Quảng đều được thực hiện đầy đủ. Sứ giả miền Bắc bao giờ cũng được hậu đãi. Sau lần ra Thanh Hoa yết kiến vua Lê Anh Tông tại hành cung An Trường vào năm 1569, đến năm 1593, ông lại ra Bắc tham dự lễ mừng công sau khi quân Lê-Trịnh giành được Đông Đô. Tiếp đó, Nguyễn Hoàng đã ở lại đất Bắc suốt 8 năm để giúp vua Lê đánh quân Mạc. Chỉ đến khi Trịnh Tùng, người kế vị Trịnh Kiểm tỏ rõ sự ganh ghét và muốn sát hại ông, Nguyễn Hoàng mới quyết tâm tìm cách quay lại Thuận Hóa. Năm 1600, nhân có cuộc nổi dậy làm phản của các tướng Phan Ngạn, Ngô Đình Nga và Bùi Văn Khuê ở cửa Đại An (nay thuộc Nam Định), ông xin đem quân đi đánh dẹp rồi thừa cơ vượt biển trốn vào Thuận Quảng.

    Từ đây, ý đồ lánh nạn ở đất Thuận Hóa ban đầu của Nguyễn Hoàng đã chuyển thành mưu đồ cát cứ cả miền Thuận Quảng, vùng đất phía Nam đất nước hồi đó. Chúa Tiên càng chăm lo xây dựng phát triển đất Thuận Quảng để thực hiện giấc mộng bá vương của mình. Lực lượng quân đội không ngừng được củng cố, quân lệnh càng thêm nghiêm minh; nền kinh tế Thuận Quảng ngày càng phồn thịnh nhờ các chính sách khoan hòa rộng mở, đặc biệt là các chính sách phát triển ngoại thương; đời sống văn hóa, tư tưởng trong xứ cũng rất ổn định nhờ chính sách hòa nhập văn hóa và phát triển đạo Phật[8]. Công cuộc Nam tiến để mở rộng bờ cõi bắt đầu được đẩy mạnh, đến năm 1611, bằng một cuộc tấn công quân sự, đất Quảng Nam đã bao gồm toàn bộ phần đất tỉnh Phú Yên ngày nay[9].

    Với hơn nửa thế kỷ cai trị đất Thuận Quảng (1558-1613), Nguyễn Hoàng đã đạt được những thành công rực rỡ. Có thể nói: “… đất Thuận Quảng đã mang lại cho Nguyễn Hoàng một thế đứng chính trị, một chỗ dựa xã hội vững chắc, một khả năng kinh tế dồi dào và những võ công oanh liệt. Đó là những điều kiện đủ để “xây dựng cơ nghiệp muôn đời”[10].

    Phối cảnh lăng Trường Cơ của chúa Nguyễn Hoàng tại Huế

    Phát hiện, kế thừa và phục hưng hệ thống thương mại ven sông của cư dân Chămpa cổ

    Một trong những điểm cần nhấn mạnh trong tư duy phát triển kinh tế của Nguyễn Hoàng là việc phát hiện và kế thừa và phục hưng hệ thống buôn bán thương mại ven sông ra biển theo trục đông-tây của cư dân Chămpa. Đây là hệ thống kinh tế được hình thành rất sớm, xuất phát từ đặc điểm của địa hình miền Trung và tập quán kinh tế của cư dân bản địa.

    Miền Trung Việt Nam vốn có địa hình khá đặc biệt: lưng dựa vào dãy Trường Sơn, mặt nhìn ra biển; bề ngang hẹp, địa hình dốc với nhiều dòng sông, nhiều cảng/vũng biển tốt và kín gió, phù hợp với việc giao lưu buôn bán bằng đường thủy[11]. Theo cố giáo sư Trần Quốc Vượng, từ trước công nguyên, tại khu vực này đã hình thành những tuyến giao lưu trao đổi hàng hóa của cư dân bản địa qua hành lang đông tây, xuyên qua dãy Trường Sơn kết nối với Lào, Thái Lan, Miến Điện[12] … Đến thời kỳ vương quốc Chămpa, sự giao lưu đó càng được đẩy mạnh. Người Chăm giỏi buôn bán và đi biển nên hàng hóa (sản phẩm nông nghiệp, lâm thổ sản, hàng thủ công mỹ nghệ…) đã được trao đổi mạnh mẽ với bên ngoài thông qua hệ thống cảng biển và con đường biển. Tuy nhiên, từ thế kỷ 14 trở về sau, thất bại trong xung đột với Đại Việt và sự suy yếu toàn diện đã khiến kinh tế buôn bán trên biển của Chămpa ngày càng xuống dốc và dần lụi tàn. Vùng Thuận Quảng sau khi thuộc về Đại Việt thì đã gần như không còn bóng dáng của kinh tế hàng hóa.

    Vốn xuất thân từ đất Thanh Hóa, nơi có nền kinh tế nông nghiệp dựa vào trồng lúa nước đóng vai trò chủ đạo, nhưng khi vào Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã nhạy bén nhìn ra những ưu thế của vùng đất mới, ưu thế của kinh thế hàng hóa, và ưu thế của biển. Một may mắn nữa là ông đã xuất hiện trùng thời điểm với Kỷ nguyên thương mại châu Á vốn khởi phát từ cuối thế kỷ 15, phát triển bùng nổ trong các thế kỷ 16, 17, đặc biệt tại khu vực Đông Nam Á[13]. Đây là điều kiện lý tưởng để Nguyễn Hoàng thể hiện khả năng của mình và ông đã dám đặt cược cả thể chế của mình vào sự hưng vong của kinh tế ngoại thương[14].

    Với chính sách cai trị của Nguyễn Hoàng, Thuận Hóa, và từ năm 1570 về sau là Thuận- Quảng, nền kinh tế hàng hóa đã phát triển mạnh mẽ thể hiện qua sự phục hưng cả một hệ thống cảng biển/ cảng sông từ Quảng Bình đến Bình Định như Cửa Tùng, Cửa Việt, Mai Xá, Phó Hội, Cửa Eo, Thanh Hà, Cửa Tư Dung, Cửa Hàn, Cửa Đại (Hội An), Thi Nại..vv.  Bên cạnh đó, một mạng lưới chợ đầu mối, chợ phiên đã mọc lên khắp nơi tại các khu vực bến sông hay các tuyến đường bộ kết nối giữa khu vực rừng núi phía tây và đồng bằng ven biển phía đông để trao đổi, thu gom các hàng hóa, lâm thổ sản địa phương đưa về cảng thị phục vụ xuất khẩu.

    Riêng tại Quảng Trị, nơi chúa Tiên Nguyễn Hoàng đóng dinh phủ đã có đến 4 tuyến giao thương quan trọng kết hợp giữa đường bộ và đường thủy, đó là:

    Tuyến Tùng Luật- vùng nội địa Minh Linh (Vĩnh Linh, Gio Linh ngày nay) qua sông Minh Lương/Hiền Lương và sông Cánh Hòm/Kênh Hàng/ Kênh Ba Lòng nối với Bố Chính (Quảng Bình) qua kênh Sen/ Liên Thủy;

    Tuyến Cửa Việt – Cam Lộ- Ai Lao xuyên hành lang đông tây qua sông Thạch Hãn- sông Hiếu và đường Thượng đạo xuyên Trường Sơn;

    Tuyến Cửa Việt- Dinh Cát/ Trà Bát/ Ái Tử – vùng nội địa Vũ Xương/ Đăng Xương, Hải Lăng đến vùng các tộc người thiểu số qua sông Thạch Hãn và hệ chi lưu Vĩnh Định nối với các vùng thuộc Thừa Thiên;

     Tuyến nội địa Hải Lăng qua sông Ô Lâu và hệ chi lưu Vĩnh Định nối với các vùng thuộc Thừa Thiên[15].

    Trong 4 tuyến trên thì tuyến Cửa Việt-Cam Lộ- Ai Lao và tuyến Cửa Việt- Dinh Cát/Trà Bát/ Ái Tử là 2 tuyến mậu dịch quan trọng nhất. Đây cũng chính là lí do cắt nghĩa tại sao, trong suốt 55 năm cai trị ở Thuận Hóa và Đàng Trong, Nguyễn Hoàng lại đóng dinh phủ tại khu vực này[16].

    Các tuyến thương mại kết nối theo chiều đông tây dọc theo các tuyến sông Bồ, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Cả… của Thuận Quảng cũng phục hưng và phát triển mạnh mẽ. Trong thời kỳ chúa Tiên, ngoài sự phát triển phồn thịnh của hệ thống cảng Cửa Việt- Ái Tử/Trà Bát/Dinh Cát ở Chính dinh thì quan trọng nhất là sự phục hưng và phát triển mạnh mẽ của tuyến thương mại Cửa Đại – Hội An/Faifo/Hải Phố. Hội An trở thành cảng quốc tế lớn nhất ở Đàng Trong, là “hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả các người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng”[17].

    Ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp

    Một công lao lớn nữa của Nguyễn Hoàng đối với Thuận Quảng và việc ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển các vùng nguyên liệu và khai thác lâm thổ sản để xuất khẩu.

    Tuy ưu tiên cho phát triển ngoại thương nhưng Nguyễn Hoàng vẫn quan tâm đến việc ổn định và phát triển nông nghiệp, quan tâm đến cuộc sống của nông dân vì họ vẫn là lực lượng chính ủng hộ ông trên vùng đất mới. Chính Nguyễn Hoàng là người đầu tiên sáng tạo ra một phương thức kinh tế mới cho Thuận Hóa và Đàng Trong sau này: kết hợp giữa kinh tế nông nghiệp sản xuất lúa nước truyền thống của di dân người Việt vốn phát triển theo trục bắc-nam và kinh tế trao đổi hàng hóa men theo các dòng sông ra cửa biển theo trục đông-tây của cư dân Chămpa bản địa. Và kết quả của sự sáng tạo này cũng là nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho Thuận Quảng chỉ sau một thời gian ngắn đã có bước phát triển đột phá, từ một vùng đất biên viễn hoang sơ lạc hậu đã vụt trở thành một vùng đất giàu có, ổn định với tiềm lực kinh tế mạnh mẽ[18].

    Thuận Hóa nói riêng và Thuận Quảng nói chung trong buổi đầu cư dân còn khá thưa thớt lại còn thường xuyên bị lưu tán do chiến tranh và các biến động lịch sử. Nguyễn Hoàng đã tìm cách chiêu tập dân cư (bao gồm cả cư dân từ Đàng Ngoài lánh nạn hay do nạn đói chạy vào), tạo điều kiện để nhân dân khai hoang, mở đất, lập các làng xã mới. Chính vì vậy mà số làng xã ở Đàng Trong đã phát triển rất nhanh, vùng đồng bằng ven biển dân cư ngày càng trù mật[19].

    Bên cạnh đó, Nguyễn Hoàng còn đặc biệt chú ý đến việc phát triển các nghề thủ công trong các làng xã nông nghiệp để tạo nên các thương phẩm đặc trưng của từng vùng, phục vụ buôn bán, xuất khẩu[20].

    Lâm thổ sản trong đó tiêu biểu là hương liệu vốn là những mặt hàng nổi tiếng của đất Thuận Hóa từ lâu đời. Trong Ô châu cận lục, Dương Văn An đã từng kê mức thuế hàng năm nộp bằng sản vật của các huyện thuộc Thuận Hóa hết sức phong phú, chẳng hạn tại phủ Tân Bình: Huyện Hải Lăng: Ngà voi 280 cân, trầm hương 50 cân, tốc hương 50 cân, bạch mộc hương 180 cân, biện hương 100 cân, nhựa thông 960 cân… Huyện Kim Trà: Ngà voi 300 cân, sừng tê 96 cân, trầm hương 212 cân, tốc hương 124 cân, biện hương 100 cân, nhựa thông 1800 cân, bạch mộc hương 756 cân, hồ tiêu 1800 lạng… Huyện Đan Điền: Ngà voi 60 cân, trầm hương 50 cân, tốc hương 116 cân, tô nhũ hương 108 cân, bạch mộc hương 840 cân, biện hương 84 cân, nhựa thông 1920 cân[21]…  Sau khi vào trấn Thủ Thuận Hóa, và sau đó kiêm quản cả Quảng Nam, Nguyễn Hoàng càng chú ý khai thác lợi thế này, hệ thống thương mại ven sông ra biển theo chiều đông tây chính là nhằm khai thác nguồn lợi trên, tạo nên những “con đường hương liệu” lan tỏa khắp mọi nơi.

    Đặc biệt, gắn liền với việc khai hoang, mở đất lập làng xã mới, Nguyễn Hoàng còn chú ý đến việc xây dựng và phát triển các vùng cung cấp nguyên liệu/hương liệu để xuất khẩu. Năm 1572, sau khi đánh bại cuộc tấn công của tướng nhà Mạc Lập Bạo, Nguyễn Hoàng đã đưa hàng ngàn tù binh bắt được lên vùng Cồn Tiên để lập nên 36 phường của tổng Bái Trời (Bái Ân). Chính những tù binh chiến tranh này đã lập công chuộc tội bằng việc xây dựng nên những đồn điền trù phú- một vùng sản xuất hồ tiêu, dầu trẩu, dầu sơn nổi tiếng của Đàng Trong. Đây cũng chính là những sản phẩm được thương lái nước ngoài rất ưa chuộng, là mặt hàng rất được giá của chúa Tiên. Riêng hồ tiêu, với hai loại tiêu trắng và tiêu đen đã trở thành một thương phẩm đặc biệt của Thuận Hóa hồi bấy giờ:

    “Hồ tiêu sẵn ở các phường và xã Mai Xá tổng Bái Trời, huyện Minh Linh, mọc đầy rừng, leo vào các cây mà mọc, tháng 9 có hoa, tháng 11 kết quả, tháng 5 thì hái, tháng 6 thu xong… Xưa Đoan Quận công từng sai người y theo giá mà mua chở về cùng với vây cá, yến sào để đổi cho khách buôn lấy hóa vật, bèn làm thành lệ. Họ Nguyễn cứ hằng năm vào thượng tuần tháng 5 thì sai đội trưởng thuyền Tân nhất cùng tinh binh ra địa phương hạ lệnh cho dân tùy vườn nhiều ít mà chia bao, họp số định giá mua lấy, mỗi gánh hồ tiêu chi trả 5 quan tiền, chở về phố Thanh Hà bán cho khách tàu, không cho dân địa phương bán riêng. Hồ tiêu cứ cho 100 cân làm tại, giá 5,6 quan, khách Bắc và khác Mã Cao thường buôn về Quảng Đông”[22].

    Như vậy là, không chỉ biết khai thác lợi thế có sẵn của vùng đất về lâm thổ sản tự nhiên, mà Nguyễn Hoàng còn chủ động xây dựng, phát triển các vùng sản xuất, cung cấp nguyên liệu để phục vụ xuất khẩu. Đây dường như là một việc làm chưa có tiền lệ trong lịch sử phát triển kinh tế của các triều đại quân chủ ở Việt Nam.

    Chùa Cầu Hội An. Nguyễn Hoàng chủ động mời gọi thương nhân nước ngoài (đặc biệt là Nhật Bản) đến trao đổi buôn bán.

    Chủ động mời gọi thương nhân nước ngoài đến trao đổi buôn bán

    Nhận thức được vai trò to lớn của ngoại thương trong việc phát triển nền kinh tế, thay đổi cục diện tình hình của Thuận Quảng, đảm bảo cho sự tồn vong của chính mình, Nguyễn Hoàng không chỉ mạnh dạn kế thừa và phục hưng nền kinh tế hàng hóa thông qua việc ổn định sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, khơi thông hệ thống thương mại nội địa theo chiều đông tây từ vùng rừng núi ra biển theo các tuyến sông mà ông còn chủ động mời gọi thương nhân nước ngoài đến Đàng Trong mua bán, trao đổi.

    Trong thời kỳ kỷ nguyên thương mại châu Á này, thương nhân từ các quốc gia phương Tây đã ào ạt đổ qua các nước phương Đông để tìm hàng hóa, nguyên liệu và thị trường tiêu thụ sản phẩm. Thuận Quảng vốn là một trọng điểm của con đường tơ lụa (Silk Road) trên biển vốn có từ các kỷ nguyên trước, nay lại trở thành điểm đến được yêu thích của các thương nhân nước ngoài, tiêu biểu là thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc…

    Ngay từ những năm cuối thế kỷ XVI, chỉ sau hơn chục năm vào trấn thủ Thuận Hóa (từ 1570 là Thuận Quảng), chính sách thu phục nhân tâm, ổn định tình hình an ninh, phát triển sản xuất của Nguyễn Hoàng đã đưa lại những kết quả to lớn: Nhân dân an cư lạc nghiệp, chợ không bán hai giá, không có trộm cướp, thuyền buôn các nước đến nhiều, trấn trở nên một nơi đô hội lớn[23].

    Nguyễn Hoàng đã có thái độ hết sức tích cực, chủ động đối với thương nhân nước ngoài.  Một số tư liệu lịch sử cho thấy, thương nhân châu Âu khi đến Đàng Trong đều được Nguyễn Hoàng chủ động gặp gỡ; ông lắng nghe nguyện vọng của họ, tặng quà cáp, mời gọi họ đến buôn bán, trao đổi[24].

    Nguyễn Hoàng còn đặc biệt chú ý đến thương nhân các nước trong khu vực. Thương nhân người Hoa được tạo nhiều điều kiện ưu ái khi đến buôn bán ở Việt Nam, và trên thực tế họ đã đóng một vai trò hết sức quan trong trong việc điều phối, lưu thông các nguồn hàng hóa của Đàng Trong ra bên ngoài thông qua hệ thống cảng biển, đặc biệt là Hội An[25]. Nhưng trong thời kỳ chúa Tiên, đối tượng được ông dành cho sự quan tâm chú ý nhiều nhất lại là các thương nhân Nhật Bản. Đây là một điểm khá đặc biệt vì hồi bấy giờ Nhật Bản vẫn còn khá xa lạ đối với Việt Nam. Chỉ với tầm nhìn vượt thời đại và một sự mẫn cảm đặc biệt về kinh tế mới khiến cho Nguyễn Hoàng nhận ra đây là đối tác quan trọng nhất mà ông cần phải kết nối và gắn bó.

     Khảo sát các văn thư trao đổi qua lại giữa chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong với phía Nhật Bản, chủ yếu trong khoảng đầu thế kỷ XVII, cho thấy rất nhiều điều thú vị. Họ Nguyễn ở Đàng Trong tuy bắt đầu “chạm mặt” với người Nhật bằng một vụ xung đột đáng tiếc với thương nhân Hiển Quý tại Cửa Việt vào năm 1585[26], nhưng Nguyễn Hoàng đã chủ động viết thư dàn hòa với lời lẽ rất khôn khéo. Đáp lại, Mạc phủ Đức Xuyên Gia Khang (Tokugawa Ieyasu)  của Nhật Bản cũng sáng suốt biết dẹp qua bên sự hiềm khích này để bắt tay cùng chúa Nguyễn, mở cửa cho thương thuyền từ Nhật Bản đến Thuận Quảng buôn bán. Chính nhờ thái độ chủ động tích cực này đã gây dựng được niềm tin cho cả hai phía, đây là cơ sở vững chắc cho mối quan hệ tốt đẹp giữa Đàng Trong và Nhật Bản, từ đó tạo nên trào lưu “Châu ấn thuyền” từ Nhật Bản đến Đàng Trong sau đó[27].

    Theo thống kê của Thành thế Vỹ, từ năm 1604 đến năm 1616, có 186 thuyền buôn Nhật Bản đến buôn bán với Đàng Ngoài, Đàng Trong, Chămpa, Campuchia, Phi Luật Tân, Nam Trung Quốc, Mã Lai… thì đã có 42 thuyền đến các cảng ở Đàng Trong, trong đó có Cửa Việt[28].

    Còn theo Nguyễn Văn Kim thì, trong thời kỳ từ 1604 đến 1634, tức tương đương với thời kỳ Châu ấn thuyền, đã có 86 lượt thuyền buôn Nhật Bản đến cập cảng Hội An, chiếm tỷ lệ 66,15% trong tổng số 130 thuyền Nhật Bản đến Việt Nam[29]. Người Nhật đến Hội An và lập nên cả một “Phố Nhật” tại đây để sinh sống và buôn bán. Đặc biệt, chúa Nguyễn Hoàng còn nhận một thương gia Nhật Bản là Hunamoto Yabeije (Di Thất Lang) làm con nuôi. Chính chàng rể Nhật này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc gắn kết mối quan hệ ngoại giao thân thiết giữa Đàng Trong và Nhật Bản.

    Buôn bán trao đổi với người Nhật đã mang lại những nguồn lợi rất lớn cho Thuận Quảng. Thương nhân Nhật mang đến vũ khí (gươm, đao, thuốc súng, đại bác- là những thứ mà quân đội chúa Nguyễn rất cần), đồ trang sức, đồ gốm sứ … và mua các sản phẩm đặc trưng của Đàng Trong như hồ tiêu, các loại hương liệu, các sản phẩm nông nghiệp, hàng thủ công truyền thống… Theo Critoforo Borri, giá trị thương phẩm trên mỗi chiếc thuyền Nhật Bản lên đến 4-5 triệu bạc[30].

    Trong bối cảnh đầy biến động của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, Nguyễn Hoàng đã nổi lên như một nhân vật đặc biệt, ông là người có công lao to lớn trong việc ổn định và phát triển vùng đất Thuận Quảng về mọi mặt, mở rộng bờ cõi về phía nam, đặt nền móng cho sự ra đời của Đàng Trong.

    Nguyễn Hoàng, với tầm nhìn vượt thời đại của mình đã chủ động tích cực trong việc phát triển nền kinh tế ngoại thương, chủ động mời gọi, tạo điều kiện cho thương nhân nước ngoài đến làm ăn buôn bán song song với việc ổn định, phát triển nền kinh tế nông nghiệp và sản xuất hàng hóa trong nước. Ông đã biến Thuận Quảng từ một vùng đất nghèo khó, lạc hậu, nền kinh tế ở trình độ rất thấp trở thành một vùng đất trù phú, giàu có với tiềm lực mạnh mẽ, trở thành một nơi “đô hội lớn” không chỉ của Việt Nam mà còn là một trọng điểm trên con đường thương mại Đông Tây thời bấy giờ.

    Có thể khẳng định, sự nghiệp và công lao của chúa Tiên Nguyễn Hoàng rất xứng đáng được tôn vinh, và còn hơn thế, ông đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá về tính chủ động, sáng tạo và khả năng hội nhập với thế giới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay./.

    TS.Phan Thanh Hải

    Nguồn: Tạp chí Đông Nam Á – https://tapchidongnama.vn/nguyen-hoang-nguoi-khoi-thong-he-thong-thuong-mai-mien-trung-cuoi-the-ky-xvi-dau-the-ky-xvii/


    [1] Chính sử của triều Nguyễn cho rằng, Nguyễn Hoàng vì muốn tránh âm mưu sát hại của Trịnh Kiểm nên đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa nhưng về danh nghĩa ông vẫn là người phụng mệnh vua Lê, và Trịnh Kiểm chính là người đã ủng hộ ông trong việc này.

    [2] Cư dân Thuận Hóa hồi bấy giờ bao gồm số cư dân Việt đã vào đây khai phá từ các thế kỷ trước, các loại tù binh chiến tranh, những người trốn tránh pháp luật, các loại trộm cướp, và một số cư dân bản địa Chămpa còn ở lại sau khi vương quốc Chămpa giao 2 châu Ô Lý cho Đại Việt.

    [3] Lương Văn Chánh (?- 1611) vốn là quan triều Lê đã theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa năm 1558, ông là người có công lớn trong việc đánh bại quân đội Chămpa xâm lấn biên giới năm 1578, sau đó được phong chức Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, tước Phù nghĩa hầu. Cả cuộc đời ông từ đó về sau gắn bó với việc chiêu tập dân cư, khai hoang mở đất ở biên giới phía Nam tại huyện Tuy Viễn, trấn An Biên. Sau khi ông mất được phong thần và được nhân dân lập miếu thờ. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1997): Đại Nam liệt truyện, bản dịch của Viện Sử học, t1, Nxb. Thuận Hóa, tr.96-97.

    [4] Trương Công Gia vốn là quan triều Lê, đã đưa gia quyến tình nguyện đi theo Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, có công lớn khi làm Trấn thủ Quảng Bình. Họ Trương Công về sau được chúa Nguyễn cho đổi chữ lót thành Trương Phúc. Con trai ông là Trương Phúc Phấn, cháu là Trương Phúc Hùng, Trương Phúc Cương, chắt là Trương Phúc Thức, Trương Phúc Phan… đều là những danh tướng của chúa Nguyễn. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1997): Đại Nam liệt truyện, sđd, t1, tr.132-135.

    [5] Quốc Sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.29.

    [6] Quốc Sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, bản dịch của Viện Sử học, sđd, tập 1, tr.33.

    [7] Lúc đó hai xứ Thuận- Quảng gồm có 5 phủ. Thuận Hóa có 2 phủ 9 huyện 3 châu: Phủ Tiên Bình (trước là Tân Bình), lĩnh 3 huyện: Khang Lộc, Lệ Thủy, Minh Linh, 1 châu Bố Chánh; phủ Triệu Phong, lĩnh 6 huyện: Vũ Xương, Hải Lăng, Quảng Điền (xưa là Đan Điền), Hương Trà (xưa là Kim Trà), Phú Vang (xưa là Tư Vang), Điện Bàn, 2 châu: Thuận Bình và Sa Bồn. Quảng Nam có 3 phủ 9 huyện. Phủ Thăng Hoa, lĩnh 3 huyện: Lê Giang, Hà Đông và Hy Giang; phủ Tư Nghĩa, lĩnh 3 huyện: Bình Sơn, Mộ Hoa và Nghĩa Giang; phủ Hoài Nhân, lĩnh 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn.

    [8] Việc xây dựng chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê (1601), chùa Sùng Hóa ở huyện Phú Vang (1602), chùa Long Hưng ở Quảng Nam (1602), chùa Bảo Châu ở Trà Kiệu (1607) và hàng loạt chùa chiền khác đã thể hiện rõ chính sách trên của chúa Nguyễn.

    [9] Năm 1611, nhân việc quân Chămpa xâm lấn biên giới, chúa Nguyễn Hoàng cho Chủ sự là Văn Phong đem quân đi đánh dẹp và chiếm luôn đất, lập phủ Phú Yên gồm 2 huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa (Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, t1, sđd, tr.36)

    [10] Đỗ Bang (1996), Phố cảng vùng Thuận – Quảng thế kỷ XVII-XVIII,  Nxb Thuận Hóa – Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, tr.17.

    [11] Giáo sĩ Cristoforo Borri khi đến Đàng Trong đầu thế kỷ 17 đã mô tả: “Còn về hải cảng thì thật lạ lùng, chỉ trong khoảng hơn một trăm dặm một chút mà người ta đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều rất thuận lợi để cập bến và lên đất liền” (Cristoforo Borri  (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. TP HCM, tr. 91).

    [12] Trần Quốc Vượng (1993), Vài suy nghĩ về văn hóa Quảng Trị cổ, in trong Trần Quốc Vượng: Dặm dài đất nước: những vùng đất, con người và tâm thức Việt, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr.61.

    [13] Xem Anthony Reid (1993), Southeast Asia in the age of commerce, vol.2: Expansion and crisis, Yale University Press, New Heven and London.

    [14] Nguyễn Văn Kim (2011), Xứ Đàng Trong trong các mối tương tác quyền lực khu vực in trong Việt Nam trong thế giới Đông Á- Một cách tiếp cận liên ngành và khu vực học. Nxb. Chính trị Quốc gia, HN, tr459.

    [15] Lê Đức Thọ (2014), Các tuyến thương mại mậu dịch ở Quảng Trị dưới thời các chúa Nguyễn, in trong Nguyễn Hoàng- người mở cõi. Phan Huy Lê- Đỗ Bang chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, tr.181-182.

    [16] Chỉ đóng thủ phủ tại khu vực Ái Tử/Trà Bát/Dinh Cát, Nguyễn Hoàng mới khống chế được cả tuyến đường Thiên lý bắc nam và hành lang kinh tế đông tây. Cả 3 dinh Ái Tử, Trà Bát và Dinh Cát đều nằm sát bên con đường Thiên Lý từ Bắc vào Nam. Xem các bản đồ cổ về vùng Thuận Hóa như Thiên Nam Tứ chí Lộ đồ thư 天南四至路圖書 (vẽ năm 1686), Giáp ngọ niên Bình Nam đồ 甲午年平南圖 (được cho là vẽ vào năm Giáp ngọ 1774, riêng Li Tana cho rằng vẽ vào cuối thế kỷ XVII, khoảng từ năm 1687-1690) đều có thể thấy rõ điều này. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục 撫邊雜cũng mô tả trấn dinh của họ Nguyễn (dinh Ái Tử năm 1775) và cựu dinh Ái Tử đều nằm gần đường Thiên Lý. Kết quả khảo sát thực địa của tác giả cũng đã xác định rõ các vị trí này đều nằm kề cận tuyến giao thông cả đường thủy và đường bộ từ Bắc vào Nam (Xem: Phan Thanh Hải (1997), Hệ thống Thủ phủ các chúa Nguyễn trên đất Quảng Trị và Thừa Thiên- Huế, Tc Thông tin Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên- Huế,  số 1, Phần I: “Những Thủ Phủ Đầu Tiên Trên Đất Quảng Trị: Ái Tử, Trà Bát, Dinh Cát”, Huế)..

    [17] Cristoforo Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Sđd, tr.91.

    [18] Với nhiều năm nghiên cứu về vấn đề này, Andrew Hardy cho rằng, trong khoảng từ thế kỷ XVI-XVIII, nền kinh tế của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong là một “nền kinh tế lai tạp” giữa hai mô hình kinh tế khác biệt: Kinh tế Chămpa dựa vào trao đổi buôn bán hàng hóa có giá trị cao giữa miền núi và miền biển, theo định hướng Đông-Tây, và mô hình kinh tế Việt Nam truyền thống là kinh tế trồng lúa và di dân, theo định hướng Bắc-Nam. Chính hệ thống kinh tế lai tạp này là nhân tố chủ chốt trong sự thành công và trường tồn của chế độ các chúa Nguyễn. Xem Andrew Hardy (2008), Nguồn trong kinh tế hàng hóa ở Đàng Trong, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Nxb. Thế Giới, tr .56 và 64.

    [19] Theo Dương Văn An trong Ô châu cận lục, cho đến giữa thế kỷ XVI, toàn bộ Thuận Hóa (không kể huyện Điện Bàn, đến năm 1604 mới tách ra để nhập vào Trấn Quảng Nam) mới có 522 thôn xã, thì đến năm 1773, Lê Qúy Đôn trong Phủ biên tạp lục đã thống kê có đến 882 xã thôn, phường, tăng đến 360 xã thôn.

    [20] Chẳng hạn vùng Quảng Trị đã có các sản phẩm địa phương khá nổi tiếng như dầu sơn, dầu rái ở tổng Bái Trời, dầu lạc ở Cam Lộ, chiếu cói Xuân Lâm, đồ đan lát ở Lan Đình, đồ mộc ở Cát Sơn, đồ gốm sành ở Sa Lung, Phước Lý, đồ sắt công cụ ở Đông Hà, Thượng Đô, vải ở Lập Thạch, Trâm Lý, bún ở Thượng Trạch, nón ở Bố Liêu, rượu ở Kim Long, bánh ướt ở Phương Lang… tham khảo: Lê Đức Thọ (2013), Các tuyến thương mại mậu dịch ở Quảng Trị dưới thời các chúa Nguyễn, sđd, tr.188.`

    [21] Dương Văn An (2001), Ô châu cận lục tân dịch hiệu chú, bản dịch và hiệu chú của Trần Đại Vinh và Hoàng Văn Phúc, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 29-32.

    [22] Lê Qúy Đôn (1973), Lê Qúy Đôn toàn tập, tập 1: Phủ biên tạp lục, Nxb. KHXH, HN, tr.321.

    [23] Quốc Sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, t1, sđd, tr.31.

    [24] Li Tana, Anthony Reid (2007), Southern Vietnam under the Nguyen, Documents on the economic History of Cochinchina (Đàng Trong) 1602-1777, Ibid, p.9-11.

    [25] Xem Phủ biên tạp lục có thể thấy rõ thương nhân người Hoa đóng vai trò then chốt trong việc lưu thông phân phối nguồn hàng ở mọi nơi, họ có mặt ở hầu hết các chợ đầu mối ở Đàng Trong, họ cũng là lực lượng chính để xuất khẩu hang hóa từ Đàng Trong qua Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.

    [26] Theo Đại Nam thực lục, vụ đụng độ của quân đội chúa Nguyễn do Nguyễn Phúc Nguyên, con trai Nguyễn Hoàng chỉ huy xảy ra tại Cửa Việt vào năm 1585 (Đại Nam thực lục, sđd, tr.32), nhưng căn cứ vào bức thư của Nguyễn Hoàng viết cho Mạc phủ Tokugawa thì sự kiện trên phải xảy ra vào năm 1600.

    [27] Phan Thanh Hải (2007), Quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản thế kỷ XVI-XVII nhìn từ 35 bức văn thư ngoại giao in trong Việt Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, tr.249.

    [28] Thành Thế Vỹ (1961), Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVI-XVII và XIX, Nxb Sử học, HN, tr46.

    [29] Nguyễn Văn Kim (2000), Chính sách đóng cửa của Nhật Bản thời kỳ Tokugawa- nguyên nhân và hệ quả, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.121.

    [30] Cristoforo Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, sđd, tr.90.

    ***

    LĂNG TRƯỜNG CƠ – NƠI AN NGHỈ CỦA CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG 👑

    🛕 Lăng Trường Cơ là nơi yên nghỉ của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525 – 1613), vị chúa Nguyễn đầu tiên, người có công khai phá và đặt nền móng cho sự phát triển của xứ Đàng Trong suốt hơn 400 năm.

    🌿 Sau khi qua đời năm 1613, Chúa Nguyễn Hoàng được an táng tại vùng núi Thạch Hãn (Quảng Trị), sau đó cải táng về vị trí hiện nay tại phường Long Hồ, Thành phố Huế, đặt tên là Lăng Trường Cơ.

    🏯 Lăng được xây dựng với kiến trúc cổ kính, mang đậm dấu ấn vương triều Nguyễn, hòa mình giữa thiên nhiên yên bình. Trên bia đá khắc ghi công lao to lớn của Chúa Tiên, người đã mở đầu cho sự phát triển bền vững của Đàng Trong, mở rộng bờ cõi Đại Việt về phương Nam.

    “ …Ai về đất Bắc ta đi với
    Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
    Từ thuở mang gươm đi mở cõi
    Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long

    – Nhớ Bắc – Huỳnh Văn Nghệ –

    🙏 Nếu có dịp đến Huế, đừng quên ghé thăm Lăng Trường Cơ để tưởng nhớ vị chúa tài ba đã đặt nền móng cho vùng đất kinh kỳ!

    Nguồn: FB Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

  • THIÊN ĐƯỜNG TÌM LẠI

    GS Trần Quí Phiệt

    Giáo sư Trần Quí Phiệt trước dạy Văn Chương Hoa Kỳ
    tại đại học Schreiner University, Kerrville, Texas.

    Đại học Đà Lạt qua chương trình Fulbright Việt Nam mời tôi lên tổ chức một giảng khóa về văn chương Hoa Kỳ cho ban giảng huấn tiếng Anh. Mặc dù Nga và tôi đã dự định đi thăm nhiều nơi mùa hè này, tôi quyết định nhận lời mời của đại học. Viếng thăm nơi tôi đã sinh ra và sống thời thơ ấu, điểm bắt đầu của cuộc đi tìm thời gian đã mất của tôi, [mục đích của cuốn sách này], là một cơ hội quí báu đối với tôi. Tôi náo nức chờ ngày trở về thế giới mộng mơ ấy.

    Hầu hết các hành khách đi trong xe với tôi là du khách Tây (tôi nghe họ nói tiếng Anh, tiếng Pháp, và một vài thứ tiếng khác tôi không hiểu) có lẽ đi Đà Lạt để ngắm cảnh. Nhìn vào hình dáng và cách ăn mặc, chắc họ thuộc nhóm người Tây sống ở vùng rẽ tiền trên đường Phạm Ngũ Lão gần chợ Bến Thành. Người Việt gộp chung nhóm ấy lại và gọi là “Tây Ba lô,” vì đồ đạc và lối sống của họ rất sơ sài. Họ muốn sống tiết kiệm đến mức tối đa để dành tiền đi du lịch. Đà Lạt là một phần của Việt Nam họ muốn thăm thú và khám phá sau chiến tranh.

    Tôi lên Đà Lạt không phải để xem phong cảnh, nhưng để dạy học và dùng thời giờ rãnh rỗi đi tìm quá khứ. Tôi muốn xem thử việc viếng thăm nơi tôi sinh ra có thể giúp tôi tìm lại được thiên đường đã mất của tôi không, nghĩa là những năm đầu tiên của thời thơ ấu, để viết cho xong cuốn hồi ký. Bốn mươi năm trước, sau khi tốt nghiệp đại học tôi viếng thăm Đà Lạt để có được chút “cảm nhận” thành phố tuổi thơ như thế nào. Mặc dù trở về nơi tôi sinh ra đem lại những hoài niệm tuyệt vời, lúc ấy tôi không cảm thấy rằng quá khứ và hoài niệm về quá khứ là hai thứ tôi không thể thiếu như bây giờ. Như hầu hết các sinh viên đại học trong phần cuối của thập niên 1950, trong một thời gian tôi say mê hình thức “thấp” của chủ nghĩa hiện sinh Pháp, ngây thơ áp dụng triết học carpe diem (sống vội) vào suy tư và cuộc sống. Sau khi lập gia đình, làm việc nhiều cho tương lai bản thân và cho gia đình chiếm hết thời giờ của tôi. Trẻ tuổi, thực tế, lạc quan, và bận rộn, tôi quan tâm về tương lai của tôi nhiều hơn quá khứ. Cái quá khứ tôi yêu thích rất mực trong thời thiếu niên của tôi ở Quảng Bình ngày càng lu mờ trong ký ức tôi.

    Mộng đẹp tôi xây, như nói trước đây, chấm dứt bất ngờ ngày 26 tháng 3 năm 1975 sau khi tin Huế mất đến tôi ở Hoa Kỳ. Cuộc sống dễ chịu tôi đang hưởng khi sắp tốt nghiệp tiến sĩ bỗng nhiên trở thành một hiện tại dài đằng đẵng đầy ác mộng sau khi tôi mất liên lạc với gia đình. Điều này kéo dài một vài năm. Mặc dù về sau tôi có thể tiếp tục hoạt động bình thường, tôi vĩnh viễn mất khả năng mơ mộng. Tôi khảo cứu và tham gia những sinh hoạt chuyên môn để giữ việc làm thay vì để thỏa mãn nhu cầu trở thành một học giả. Tôi ngày càng muốn tránh tiếp xúc với người (ngoại trừ trong lớp tôi phải cố gắng thành một thầy giáo thân thiện) và chỉ ưa tìm trốn tránh trong hoài niệm. Thời gian qua đi, tôi càng nhớ quá khứ nhiều hơn và dễ dàng hơn.

    Tôi choàng tỉnh từ giấc ngủ ngắn khi xe buýt ngừng lại nghỉ trưa ở Bảo Lộc, cách Đà Lạt khoảng 110 cây số. Nằm dưới chân cao nguyên Langbiang, thị trấn nhỏ này có một khí hậu mát mẽ và cảnh vật xanh tươi quanh năm. Chúng tôi xuống xe ở một quán rất bận rộn bán đủ loại đặc sản như cà phê, trà ô long, và bánh kẹo. Để giúp dễ chọn lựa, chúng tôi được mời nếm thử một số đặc sản đang trưng bày. Trong khi khách hàng người Việt tíu tít mua hàng, ồn ào mà cả với những người bán, các bạn đồng hành Tây Ba lô của tôi im lặng nhâm nhi các thức uống, mắt tò mò nhìn cái phần đất thú vị này của thế giới.

    Một giờ sau, xe chúng tôi bắt đầu leo con đường lượn quanh một rừng thông. Các cây thông cao vút, tĩnh lặng, và hùng vĩ so với khu rừng nhiệt đới rậm rạp, ướt át, trông dễ sợ ở phía dưới đồng bằng. Trước mắt tôi là rặng núi Langbiang một nửa chìm trong đám mây trắng. Trời hơi quá trưa một chút vào đầu tháng sáu, nhưng thời tiết rất mát mẽ. Chúng tôi chắc đã đến ngoại ô Đà Lạt rồi.

    Thông Đà Lạt – Image – Dalat,com

    Cơn ác mộng chấm dứt sau hai mươi tám năm dài nhưng tôi phải trả một giá quá đắt! Tôi đã mất cha tôi và tất cả những gì thân yêu và quan trọng đối với tôi: mái nhà, quê hương, và những mộng ước đời tôi. Khi ngồi trên chiếc xe buýt này đưa tôi đến nơi tôi sinh ra, hình ảnh của một thiên đường đã mất có liên hệ với những chuyến du hành bằng xe hỏa dâng lên trong tôi, dâng lên như làn sóng, cái này tiếp theo cái kia, khiến toàn thân tôi run lên. Chiếc xe chầm chậm leo lên con đường dốc sau cùng trước khi đến đích. Mở thật rộng cửa sổ xe và nhắm mắt, tôi hít mạnh mùi hương của núi rừng Langbiang và lắng nghe tiếng thông reo rì rào. Hình ảnh của tuổi thơ tôi lung linh trước mắt, càng lúc càng rõ nét trong trí tôi. Người tôi rung nhẹ do niềm vui và hồi hộp hòa lẫn với một cơn đau và tôi biết điều này có nghĩa là gì. Nó có nghĩa là tôi đang khắc khoải dấn thân vào một cuộc đi tìm thiên đường.

    Trong khi những âm thanh và mùi hương xưa cũ tôi cảm nhận bây giờ không khác những gì tôi cảm nhận như một đứa bé trong quá khứ, những người tôi yêu và những người yêu tôi không còn ở đây nữa. Tôi cảm nhận những âm thanh và mùi hương nhạy bén hơn lúc tôi còn bé. Chúng xuyên thủng mỗi một tế bào của thân thể tôi, khiến tôi choáng váng và nghẹt thở. Tim tôi đau nhói vì nỗi buồn và cô đơn khôn nguôi tràn ngập lòng tôi thay vì niềm vui thú thuần túy và hồi hộp như khi về thăm Đà Lạt năm 1960. Tôi như một người nào đó vui mừng vì sắp được về nhà bỗng nhận ra rằng mình không còn nhà nữa, đã mất tất cả ngoại trừ kỷ niệm. Tôi có thể tìm được thiên đường của tôi không khi cái còn lại của thiên đường là một số tiếng vang và mùi hương không đủ mạnh để giúp tôi đương đầu với thế giới xa lạ trong những ngày sắp đến ở thành phố này?

    Xe buýt chở chúng tôi chạy chậm vào đường một biệt thự xinh đẹp. Chúng tôi xuống xe trong không khí khá lạnh và khô của bầu trời xanh biếc tiêu biểu cho Đà Lạt. Đón tôi là một cô gái xinh đẹp. Nhờ đọc bảng tên tôi biết cô tên là Trần Thu Huyền thuộc Văn phòng Bang giao Quốc tế, viện Đại học Đà Lạt. Điều lạ lùng là tôi cảm thấy cô ấy không phải là người xa lạ mặc dù đây là lần đầu tiên tôi gặp cô, có lẽ bởi vì chúng tôi cùng mang một họ Trần và tôi đang trở về quê hương tôi. Thu Huyền đưa tôi đến viện đại học trong chiếc xe Toyota và bảo tôi đây sẽ là nơi tôi lưu trú trong suốt giảng khóa.

    Image – Internet

    Giảng khóa văn chương Hoa Kỳ của tôi họp buổi chiều hôm nay. Đại học làm chuyện này thành “quan trọng” bằng cách cho treo một băng rôn với dòng chữ lớn “Giảng khóa Văn chương Hoa Kỳ” trong giảng đường với tên tôi và học hàm của tôi ghi ở dưới. Các tham dự viên gồm có các giảng viên trẻ dạy tiếng Anh và sinh viên khoa Anh sắp tốt nghiệp.

    Sau bài giảng tôi cho lớp nghỉ một lát. Tôi bị bao vây bởi nhóm tham dự viên nhiệt tình với nhiều câu hỏi về nước Mỹ. Họ chú ý nhiều và hâm mộ một cách nhiệt tình cựu thù của đất nước họ, một “vấn đề nhạy cảm” mà Tiến sĩ Đông, hiệu trưởng đại học, yêu cầu tôi tránh trong giảng khóa này. Thật kỳ lạ trong lúc chính quyền cứng nhắc với chính sách đã vạch sẵn, các đồng nghiệp của tôi ở đây giữ một thái độ thoải mái đối với chính trị.

    Mấy ngày sau khi khóa học bắt đầu và khi chúng tôi quen nhau nhiều hơn, tôi nhận thấy rằng các tham dự viên có nhiều hứng thú về đề tài tôi giảng hơn là về việc tôi làm ở Mỹ. Chúng tôi theo sát một lịch trình khá “căng,” đề cập nhiều vấn đề từ những giòng chính trong văn học Hoa Kỳ đến phương pháp dạy văn chương Hoa Kỳ cho sinh viên Việt Nam, thẩm định luận văn của sinh viên về văn chương. Một vài tham dự viên còn phát biểu sẵn sàng “đăng ký” dạy văn chương Hoa Kỳ trong tương lai nếu có cơ hội. Điều làm tôi cảm động là trong thời gian tôi thăm viếng ở đây là các bạn tin tưởng tôi, chia xẻ với tôi những quan tâm và ước nguyện của họ. Họ bảo tôi họ thiếu nhiều thứ: sách cho thư viện, học bổng học ngành cao học tại Mỹ, cố vấn chuyên môn về soạn thảo chương trình, phương pháp dạy học, vân vân. Họ cứ tưởng rằng tôi đại diện cho nước Mỹ và có thẩm quyền trong những vấn đề này!

    Tôi may mắn được các đồng nghiệp chấp nhận nên không còn lo ngại trước khi đến đây sẽ gặp những người lạ kém thân thiện hay đầy ác cảm. Đã vượt qua được trở ngại đáng sợ này, tôi cảm thấy sẵn sàng dấn thân vào việc đi tìm quá khứ của tôi. Tôi phải làm ngay bây giờ. Giảng khóa sẽ chấm dứt tuần này, và tôi không còn bao nhiêu thời gian nữa. Từ khi tôi đến đây, đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy quyết tâm dồn hết thời gian của tôi thực hiện điều quan trọng đó đối với tôi. Những người tôi đang liên hệ không đại diện cho thế giới đã mất của tôi. Thế giới đó thuộc về những người đã chết, những kẻ vắng mặt, những người tôi biết hay có thể không biết nhưng tất cả  đã làm nơi tôi sinh ra thành một cõi thiên đường. Chính cái thế giới đó và những con người đó tôi muốn chiêu hồn và hòa nhập nhiều nhất.

    Lúc tôi dẫm chân lên những phiến đá của con đường nhỏ tôi có thể đã từng dẫm chân lên bốn mươi năm trước, tôi tự nhiên trôi vào khoảnh khắc vui sướng ấy của quá khứ. Khêu gợi sự sống dậy của những người quá cố như hai Bác Gia, Cô Hoa, và nhất là Như Cẩm (trước khi về Saigon tôi dự tính sẽ đi thăm lần nữa nghĩa địa nơi em tôi đang nằm ở đâu đó) bây giờ trở thành một tiến trình dễ dàng, nhanh chóng đối với tôi. Tất cả chỉ cần trở về mãnh đất xưa cũ nơi chúng tôi cùng sống với nhau. Sự phục sinh của họ sẽ vô cùng mạnh mẽ, những hình ảnh của họ sống động và hấp dẫn, và tôi sẽ sống lại trong khoảnh khắc quá khứ hạnh phúc của tôi.

    Đà Lạt năm xưa

    Thật hồi hộp cho một kẻ lưu vong cao tuổi được tiếp xúc với mặt đất cũ trở lại! Mặc dù tôi chưa đến thăm Cây Số Sáu (nơi chúng tôi ở ngày xưa), tôi đã nghe tiếng vọng của quá khứ từ vùng đất ấy của Đà Lạt, cách tôi những đến năm cây số ngàn, khi tôi dẫm chân lên sân trường đại học ở đây. Không phải chỉ những giòng đất hội tụ lại, tất cả linh hồn của quá khứ – chị Ngành, Bác trai và Bác gái Gia, Cô Hoa, em Như Cẩm của tôi, và tất cả những người tôi không quen biết – đều tụ họp ở đây với tôi. Bởi vì những người này nay đã thành những hồn ma, không còn bằng xương bằng thịt nữa, họ hiện ra và biến mất nhanh chóng.

    Những hình ảnh của quá khứ xuất hiện liên tục nhưng bị ngắt quãng vì dường như ký ức của tôi gặp khó khăn không theo kịp thời gian và cơ hội đã mất do bởi tôi xa quê nhà quá lâu, hay dường như tôi không còn bao nhiêu thời gian nữa. Hình ảnh của quá khứ mong manh như sức khỏe tôi, như thân phận con người của tôi. Không còn được che chở bằng tuổi trẻ và lý tưởng đã khiến tôi xem thường sự vui sướng được nhớ lại quá khứ của tôi trong khi thăm viếng Đà Lạt năm 1960, và vẫn còn đang hồi phục từ cơn ốm nặng tôi mắc phải hai năm về trước, tôi cảm thấy một cách sâu sắc sự ngắn ngủi của đời người, ý thức hơn bao giờ hết sự khẩn cấp phải đào xới quá khứ bị lãng quên để sống với quá khứ đó càng nhiều càng tốt trong quãng đời còn lại của tôi.

    Khi Thu Huyền đến đưa tôi đi thăm thành phố, tôi bảo cô ấy rằng tôi muốn dọn ra ngoài một khách sạn và ở thêm một vài ngày nữa để tìm hiểu thêm sinh quán và thành phố cũ của tôi. Tôi muốn tự riêng mình làm cái tôi gọi là cuộc hành hương vào miền đất ngày xưa là thiên đường của tôi. Cùng một lúc tôi muốn xem những hấp dẫn của một thành phố tôi nghe đến rất nhiều nhưng chưa có dịp vì tôi rời Đà Lạt khi còn quá bé, cho nên tôi hoan nghênh khi Thu Huyền khuyên tôi nên dọn vào một khách sạn nhỏ ở vùng Cây Số Sáu.

    Khách sạn tôi ở nằm trên đỉnh đồi. Thu Huyền đưa tay chỉ một vùng có những ngôi nhà nhỏ mái đỏ và bảo tôi đó là Cây Số Sáu. Bây giờ có nhiều nhà hơn năm 1960 khi tôi đến thăm gia đình Bác Gia, nhưng những vườn rau xanh mướt, ngăn nắp, gọn gàng, nối nhau liên tục trông quen thuộc đến độ nao lòng. Tim tôi bỗng nhói lên khi theo hướng chỉ tay của Thu Huyền tôi nhìn ngọn đồi trắng đối diện khách sạn và Thu Huyền bảo tôi đó là nghĩa địa thành phố. Như Cẩm đã được chôn ở đây nhưng tôi không tìm được mộ em khi tôi đến thăm Đà Lạt năm 1960. Quá khứ chắc đang lẩn quất đâu đây và tôi sẽ phải gặp chắc không lâu đâu.

    Cảm giác tràn ngập người tôi khi bước xuống xe buýt và đặt chân lên Đà Lạt một tuần trước đây đang trở lại tôi, chỉ khác là lần này càng mạnh hơn. Tôi cảm thấy, nhìn thấy, và nghe những âm thanh và hình ảnh của quá khứ không những dâng lên trong tôi mà còn đổ xuống người tôi từ không khí, mặt đất, cảnh vật, sự vật quanh tôi không ngừng và như không kềm chế được. Những cái này chắc phải do chất chứa và dồn nén rất lâu! Một cái rung nhẹ chạy khắp người tôi có lẽ do thần kinh tôi vừa bị tổn thương vừa suy nhược. Nổi bật lên giữa khối hình ảnh được phục hồi là những người đã quá cố – Như Cẩm, chị Ngành, hai Bác Gia, Cô Hoa. Ngay cả cha mẹ tôi và Đoan Nghiêm yên nghỉ những nơi khác nhau cũng tụ họp ở đây. Nó giống như một đoàn tụ gia đình đối với tôi. Người, đồ vật, sự vật, biến cố, quang cảnh cũng tranh nhau xuất hiện, mặc dù không sắc nét cho lắm – những đồng bào thượng với những bộ mặt buồn bã, chịu đựng, nhẫn nại bước hàng một trước mặt nhà tôi trên đường đi vào thành phố; tôi lẻn ra ngoài sân ban đêm để đọc câu thần chú tôi học thuộc lòng từ một quyển truyện Tàu để triệu thỉnh các vị thần đến phục vụ cho tôi; gia đình tôi ăn trưa với vị sư già trụ trì tại chùa Linh Sơn ở đó tôi thấy một con rùa lớn nghe đồn hàng năm trở về nhân húy nhật vị hòa thượng lúc còn tại thế đã nuôi nó . . . 

    Dồn nén qua nhiều năm tháng dài, quá khứ được khai quật nổ bùng vào cõi hữu thức của tôi, xâm chiếm người tôi, thấm sâu vào thân thể và linh hồn tôi, khiến tôi cảm thấy chóng mặt, cảm thấy mất ý niệm về thời gian. Khi một cảnh tượng cũ vừa tan biến một cảnh tượng mới thay thế ngay và tiến trình ấy tiếp tục đến vô cùng. Tôi cảm thấy quyền lực của quá khứ ấy, sức nặng của nó ép trên người tôi nhưng tôi diễn tả không được. Tôi nhắm mắt để cảm, nghe, lắng nghe quá khứ yêu dấu của tôi – những người yêu dấu của tôi, quê nhà yêu dấu của tôi – hồi sinh trở lại.

    Trong cuộc đi tìm quá khứ những người yêu dấu của tôi là những người chết đã lâu hay vắng mặt. Tìm được họ có nghĩa là tìm được quá khứ của tôi. Sau bao nhiêu năm đã qua bây giờ tôi ý thức được rằng quá khứ không mất nhưng ở trên đầu ngón tay của tôi, bởi vì những người tôi yêu và những người yêu tôi vẫn còn ở quanh đây và có thể chiêu hồn rất nhanh. Cũng như mặt đất – Đà Lạt và những quang cảnh của nó –không thay đổi và không thể bị phá hủy, những người của tôi không bị ảnh hưởng bởi luật hoán chuyển. Người chết không ra đi vĩnh viễn, nhưng yên nghỉ trong vùng đất này, được nuôi dưỡng và bảo vệ trong giấc ngủ yên lành bởi mãnh đất này cho đến khi tôi trở về đem họ ra khỏi mặt đất để đoàn tụ với tôi.

    Người chết khi được cầu đảo trở về đem theo thế giới của họ – thế giới đã mất của tôi – với tất cả màu sắc, hình ảnh, âm thanh, và mùi hương của nó. Sự tưởng nhớ chữa lành đầu óc thương tổn của ta bằng cách cho chúng ta hưởng những khoảnh khắc vui sướng và chốt kín những giai đoạn đau khổ buồn rầu. Tôi nhớ như in thời gian em tôi sống với tôi, không phải lúc em tôi thở hơi cuối cùng. Còi báo động khiến chị Ngành, tôi, và bọn trẻ con chạy tìm hầm ẩn trú tuy là một sự khủng khiếp, nhưng tôi lại chỉ nhớ chị Ngành dịu dàng, con người chị tượng trưng yêu quí, cầm tay tôi trong tay chị khi đưa tôi đến nơi an toàn. Khi tôi nhớ đến chị ngày hôm nay, một cảm giác ấm áp, sung sướng giống như mối tình đầu dâng lên trong tôi. Toàn thể diễn tiến khôi phục quá khứ liên quan đến ký ức tự nhiên vì tôi không moi móc trong đầu tôi cố nhớ và đào xới quá khứ; nó chỉ tuôn ra từ cõi sâu thẳm của tâm thức tôi một cách tự nhiên và nhẹ nhàng. Khi tình trạng tuyệt vời ấy ngừng vì tôi kiệt sức hay ý thức can thiệp, một khoảnh khắc quá khứ khác hiện ra tức thì dìu tôi vào một giai đoạn mộng mơ khác.

    Trở về một đất nước nơi ấy những người tôi biết đều chết đã lâu hay vắng mặt và đất nước đó, nhất là thế hệ trẻ, nay thuộc về một chế độ dân miền Nam chúng tôi chạy trốn hai mươi lăm năm trước, thoạt đầu tôi cảm thấy như một kẻ lưu đày, một người xa lạ, một linh hồn lạc lõng. Chỉ bây giờ khi trở về sinh quán của tôi tôi mới hiểu rõ ràng mục đích cuộc đi tìm. Đó là thế giới đã qua và những người trong thế giới ấy –những người đã chết và những người vắng mặt—mà tôi muốn phục hồi trong chuyến về quê này.

    Image – vnexpress.com

    Những người sống không phải là mối quan tâm của tôi vì tôi không quen biết họ. Về mặt tâm lý và tình cảm, thế giới đã qua này là thế giới duy nhất tôi có thể cảm thông, là nơi tôi cảm thấy như ở nhà bởi vì thế giới đó và những người ở đấy dễ được nhận biết, quen thuộc, quí báu, và quan trọng đối với tôi. Tôi có thể cảm thông và hòa nhập với họ và thế giới của họ bởi vì chiêu hồn họ có nghĩa là chiêu hồn bản thể ngày xưa của tôi, đoàn thể yêu quí của tôi. Tôi thấy tôi, cậu bé con, đang hưởng thời gian vui thú nhất đời cùng với họ. Trong thế giới thần tiên của tuổi thơ cậu bé chỉ biết vui đùa, hoàn toàn không biết âu lo là gì, không hay biết rằng có phải thời gian qua đi làm cậu khôn ngoan hơn hay nguyên do vì cậu đau khổ, buồn rầu. Khi kết nối lại với những người của tôi trong quá khứ tôi có thể học hỏi họ cách chinh phục thời gian. Bởi vì họ không còn tồn tại trong thế giới hữu hạn, không còn là những người sinh ra để chết, và không còn trong vòng đau khổ, buồn rầu, thế giới của họ và thế giới của tôi không thay đổi. Khi hồn quá khứ của tôi được chiêu gọi, em gái tôi một đứa bé hai tuổi, gia đình tôi là gia đình hạnh phúc nhất thế giới, và cậu bé bảy tuôi ngây thơ, vô tư lự chính là tôi.

    Tôi quyết định không đi thăm nghĩa địa nữa. Bốn mươi năm trước tôi đã không tìm được mộ của Như Cẩm, cho nên bây giờ có cố tìm nữa cũng vô ích. Tôi cũng không muốn biết hai Bác Gia, Cô Hoa, Hà, và chị Ngành sống ở đâu sau khi tôi gặp họ lần cuối. Họ, tất cả những quang cảnh của Đà Lạt trong quá khứ, và toàn thể tuổi thơ của tôi đều ở trong tôi, không ở chốn nào khác.

    Trước khi trở về Saigon tôi chỉ muốn nhìn lại cánh rừng thông không xa chỗ nhà tôi thưở xưa. Khi xưa tôi thường đến đây để mơ mộng sau khi đọc sách. Tôi thường đi theo mùi hương của các nhân vật tôi ưa thích—hư cấu nhưng hiện thực và hấp dẫn biết bao. Sau khi em tôi qua đời tôi cũng thường đến đây để khóc một mình bởi vì tôi không muốn ai biết tôi thương nhớ em tôi. (Ngoài cha tôi, tôi là người bị ảnh hường rõ rệt bởi cái chết của Như Cẩm.) Những điều tôi cảm thấy hôm nay không khác với cái đã hằn trong ký ức của tôi từ thời ấu thơ – những cây thông cao ngất trời rì rào trong cơn gió nhẹ, mùi hương ngào ngạt của cánh rừng, cảm giác vui thú yên lành được về nhà.

    Trèo lên được nửa ngọn đồi khi tôi quay mình lại nhìn xuống thành phố dưới xa, tôi bỗng cảm thấy choáng váng vì chóng mặt, kiệt sức, và sợ hãi. Đầu tôi như xoay tròn, hai chân tôi run run. Tôi có đủ sức khỏe và thời gian để trèo lên đấy trong cuộc đời còn lại của tôi không? Tôi có thể thành công phục hồi quá khứ hạnh phúc không dài lâu, càng ngày càng cách xa tôi, xa dần tầm với của ký ức yếu ớt của tôi không? Sự đi tìm của tôi thường bị quấy phá bởi những hồi ức về một quá khứ khác mãi ám ảnh tôi, không cho tôi yên mặc dù tôi cố không nghĩ đến nó. Tôi có thể gọi quá khứ này là quá khứ, nghĩa là, khi nó bắt đầu sau tuổi thơ hạnh phúc của tôi, trải qua ba mươi năm của cuộc đời tôi, và mặc dù nó chấm dứt với sự đoàn tụ của gia đình tôi tại Mỹ, vẫn còn vang dội và hằn đau trong ý thức của tôi như một vết thương mới hay không? Trong giấc ngủ của tôi, và đôi khi cả khi tôi đã tỉnh ngủ cái quá khứ khủng khiếp lúc trước ấy trở lại tấn công tôi với cùng một sức mạnh như trước mặc dù ít thường xuyên hơn trong những năm đầy ác mộng sau khi tôi mất liên lạc với gia đình. Bởi vì “quá khứ” này chưa chấm dứt nhưng chỉ là một hiện tại đằng đẵng đau đớn đối với tôi, và đó không phải là mục đích đi tìm của tôi. Đi nhiều nơi để tìm dấu vết quá khứ êm đềm và nhất là trở về chốn tôi sinh ra, tôi nhìn thoáng thấy được quê nhà đánh mất của tôi. Nhưng ảo tưởng này có kéo dài được không? Nó có đủ mạnh để làm giảm đi cơn đau buồn đã ám ảnh tôi từ lúc tôi mất hết tất cả những giấc mơ của cuộc đời và phải sống kiếp lưu vong nên phải trở về tìm thiên đường đánh mất này?

    Tôi thấy mệt mỏi trước khi tìm cách trèo lên đỉnh ngọn đồi tôi ưa thích ngày xưa. Trước mắt chỗ tôi đứng bây giờ là nghĩa địa Đà Lạt, nơi em tôi đang nằm, lấp lánh trong ánh sáng cuối cùng của ngày. Như Cẩm và những người chết khác thân yêu đối với tôi đã rời cuộc đời đầy thương đau này từ lâu và bây giờ họ đang yên nghỉ. Nhưng ngày mai tôi phải về Saigon để chuẩn bị trở lại Mỹ. Tôi phải trở lại để sống hết kiếp lưu vong định mệnh của tôi. Tôi e rằng đây có thể là lần cố gắng cuối cùng tôi tìm thiên đường đích thực. Tôi không nghĩ tôi có thể trở về lần nữa bởi vì tôi sẽ quá già yếu không lo nổi việc khó khăn như thế và thiên đường chỉ có thể tìm lại được một lần trong đời người. Tuy nhiên, trong khi cuộc đi tìm thiên đường của tôi không hoàn toàn thành công – không có cuộc đi tìm thiên đường nào hoàn toàn thành công cả – nó cũng cho tôi cơ hội khai quật quá khứ để thưởng thức một lát. Đó là điều quá mong đợi của tôi trước cuộc hành trình này. Bây giờ tôi đã tìm được quá khứ với những quang cảnh, sự vật, và những con người của nó, tôi có thể đem tất cả về Mỹ với tôi. Điều này sẽ làm tăng thêm nỗi nhớ quê hương bởi vì nó sẽ mãi mãi nhắc tôi đến sự hiện diện của những thứ ấy trong người tôi. Nó cũng giống như mang theo quê hương và người của mình đi lưu vong với mình. Nhưng xét cho cùng, như thế cũng tốt hơn là khắc khoải buồn rầu và dày vò hối hận bởi vì tôi có thể tìm được an ủi và ngay cả sức mạnh từ những người và những gì đã và còn mãi yêu quí đối với tôi.

     Trần Quí Phiệt

    *Phỏng dịch từ nguyên tác “Paradise Regained” đã in trong tạp chí “Cha: An Asian Literary Journal, June 2014″. 

    Trần Quí Phiệt – Nguyên là giáo sư Văn Chương Anh tại Đại học Schreiner,  Kerrville, Texas. Ông là anh ruột của nhà văn Trần Hoài Thư. Các ấn phẩm của ông bao gồm một nghiên cứu về ảnh hưởng của William Faulkner trong văn chương của nước Pháp, và các bài tiểu luận về văn học Hoa Kỳ và văn học Mỹ gốc Việt trong các tuyển tập và tạp chí khác nhau. Bản dịch của ông về văn học Việt Nam đương đại sang tiếng Anh đã xuất hiện ở Việt Nam: “Người đồng hành văn học” (Wherwhereouts, 1995); “Bản Sắc Việt trong cuộc Đối Thoại”  (Palgrave MacMillan, 2001), “Tập San Tam Cá Nguyệt Michigan” (Fall 2004), và những nơi khác. Kể từ khi nghỉ hưu năm 2002, Ông đã dành hết tâm huyết cho việc viết và nghiên cứu nhà văn Marcel Proust. Gần đây ông đã hoàn thành cuốn hồi ký văn học của mình trong thời gian được bổ nhiệm làm học giả Fulbright tại Việt Nam vào năm 1999-2000.

    Nguồn: https://qghc.wordpress.com/2021/02/22/thien-duong-tim-lai/

    https://www.gio-o.com/Chung2/TranQuyPhietThienDuongTim.htm

  • Vì sao người Huế ăn cay?

    17/01/2013

    Ai cũng bảo người Huế sao ăn cay thế? Nhưng hãy thử đến Huế một lần trong những ngày đông giá rét hay những ngày mưa dầm lê thê thì mới hiểu hơn vì sao vị cay nồng của ẩm thực cố đô lại quyến rũ đến vậy.17/01/2013

    Người Huế thích ăn cay!

    Khó có một vùng miền nào tại Việt Nam mà người dân lại thích ăn cay như xứ Huế. Những gia vị cay như ớt, tỏi, tiêu, hành… ở Huế tuy chẳng phải “đặc sản”, nhưng đã qua tay chế biến ở các đầu bếp dân gian trở nên nổi tiếng khắp nước.

    Bánh bột lọc bọc tôm điểm bằng rừng ớt tươi 

    Đơn cử như ớt ở Huế có nhiều loại: ớt mọi, ớt hiểm, ớt chỉ thiên, ớt chìa vôi. Cách pha trộn làm nước ớt Vinh Xuân (Phú Vang) giúp gia vị này trở nên vô cùng nổi tiếng. Nước ớt Vinh Xuân không bị lên men, nấm mốc khi để cả năm trời, nhưng lại cực kỳ thơm ngon, từng được xuất khẩu sang Đông Âu và là món đặc sản của Huế không kém gì rượu làng Chuồn, cau Nam Phổ, trầu chợ Dinh, thanh trà Nguyệt Biều, quýt Hương Cần…

    Hai ông “vua ớt” Bùi Ngọc Vinh, Bùi Ngọc Khánh từng được Đài KBS Hàn Quốc thực hiện phóng sự người ăn ớt như ăn khoai cũng xuất thân từ Huế. Ngày xưa ở Huế còn có làng Phong Lai được cho ăn ớt trừ cơm vào những ngày vụ mùa thất bát, đủ thấy người Huế ăn cay “siêu đẳng” đến cỡ nào!

    Đơn cử như ớt ở Huế có nhiều loại: ớt mọi, ớt hiểm, ớt chỉ thiên, ớt chìa vôi. Cách pha trộn làm nước ớt Vinh Xuân (Phú Vang) giúp gia vị này trở nên vô cùng nổi tiếng. Nước ớt Vinh Xuân không bị lên men, nấm mốc khi để cả năm trời, nhưng lại cực kỳ thơm ngon, từng được xuất khẩu sang Đông Âu và là món đặc sản của Huế không kém gì rượu làng Chuồn, cau Nam Phổ, trầu chợ Dinh, thanh trà Nguyệt Biều, quýt Hương Cần…

    Hai ông “vua ớt” Bùi Ngọc Vinh, Bùi Ngọc Khánh từng được Đài KBS Hàn Quốc thực hiện phóng sự người ăn ớt như ăn khoai cũng xuất thân từ Huế. Ngày xưa ở Huế còn có làng Phong Lai được cho ăn ớt trừ cơm vào những ngày vụ mùa thất bát, đủ thấy người Huế ăn cay “siêu đẳng” đến cỡ nào!

    Chén nước chấm cho tô bánh canh Nam Phổ ở Huế

    Lý giải cho đặc điểm ẩm thực này là do người dân muốn chống lại cái lạnh và mưa dầm như một phương thức thích nghi với cuộc sống. Trong sử sách còn ghi, khi Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Hóa, cư dân Việt đã học tập người Chăm về việc sử dụng gia vị cay (đặc biệt là ớt) để dung hòa với vùng đất và khí hậu còn lạ lẫm, mà Tố Hữu từng viết: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên?”.

    Đa dạng món cay

    Hằng ngày, trên bàn ăn của người Huế (gồm món canh, cá, thịt, dĩa rau sống…) luôn có một dĩa muối tiêu ớt, dĩa tương ớt hay một chén nước mắm ớt tỏi. Đặc biệt không thể thiếu tương ớt.

    Cơm hến đỏ màu nước ớt

    Tương ớt Huế là hỗn hợp gồm ớt tươi, tỏi tươi, muối, đường, dầu ăn và nước mắm ngon trộn lại. Người Huế dùng tương ớt nhiều trong những món ăn buổi sáng sớm (bánh mì, bánh canh…). Hiện nay, tương ớt Huế đã trở thành một món quà du lịch bên cạnh tôm chua, mè xửng vì nó hoàn toàn không có chất phụ gia độc hại mà còn rất tiện dụng trong những bữa ăn hàng ngày.

    Đến Huế trong mùa này, khi cảm thấy sức nóng của những tách trà, độ ấm những chiếc áo bông không đủ làm nóng thân thể, du khách hoàn toàn có thể dùng đến các gia vị cay như ớt, tỏi, tiêu… trong buổi ăn để giữ thân nhiệt và đẩy lùi những căn bệnh mùa đông như nhức đầu, sổ mũi, cảm cúm…

    Đầu tiên, phải kể đến bún bò Huế, món ăn có gốc tích từ thời các chúa Nguyễn vào đất Thuận Hóa. Ăn bún bò Huế vào những ngày mưa rét, du khách sẽ có ngay cảm giác cả thân thể được sưởi ấm tức thì bởi sức nóng hừng hực khi áp tay vào tô bún bò Huế vừa mới được múc từ nồi đỏ lửa đem lên.

    Nồi bún bò Huế với nước bún, thịt bò, giò heo, chả tôm, gạch cua, huyết… được người phụ nữ Huế nêm nếm sả, ớt màu, ớt bột, tiêu, tỏi, hành… rất tính toán, cẩn thận, cốt sao để phù hợp với khí trời. Du khách chưa đủ “ép phê” còn có thể tự mình nêm nếm thêm ớt tươi, ớt tương hay nước mắm ớt tỏi.

    Kế đến, không thể không nhắc đến món cơm hến, món ăn bình dân đặc trưng của cư dân cố đô. Một tô cơm hến, ngoài hến, lá môn, rau ngò, tóp mỡ, khế chua, nước hến… còn có vị cay đặc trưng của ớt, tỏi và gừng.

    Hít hà tô bún với ớt tươi

    Vào một ngày mưa rét mà ăn được một tô cơm hến vào buổi sáng sớm, ắt hẳn du khách ai cũng phải xuýt xoa. Vị ớt, tỏi cay xè từ miệng, xộc lên sống mũi, nóng đến từng thớ thịt. Ăn xong tô cơm hến và uống một tô nước hến có gừng, du khách sẽ cảm thấy mồ hôi đổ ra, lưỡi tê rần, người “bốc hỏa” cả lên như ngồi bên bếp lửa hồng chống rét. Quả thật, cơm hến là một liều thuốc ẩm thực khá công hiệu khi vui chơi ở Huế trong những ngày giá lạnh.

    Ngoài bún bò, cơm hến, Huế còn có rất nhiều những món ăn có vị cay khá thú vị. Đó là vị cay của sả, ớt trong món ốc Trường An; vị cay của nước mắm ớt trong tô bánh canh Nam Phổ, trong dĩa bánh lọc bà Đỏ Nguyễn Bỉnh Khiêm; vị cay của dĩa muối ớt ở quán chân gà nướng Mai Thúc Loan; vị cay của nồi nước lẩu của món lẩu dê Kim Long, lẩu hải sản Thuận An…

    Bởi vậy, trong những ngày này, lượng khách đến những quán xá, địa điểm ẩm thực nói trên đều chật kín. Ai đến Huế đều nhớ về vị cay xứ Huế, như một trải nghiệm độc đáo vào những giá rét, mưa dầm trên mảnh đất cố đô.

    Nguyễn Văn Toàn
    Ảnh tư liệu

    Nguồn: https://thanhnien.vn/vi-sao-nguoi-hue-an-cay-185632013.htm

    Phan Nữ Lan chuyển từ bạn

  • Các cuộc biểu tình của người di cư ở Anh gây ra những cuộc đối đầu giận dữ khi chính phủ phải loay hoay tìm cách ứng phó

    Bài viết của PAN PYLAS và BRIAN MELLEY

     Cập nhật 6:00 chiều PDT, ngày 24 tháng 8 năm 2025

     LONDON (AP) — Những người phản đối và ủng hộ người di cư đã đối đầu nhau trong các cuộc đối đầu dữ dội tại các cuộc biểu tình diễn ra trên khắp nước Anh vào dịp cuối tuần lễ khi chính phủ đang loay hoay giải quyết hậu quả từ lệnh của tòa án buộc một khách sạn ở ngoại ô London phải trục xuất người xin tị nạn.

     Phán quyết này đã gây đau đầu cho chính phủ, vốn đang chật vật trong việc hạn chế dòng người di cư trái phép và thực hiện trách nhiệm tiếp nhận những người xin tị nạn.

     Nhập cư đã trở thành một điểm nóng chính trị khi các quốc gia phương Tây đang cố gắng đối phó với dòng người di cư tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn khi họ chạy trốn khỏi các quốc gia bị chiến tranh tàn phá, nghèo đói, các khu vực bị tàn phá bởi biến đổi khí hậu hoặc đàn áp chính trị. Cuộc tranh luận ở Anh tập trung vào những người di cư vượt eo biển Manche trên những chiếc thuyền quá tải do những kẻ buôn người điều khiển, cũng như căng thẳng leo thang về việc cung cấp chỗ ở cho hàng chục nghìn người xin tị nạn bằng chi phí công.

     Để góp phần giải quyết cuộc khủng hoảng, chính phủ đã thông báo hôm Chủ nhật rằng họ sẽ đẩy nhanh quá trình kháng cáo xin tị nạn, điều này có thể dẫn đến nhiều vụ trục xuất hơn và giải quyết số lượng hồ sơ tồn đọng.

     Đây là một cái nhìn tổng quan về vấn đề:

    Các cuộc biểu tình

     Vòng biểu tình mới nhất diễn ra sau nhiều tuần biểu tình bên ngoài Khách sạn Bell ở Epping, ngoại ô London, sau khi một cư dân khách sạn bị cáo buộc cố gắng hôn một bé gái 14 tuổi và bị buộc tội tấn công tình dục. Người đàn ông này đã phủ nhận cáo buộc và sẽ phải ra hầu tòa vào cuối tháng này.

    Hội đồng Quận Epping Forest đã giành được lệnh tạm thời đóng cửa khách sạn do “mức độ biểu tình và gây rối chưa từng có”, dẫn đến một số vụ bắt giữ.

     Phán quyết của Tòa án Tối cao hôm thứ Ba có lợi cho hội đồng – mà chính phủ muốn kháng cáo – đã khơi mào cho những người biểu tình chống người nhập cư tụ tập dưới khẩu hiệu Bãi bỏ Hệ thống Tị nạn để biểu tình vào cuối tuần. Nhóm Stand up to Racism đã tập hợp những người phản đối.

     Hai nhóm đã buông lời lăng mạ nhau tại một số khu dân cư hôm thứ Bảy, trong khi cảnh sát phải vật lộn ở những nơi như Bristol để ngăn cách họ. Có hơn một chục vụ bắt giữ, nhưng không có vụ bạo lực nghiêm trọng nào được báo cáo.  Các nhóm đã tụ tập ôn hòa bên ngoài các khách sạn từng là nơi ở của người di cư ở Birmingham và Canary Wharf, London vào Chủ nhật.

    Các khách sạn

     Chính phủ có nghĩa vụ pháp lý phải cung cấp chỗ ở cho người xin tị nạn. Việc sử dụng khách sạn để làm việc này từng là một vấn đề nhỏ cho đến năm 2020, khi số lượng người xin tị nạn tăng mạnh và chính phủ Bảo thủ lúc bấy giờ phải tìm cách mới để cung cấp chỗ ở cho họ.

    Theo số liệu của Bộ Nội vụ công bố hôm thứ Năm, tính đến tháng 6 năm 2025, đã có kỷ lục 111.084 người nộp đơn xin tị nạn, nhưng chưa đến một phần ba trong số họ đang tạm trú tại các khách sạn.

    Bộ Nội vụ cho biết số lượng người xin tị nạn được cung cấp chỗ ở tại các khách sạn chỉ hơn 32.000 người vào cuối tháng 6. Con số này tăng 8% so với khoảng 29.500 người một năm trước đó nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với mức đỉnh điểm hơn 56.000 người vào tháng 9 năm 2023.

     Chính trị

    Nhiều chính trị gia, chẳng hạn như Nigel Farage, lãnh đạo đảng Cải cách Anh cực hữu, đã tìm cách liên hệ nhiều vấn đề mà đất nước đang phải đối mặt, chẳng hạn như chăm sóc sức khỏe và nhà ở, với làn sóng người di cư.

    Những người khác, bao gồm cả chính phủ, cho rằng những người như Farage đang thổi phồng vấn đề này để trục lợi chính trị và không có câu trả lời dễ dàng nào cho một vấn đề đang ảnh hưởng đến nhiều quốc gia châu Âu.

     Lãnh đạo Đảng Bảo thủ đối lập chính, Kemi Badenoch, đã kêu gọi các hội đồng Bảo thủ trên khắp đất nước khởi kiện tương tự như vụ kiện Epping nếu tư vấn pháp lý của họ cho phép.

     Đảng Lao động cầm quyền đã bác bỏ lời kêu gọi của bà là “vô nghĩa và đạo đức giả”, nhưng một số hội đồng do Đảng Lao động lãnh đạo cũng cho rằng họ cũng có thể khởi kiện các khách sạn tị nạn trong khu vực của mình.

     Điều đáng lo ngại là căng thẳng có thể bùng phát thành bạo lực như đã tàn phá nhiều thị trấn và thành phố ở Anh mùa hè năm ngoái sau vụ tấn công bằng dao tại một lớp học khiêu vũ khiến ba bé gái thiệt mạng và nhiều người bị thương.

     Các lựa chọn của chính phủ

     Ưu tiên hàng đầu của chính phủ là giảm mạnh số lượng các vụ vượt eo biển Manche nguy hiểm.

     Bộ Nội vụ cho biết đã có hơn 27.000 người nhập cư trái phép vào Anh từ đầu năm đến nay, cao hơn gần 50% so với cùng kỳ năm ngoái và cao hơn con số cùng kỳ năm 2022, khi con số kỷ lục 45.755 người đã cập bờ.

     Sau khi từ bỏ kế hoạch của chính quyền Bảo thủ nhằm đưa những người di cư đến Rwanda bằng các phương tiện trái phép, Thủ tướng Keir Starmer cho biết chính phủ của ông sẽ ngăn chặn các băng nhóm kiếm lời từ nạn buôn người di cư.

    Chính phủ cũng đang tìm cách đẩy nhanh quá trình xử lý đơn xin tị nạn. Chính phủ hy vọng một thỏa thuận với Pháp về việc đưa những người di cư vượt eo biển Manche trở về Pháp sẽ răn đe những người khác.

     Cho dù những kế hoạch đó có thành công hay không, vấn đề vẫn còn đó: phải làm gì với hàng chục ngàn người xin tị nạn trong nước.

     Đầu năm nay, chính phủ đã hủy bỏ việc sử dụng xà lan để chứa người di cư ngoài khơi bờ biển phía Nam và dự kiến ​​sẽ ngừng cung cấp nhà ở tại các doanh trại quân đội ở Kent vào tháng tới. Tuy nhiên, một căn cứ không quân cũ ở Essex dự kiến ​​sẽ bổ sung thêm giường cho nam giới xin tị nạn.

     Lựa chọn dễ dàng nhất có lẽ là cung cấp nhà ở cho người xin tị nạn trong khu vực tư nhân, nhưng điều đó có nguy cơ làm trầm trọng thêm các vấn đề trên thị trường cho thuê ở một quốc gia mà hoạt động xây dựng nhà ở đã ở mức thấp trong nhiều năm.

    Phóng viên Danica Kirka của Associated Press đã đóng góp cho bài viết này.

    Nguồn: https://search.yahoo.com/yhs/search?hspart=mnet&hsimp=yhs-001&type=type9099612-spa-3503-84593&param1=3503&param2=84593&p=UK+migrant+protests+spark+angry+confrontations+as+government+scrambles+to+respond+

    Thái Cát Thân Trọng Tuấn (VH-LVC) trích NGÀY XƯA THẬT GẦN – chuyển từ California ngày 25 tháng 8 năm 2025. Thêm vài tấm ảnh liên uan – Xin tùy ý sử dụng.

  • NGƯỜI THẦY

    Nguyễn Văn Dòa (LH-HTK)

    (Chuyện kể cuộc đời dạy học PTTH Hải Lăng)

    1& GIAN NAN

    Lớp 11A nổi tiếng vang,

    Học trò nghịch ngợm hoang đàng đánh nhau.
    Trong lớp Nam đứng hàng đầu,
    Nói năng thô thiển lo âu cô thầy.
    Học hành chẳng chút miệt mài,

    Bài vở lơ đễnh, ngày dài lãng quên.
    Nhưng Nam có chút tài riêng,
    Thể thao xuất sắc, sân trường là vua.
    Bóng đá cậu rất tài hoa,

    Mỗi lần ra trận như là ngôi sao.
    Thầy Minh chẳng nỡ trách nào,
    Nhìn sâu ánh mắt, thầy đau trong lòng.
    Bởi thầy hiểu, giữa mênh mông,

    Hoang tàng chỉ bởi vương mang chuyện sầu?
    Chẳng ai thấu hiểu nỗi đau,
    Học trò lạc lối giữa bao lạnh lùng.
    Gia đình tan vỡ mịt mùng,
    Tuổi thơ thiếu vắng tình thương ngập tràn.

    Thầy Minh chẳng mắng trách than,
    Lặng nhìn ánh mắt chứa chan nỗi buồn.
    Bóng đá là ánh sáng luôn,
    Thầy đưa cậu bước qua muôn ngại ngần.

    Trên sân cỏ, cậu dần quen,
    Tinh thần đồng đội mà quên thân mình.
    Cúp vàng ghi dấu niềm tin,
    Cậu tìm ý nghĩa trong từng ngày qua…

    2& LẦM LỠ

    Nhà nghèo mẹ yếu chân què,
    Cha đi biền biệt chẳng về từ lâu.
    Túp lều gió lộng mái sau,
    Soon nồi lạnh ngắt, cơm đâu tháng ngày?

    Nam buồn nhìn cảnh tàn phai,
    Áo sờn vai rách, đôi giày thủng đinh.
    Bạn bè sách vở tinh tinh
    Còn Nam bụng đói một mình lẻ loi.

    Lắm khi thèm chút cơm xôi,
    Nhưng nhà chẳng có lấy nồi gạo khô.
    Lỡ tay trộm chiếc xe thồ,
    Nào ngờ bị bắt tội to rõ ràng.

    Thầy Minh chẳng nỡ trách Nam
    Tìm về tận xóm hỏi hàng chuyện xưa.
    Mẹ ngồi nước mắt như mưa,
    Lòng thầy xót dạ, lòng chưa nỡ rời.

    3& TRỞ VỀ

    “Đời em còn đó sáng ngời,
    Sai lầm sửa lại, con thời đừng lo.
    Học hành cố gắng chăm lo
    Ngày mai tươi sáng, thầy trò vững tin.”

    Người thầy tận tụy sớm hôm,
    Học trò lạc lối xa xăm tìm đường.
    Nam khi xưa vốn ngang tàng
    Cuộc đời bất hạnh, lòng buồn chán chê.

    Thầy Minh chẳng nỡ bỏ bê,
    Kiên trì dẫn lối, chẳng hề buông tay.
    Chuyển trường mới, tạo tương lai,
    Động viên, hướng dẫn mỗi ngày chẳng quên.

    Nam dần hiểu giá trị thêm
    Học hành chăm chỉ, vượt lên chính mình.
    Chọn ngành lâm nghiệp chân tình,
    Quyết tâm gầy dựng bóng hình quê hương.

    Qua bao năm tháng dặm trường,
    Giám đốc lâm nghiệp trồng rừng hôm nay.
    Tạo việc làm, giúp bao tay,
    Lao động nghèo khó tháng ngày ấm no.

    Hôm qua hội lớp gặp trò
    Nam cúi đầu nói: “Nếu không có thầy…
    Con đâu có biết ngày mai
    Vẫn là cậu bé lạc ngay đường đời.”

    Thầy Minh chỉ mỉm cười tươi,
    Niềm vui thầm lặng lòng người nở hoa.
    Tâm người thầy, sáng bao la,
    Tình thương rộng mở đời ta sáng ngời…

    VĂN ĐOÀN (Nguyễn Văn Dòa)

  • THƯ MỤC NGUYỄN ƯỚC (VH-HTK)

    Lớp Việt Hán khóa Huỳnh Thúc Kháng, ĐHSP Huế có nhiều bạn là tác giả nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo văn học,…, đã có nhiều tác phẩm đã xuất bản trong và ngoài nước. Đó là các bạn Vĩnh Quyền, Lê Đình Cương, Nguyễn Ước, Trần Thị Minh (VHU),… Mời các bạn đọc Thư mục sách đã xuất bản của bạn Nguyễn Ước do tác giả chuyển.

    ***

    Trình làng mà ấm lòng. Khoảng sáu chục cuốn; mấy hình đính kèm chỉ tượng trưng. Hí họa Nguyễn Ước mơ “Trăng Huyết” do “bạn vàng hót hay” Nguyễn Trọng Khôi vẽ. Ông Mai Chí Tình là hảo bằng hữu Nguyễn Tôn Nhan (2011, R.I.P.). Bà mụ mát tay nhất là Thất Giáo sư Lê Nguyên Đại (Nhà sách Trẻ/Thời Đại SG); kế đến, Hương Nguyễn (Omega+ HN), và còn nữa… Bạn có thể tìm hiểu thêm trên mạng.

    Nguyễn Ước (VH-HTK)

    oOo

    Cho tới nay, tác phẩm đã phổ biến ở trong lẫn ngoài nước gồm:

    VĂN HỌC:

    – Tội của họ (kịch dài). Đã trình diễn tại Tây Lộc, Huế năm 1965. Vở kịch này bị thất lạc theo biến cố tháng 4.1975.

    – Bài ca người nô lệ mới (thơ)

    – Văn tế Thập loại Chúng sinh của Nguyễn Du (bình chú)

    – Một thời để nhớ (Tuyển tập thơ chung với 10 nhà thơ ở Canada)

    – Cỏ lá ven đường (thơ văn)

    – Trăng huyết (bốn tập, trường thiên tiểu thuyết lịch sử, phóng tác từ cuốn Saigon, với sự chấp nhận và đứng tên đồng tác giả của Anthony Grey, nhà văn Anh.)

    – Về từ cõi chết của Elie Wiesel, (dịch)*: Tập I: Đêm; Tập II: Rạng sáng; Tập III: Tai nạn .

    – Máu Hồng y của Brian Moore, (dịch)*

    – Một hồ sơ Chủ nghĩa Hậu hiện đại (biên khảo)

    – Truyện Tì bà của Nguyễn Bính, (sưu khảo và chú thích)*

    – Kho tàng Truyện Dân gian Do Thái, I & II & III (biên soạn và tuyển dịch)*

    – Truyện Dân gian Do Thái*

    TÔN GIÁO:

    – Giáo lý mới Thời đại mới: Đức tin Công giáo, Sách Giáo lý năm 1965 của HĐGM Hà Lan, (dịch)*

    – Chân dung một Giáo hoàng, (tuyển dịch)

    – Đức Giê-su: Cuộc đời và Thời đại, (dịch)*

    – Chuyện Kinh thánh, của Pearl Buck, (dịch)*

    – Chuyện Người hành hương, (dịch và chú giải)*

    – Cẩm nang Sống Thiền (biên soạn)*

    – Chuyện Tân Ước*

    – Chuyện thời Tân Ước*

    – Ngụy Phúc âm Gia-cô-bê

    – Đạo Cao đài và pháp nạn (biên soạn với Đức Giáo sư Ngọc Sách Thanh)

    ĐẠO HỌC VÀ TRIẾT HỌC:

    – Krishnamurti: Cuộc đời và Lời giảng, (biên dịch)*:

    Tập I: Đời không tâm điểm

    Tập II: Dòng sông thanh tẩy

    Tập III: Krishnamurti Tinh yếu

    – Đại cương Triết học Đông phương (biên soạn)*

    – Đại cương Triết học Tây phương (biên soạn)*

    – Các chủ đề Triết học (biên soạn)*

    – Kahlil Gibran toàn tập, (biên dịch và hợp tuyển)*:

    Gồm 25 cuốn, in thành 20 tập

    * Bí ẩn trái tim

    * Chuyện người phiêu lãng & Cát biển và bọt sóng

    * Định mệnh thi sĩ & Đám rước

    * Đôi cánh tư tưởng

    * Giêsu Con của Con người

    * Giọt lệ và nụ cười

    * Gương soi linh hồn

    * Hoài vọng phương Đông

    * Mật khải

    * Mây trên đỉnh núi & Kẻ mộng du

    * Ngôn sứ (Kẻ tiên tri)

    * Nhã ca tình yêu

    * Sương bụi phù hoa

    * Tâm linh toàn mãn

    * Tiếng nói bậc tôn sư

    * Tiếng vô thanh & Người tình vĩnh cửu

    * Tình yêu tận hiến

    * Trầm tưởng

    * Uyên ương gãy cánh

    * Vườn ngôn sứ & Thần linh trần thế

    TỪ ĐIỂN

    Từ điển Triết học và Tôn giáo Anh Việt (chưa in)

    XÃ HỘI VÀ CHÍNH TRỊ:

    – Hiến chương Nhân bản năm 2000 (dịch)*

    – Kinh nghiệm Toàn trị tại Trung Quốc (tuyển dịch)

    – Nhân 60 năm thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc (tuyển dịch)

    ĐIỆN ẢNH:

    – Sống ở Huế (1973, cùng thực hiện với Đạo diễn Bùi Xuân Quang, Paris)

    NGHỀ NGHIỆP:

    – Sổ tay Phân kim (1983)

    Những cuốn có đánh dấu * đã được xuất bản và phát hành tại Việt Nam do các Công ty Sách tư nhân liên kết với các nhà xuất bản như Văn Học, Văn hóa Thông tin, Lao động, Tôn giáo, Tri thức, Omega+ HN, v.v.

    Nguyễn Ước

  • Chim Sâm Cầm – Loài Chim Quý Hiếm Từ Thiên Nhiên Hoang Dã

    • 15.09.2024

    Chim Sâm Cầm hay còn gọi là “Sâm Cầm” (tên khoa học là Fulica atra), là một loài chim thuộc họ Gà nước (Rallidae), phân bố chủ yếu ở khu vực châu Á và một số vùng châu Âu. Với vẻ đẹp nổi bật và đặc điểm sinh thái độc đáo, loài chim này đã trở thành một biểu tượng tự nhiên đáng chiêm ngưỡng.

    Khám phá chim sâm cầm – loài chim quý hiếm từ thiên nhiên hoang dã

    Được biết đến với khả năng bơi lội giỏi và đặc tính sống bán thủy sinh, thường sống ở các khu vực có nhiều nước như hồ, ao, đầm lầy, và các vùng cửa sông. Ở Việt Nam chúng ta, chim sâm cầm từng xuất hiện nhiều ở Hồ Tây – Hà Nội và một số vùng đầm lầy ở miền Bắc.

    Chim Sâm cầm

    Chim sâm cầm trưởng thành có bộ lông màu đen, đôi khi có ánh xanh nhạt, với chiếc mỏ màu trắng nổi bật. Một đặc điểm dễ nhận biết khác là vệt trắng hình bầu dục trên trán, giúp chúng dễ phân biệt với các loài chim khác. Chúng có một hình thể mảnh dẻ, nhưng có chân dài và móng vuốt khỏe mạnh giúp bám vào thảm thực vật dưới nước.

    Chim sâm cầm.

    Là loài chim di cư, chim sâm cầm thường di chuyển theo mùa từ các khu vực lạnh hơn đến các vùng ấm áp vào mùa đông. Xưa kia, dân gian tương truyền sâm cầm là loài chim bay đến từ dãy núi Trường Bạch – Cao Ly, cũng chính là Hàn Quốc hiện nay, đến Hồ Tây trú ngụ. Theo quan niệm xưa, chim sâm cầm được coi là loài chim mang đến sự may mắn và tài lộc. Bên cạnh đó, vì sự khan hiếm và khó săn bắt, chim sâm cầm trở thành biểu tượng của sự quý hiếm, xứng đáng để làm món ăn chỉ dành cho vua chúa. Điều này càng làm tăng giá trị của món ăn tiến vua. 

    Vai trò trong hệ sinh thái

    Chim Sâm Cầm đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng không chỉ giúp kiểm soát số lượng côn trùng mà còn góp phần vào việc duy trì sự cân bằng sinh thái trong các vùng đất ngập nước. Hơn nữa, sự hiện diện của loài chim này cũng cho thấy tình trạng sức khỏe của môi trường sống, và là một chỉ số quan trọng trong việc bảo tồn thiên nhiên.

    Chim Sâm Cầm không chỉ là một loài chim đẹp mắt mà còn là một phần quan trọng trong hệ sinh thái tự nhiên. Việc bảo tồn môi trường sống của chúng không chỉ bảo vệ loài chim này mà còn bảo vệ sự đa dạng sinh học và cân bằng của hệ sinh thái. Việc tìm hiểu và nâng cao nhận thức về loài chim này là cần thiết để bảo vệ tương lai của chúng trong thiên nhiên.

    Nguồn: https://noritake.vn/blogs/am-thuc/chim-sam-cam?srsltid=AfmBOoocZpratq1wQ9MRrrc6XtidmebFbJocVd1casw-Mx8g0A1wyJ_r

  • Ba Ông Học

    Phạm Văn Duyệt

    Nhiều bậc cha mẹ khi sinh con thường đặt cho quý tử hay ái nữ những cái tên đầy ý nghĩa. Người thì ước mong ngày sau con sẽ công thành danh toại, giúp nước giúp đời hoặc ít ra cũng biết gìn giữ những đức tính tốt trong cư xử giao tiếp với mọi người.

    Hơn trăm năm trước, Cụ Nguyễn Văn Toản, thân sinh Thi Sĩ Hàn Mặc Tử vì muốn con cái tuân theo lời dạy của Đấng Thánh Hiền nên đặt tên cho cả 5 đứa là Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín.

    Trong câu chuyện cô bé được cứu sống trên Đại Lộ Kinh Hoàng năm 1972, Thiếu Úy Trần Khắc Báo nhận cô bé từ tay một chiến sĩ quân cụ. Khi đưa em vào Cô Nhi Viện Đà Nẵng, Ông đặt cho cái tên là Trần Thị Ngọc Bích. Sau đó Cô may mắn được anh lính Mỹ đem về nuôi nấng. Lớn lên Cô gia nhập quân đội Hoa Kỳ và thăng tiến tới cấp Trung Tá Hải Quân, làm rạng danh cho cộng đồng Việt Nam tại xứ người. Đúng là viên ngọc quý như vị cha nuôi này hằng mơ ước.

    Thuở xa xưa cũng vậy. Phải chăng vì mong muốn con chăm lo sách đèn nên nhiều người đặt cho con tên Học. Trong đó có ba nhân tài được ghi danh vào dòng sử Việt. Nhưng lớp hậu sinh đôi khi cũng lầm lẫn giữa Ông này với Ông nọ khiến gây ra những cuộc tranh cải bất hòa đáng tiếc.

    Bài viết này xin mạo muội sơ lược cuộc đời và sự nghiệp của ba danh nhân đó với hy vọng góp phần tránh được những sai sót của một số người.

    1. NGUYỄN THÁI HỌC (1902 –  1930)

    Sinh quán Làng Thổ Tang, Phủ Vĩnh Tường, Tỉnh Vĩnh Yên.

    Tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội rồi học Cao Đẳng Thương Mại tại Trường Đại Học Đông Dương. Thời gian học ở đây Ông thường công khai phản đối hành vi phân biệt miệt thị sinh viên Việt Nam của một số giám thị và giáo viên người Pháp. Được bầu chọn vào chức vụ Lãnh Đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng từ 1927 với chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập cho nước nhà.

    Tuy là Đảng Cách Mạng đầu tiên của cả nước, nhưng đã phát triển nhanh chóng, kết nạp hàng vạn đảng viên thuộc mọi thành phần và lứa tuổi.

    Do tình hình thúc đẩy, Đảng ra lệnh tấn công giặc Pháp khắp nhiều tỉnh thành ở miền Bắc vào tháng 2/1930. Đối phương phản công bằng các phương tiện vượt trội, chúng đưa cả phi cơ thả bom nhiều làng mạc, gây chết chóc cho hàng trăm dân lành.

    Cuộc tổng khởi nghĩa bất thành, hàng ngàn đảng viên bị bắt giam, thủ tiêu hoặc lưu đày đi⁶

    . Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí phải lên đoạn đầu đài sáng sớm ngày 17/06/1930. Đó là Ngày Tang Yên  Báy. Ngay chiều hôm sau, Cô Nguyễn Thị Giang (Cô Giang) – vợ Nguyễn Thái Học đã anh dũng trung kiên tự sát bằng súng lục tại gốc cây đề Làng Đồng Vệ, cách Làng Thổ Tang chừng 1 km, lúc ấy Cô mới 21 tuổi đời. Cái chết của Cô để lại nhiều nỗi nghẹn ngào xúc động thương tiếc trong tâm khảm nhiều người.

    * Danh tính 13 Liệt Sĩ Yên Báy được ghi theo thứ tự lên máy chém:

       1. Bùi Tử Toàn

       2. Bùi Văn Chuẩn

       3. Nguyễn An

       4. Hà Văn Lạo

       5. Đào Văn Nhít

       6. Nguyễn Văn Du

       7. Nguyễn Đức Thịnh

       8. Nguyễn Văn Tiềm

       9. Đỗ Văn Sứ

     10. Bùi Văn Cửu

     11. Nguyễn Như Liên

     12. Phó Đức Chính

     13. Nguyễn Thái Học

    * Bài Thơ Các Anh Đi:

    Các Anh Đi vì dân vì quê Mẹ

    Quyết mong sao đất nước hết xích xiềng

    Nhưng tiếc thay mộng vàng không thành đạt

    Ra pháp trường chẳng khiếp sợ gươm đao

    Mười ba anh ngẩng cao đầu trước giặc

    Bất khuất hiên ngang khí khái anh hùng

    Việt Nam muôn năm Việt Nam vạn tuế

    Đi vào lòng đất Yên Báy nghìn thu

    2. NGUYỄN BÁ HỌC (1857 – 1921)

    Quê Làng Mọc, Huyện Từ Liêm, Hà Nội.

    Hơn 30 năm làm Thầy Giáo mà Cụ tự nhận là Ông Đồ Nghèo. Cụ còn là nhà báo chuyên viết nghị luận những vấn đề về luân lý. Dịch thuật nhiều bài Hán văn và Pháp ngữ đăng trên Nam Phong Tạp Chí. Cụ là một trong vài người đi tiên phong viết truyện ngắn bằng chữ quốc ngữ trong buổi giao thời giữa cũ  – mới giai đoạn đầu thế kỷ 20.

    Cụ là nhạc gia Nhà Cách Mạng Nguyễn Bá Trác (tác giả bài thơ nổi tiếng Hồ Trường) và là anh ruột Bà Nội Nhà Văn Nguyễn Thụy Long (với tiểu thuyết Loan Mắt Nhung).

    Nguyễn Bá Học hưởng thọ 64 tuổi, để lại sự nghiệp văn học đáng kể, trong đó có câu danh ngôn được nhiều người ghi nhớ và truyền tụng: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Ngay tại các quân trường vào những ngày huấn luyện cam go gian khổ, thao trường đổ mồ hôi, người ta vẫn hay mượn lời Cụ răn dạy để động viên nhau không nản chí ngã lòng.

    Khi sinh hoạt đoàn thể, các Hướng Đạo Sinh và Phật Tử cũng thường ca hát bài Đường Đi Không Khó dựa theo lời khuyên của Cụ:

    Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông

    Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông

    Anh em ta ơi!

    Đường trường còn dài còn nhiều gian khó

    Anh em ta ơi! kiên gan kiên gan khó khăn ta vượt qua.

    * Học Giả Phạm Quỳnh viết về Nguyễn Bá Học:

       – “Phải được đến gần Cụ, phải được tiếp chuyện Cụ, phải được nghe những người từng quen biết Cụ, phải được rõ cái cách Cụ tiếp nhân xử thế, khắc kỷ tu thân, mới hiểu được rằng một người như thế mà mất đi là thiệt cho xã hội nước ta biết dường nào”.

       – “Cụ thuở sống không quyền thế, không có chức vụ gì đủ ra oai giáng phúc mà khiến cho người ta phải sợ phải phục. Cụ chẳng qua chỉ có một tấm lương tâm trong sạch, ngoài sáu mươi năm trời giữ gìn được trọn vẹn, cho đến lúc nhắm mắt không còn chút di hận gì, chỉ có thế mà cảm phục được lòng người. Lúc sống được người yêu người kính, lúc chết được người tiếc người thương, không phải vì quyền thế hay là ân uy gì, chỉ vì cái tiết tháo đó mà thôi”.

    Lúc hạ huyệt Cụ, Phạm Quỳnh đọc bài ai điếu:

    “Sau khi trân trọng lĩnh lấy tập cảo Lời Khuyên Học Trò ở tay Cụ, về đọc một lượt, bất giác có cái cảm khái vô hạn, mới biết sách này tuy văn thể bình thường, mà thật là lời tâm huyết của một người tiền bối muốn truyền lại cho kẻ hậu sinh cái tâm thuật ở đời.

    Từ đấy, cứ cách vài tháng, Cụ lại gởi cho mấy bài đoản thiên tiểu thuyết, toàn là ngụ ý răn đời, lập ý đã hay, lời văn lại nhã. Tôi thường nhận được thư ở các nơi, tất cả đều đồng thanh mà khen rằng: Nguyễn Tiên Sinh không những là một bậc đạo đức mô phạm, mà thật là một tay văn sĩ có tài”.

    Bài Thơ Nhớ Ơn Thầy

    Thầy dạy con chớ quản điều gian khó

    Lội suối băng đèo trèo núi vượt sông

    Chướng ngại ấy chỉ toàn là chuyện nhỏ

    Nếu như con biết giữ vững tấc lòng

    Đường đi cho dù nguy nan hiểm trở

    Cũng đừng bao giờ nhụt chí thối lui

    Quyết tiến tới chẳng ngại ngần than thở

    Há sợ phong ba bão táp dập vùi

    Lời Thầy khuyên con mãi hằng ghi nhớ

    Cố gắng lên với công việc mỗi ngày

    Danh ngôn ấy là một lời nhắc nhở

    Xin khắc sâu tạc dạ nghĩa ân Thầy.

    3. NGUYỄN VĂN HỌC hay TRẦN VĂN HỌC?

    Theo Wikipedia, Trần Văn Học là Võ Tướng triều Nguyễn, lại có biệt tài vẽ hoạ đồ.

    Tập sách Việt Nam Liệt Biên Chính Truyện cho hay thoạt đầu Ông được Giám Mục Bá Đa Lộc tiến dẫn vào yết kiến Chúa Nguyễn Phúc Ánh. Nhờ giỏi chữ quốc ngữ và tiếng Latinh nên Ông được Chúa trọng dụng, giao cho trọng trách thông ngôn và dịch thuật văn thư.

    Ngoài ra Ông còn giúp chế tạo nhiều loại chiến cụ, binh khí, địa lôi cũng như đóng tàu thuyền. Ông từng chỉ huy những đội tàu thuyền này đánh lại quân Tây Sơn.

    Với vô số công trạng lớn lao đó, Ông được Vua Gia Long ban thưởng chức Cai Cơ rồi Giám Thành Khâm Sai Chưởng Cơ,  một tước vị lớn trong hàng tướng lãnh.

    Sau hơn 10 năm trị vì, Vua Gia Long bắt đầu phân chia sắp xếp địa hình các tỉnh thành. Năm 1815, Ông được Vua giao phó vẽ bản đồ Gia Định theo phong cách Tây Phương.

    Sau đó Vua Minh Mạng lại truyền lệnh Ông vẽ bản đồ các trấn của thành Gia Định cho đến địa giới Chân Lạp. Tiếc thay công việc chưa thành thì Ông quy tiên. Sử sách không cho biết Ông sinh và mất vào những năm nào.

    Đến năm 1925, Viện Viễn Đông của Pháp liệt Lăng Trần Văn Học an táng tại xã Bình Hòa Gia Định vào hàng thứ 9 trong số các di tích của miền Nam Việt Nam.

    Trên mộ bia, Ông H. Mauger, Quản Thú Viện Bảo Tàng Saigon cho khắc ghi hàng chữ “Tombeau du maréchal Nguyễn Văn Học” (Lăng Mộ Tướng Nguyễn Văn Học).

    Khi truy cứu trong Việt Nam Liệt Biên Chính Truyện thì không ai thấy tên Nguyễn Văn Học mà chỉ có Giám Quan Trần Văn Học.

    Dưới thời Nhà Nguyễn, một số người vào sinh ra tử, đóng góp nhiều công trạng hiển hách được Vua ban quốc tính đổi thành họ Nguyễn, như trường hợp Tướng Thạch Duông là người Khmer đã một đời trung thành theo Vua Gia Long lập nên nhiều chiến công lừng lẫy, được Vua cho đổi tên là Nguyễn Văn Tồn.

    Riêng Ông Trần Văn Học thì không nghe được ân sủng này.

    Theo Nhà Khảo Cổ Học Nghiêm Thẩm, chuyện lầm lẫn Họ của hai Ông Học này có lẽ xuất phát từ chỗ Ông Mauger cho ghi tên Nguyễn Văn Học trên mộ bia sau khi nghe theo lời của cư dân quanh vùng mà do quá lâu, gần cả trăm năm nên họ có thể nhớ lầm.

    ■ Chuyện Phiếm những địa danh xung quanh bệnh viện Nguyễn Văn Học: chỉ cách bệnh viện vài ba cây số mà có lắm chuyện xưa tích cũ. Xin kể ra đây để quý độc giả cùng ôn lại một thời dĩ vãng của năm mươi năm về trước.

       ● Tòa Hành Chánh Tỉnh Gia Định: là nơi tác giả Em Là Gái Trời Bắt Xấu tức nữ sĩ Lệ Khánh đã vì tiếng gọi ái tình mà xin thuyên chuyển từ Tòa Thị Chính Đà Lạt về đây làm việc văn phòng trong vài năm cuối của Việt Nam Cọng Hòa.

    Sau 1975, đời Bà trở nên lận đận truân chuyên, xuôi ngược suốt ngày mà không nuôi nổi đứa con thơ. Trong khi đó, Người bạn tình là Trung Tá nhạc sĩ Thục Vũ chết vùi thây chốn núi rừng hoang vu Hoàng Liên Sơn từ 1976. Mãi đến năm 1988 Bà đã lặn lội ra tận nơi đây đưa di cốt chồng về lại Sài Gòn.

       ● Nhà Tù Phan Đăng Lưu: đối diện Chợ Bà Chiểu, sát Tòa Hành Chánh Tỉnh Gia Định. Nơi đây giam nhốt các chức sắc tôn giáo, thành phần phục quốc, vượt biên… Nhiều văn nghệ sĩ nổi danh từng bị biệt giam tại chốn ngục tù này như Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Hoàng Hải Thủy, Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường…

       ● Trường Nữ Lê Văn Duyệt: dạy học sinh từ đệ thất tới đệ nhất. Ca Sĩ Sơn Ca xuất thân từ ngôi trường thân yêu này. Ai lớn lên thời Saigon hoa lệ mà không từng say sưa nghe đôi song ca vàng Sơn Ca Bùi Thiện với những bài hát Đưa Em Qua Cánh Đồng Vàng, Tình Ca Trên Lúa, Rước Tình Về Với Quê Hương…

       ● Lăng Ông Bà Chiểu hay Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt. Nơi an táng mộ phần của Tổng Trấn Gia Định Thành Lê Văn Duyệt và phu nhân Đỗ Thị Phận. Đây là nơi chốn linh thiêng bậc nhất của Saigon. Hằng năm đón tiếp rất  nhiều người đến xin xăm rút quẻ để cầu mong sức khỏe, giải trừ bệnh tật.

       ● Đường Bùi Hữu Nghĩa: chạy dọc từ Đakao về hướng Chợ Bà Chiểu: là nơi tình tự một thời hoa mộng của Nhạc Sĩ Trường Sa.

    Trước 1975, tuy đã có gia đình nhưng Ông vẫn đong đầy tính lãng mạn của người nghệ sĩ. Nhờ vậy mà Ông hay lui tới con đường tình ta đi này. Rủi thay miền Nam mất, Ông đã tới đảo Guam nhưng rồi trở về để bị lao tù gần 10 năm.

    Sau khi được thả ra, người nhạc sĩ đa tình đa cảm vội tìm lại chốn xưa thì hỡi ôi chẳng còn hình bóng cũ, không biết lưu lạc phương trời nào.

       ● Hàng Xanh (còn gọi là Hàng Sanh): Nơi xảy ra trận Mậu Thân khốc liệt. Tướng Nguyễn Ngọc Loan đã bắn chết tên đặc công Việt Cộng ngay tại chiến trường này vì y sát hại dã man cả gia đình Trung Tá Thiết Giáp Nguyễn Tuấn gồm vợ chồng, 5 con dại và Mẹ già.

    Lúc ấy ký giả Eddie Adams kịp thời chụp được tấm hình này rồi tung ra truyền thông quốc tế, gây xôn xao chính trường Mỹ.

    Điều kỳ diệu là bé Nguyễn Từ Huấn, đứa con duy nhất thoát nạn. Sau đó qua Mỹ, tốt nghiệp nhiều trường đại học rồi gia nhập quân ngũ. Hiện nay là Phó Đề Đốc Hải Quân Hoa Kỳ.

       ● Đồng Ông Cộ: chỉ cách Tòa Tỉnh Trưởng Gia Định 3 km. Cũng trong trận Mậu Thân, Trung Tá Phan Văn Xướng đã đưa cả trung đoàn Cửu Long ra hồi chánh theo tiếng gọi “tung cánh chim tìm về tổ ấm”, trong đó có cả hai ca sĩ tài danh Bùi Thiện và Đoàn Chính.

       ● Nghĩa Trang Hạnh Thông Tây: trên đường từ Gò Vấp trở về sau khi thăm viếng hàng ngàn mộ phần chiến sĩ hy sinh vì đất nước, dưới cơn nắng gay gắt của mùa hè nhiệt đới, Điêu Khắc Gia Nguyễn Thanh Thu ghé vào quán nước bên đường, tình cờ gặp anh quân nhân đang ngồi uống ly bia mà lại như thể muốn tâm sự chuyện trò với người bạn trước mặt chỗ có để ly bia khác nhưng không một ai ngồi.

    Thấy dáng vẻ trầm tư mặc tưởng với nỗi buồn vời vợi, Anh Thu xích lại gần hỏi chuyện. Biết tên anh ta là Võ Văn Hai thuộc binh chủng Nhảy Dù.

    Cơ duyên mầu nhiệm này đưa đẩy Anh lính trở thành hình tượng của Bức Tượng Thương Tiếc lừng lẫy một thời trên xa lộ Biên Hòa.

    Lời kết: Sau khi đọc qua tiểu sử tóm tắt của ba danh nhân trùng tên Học, hy vọng không một ai còn lẫn lộn Vị này với Vị kia để tránh đi mọi phiền toái lôi thôi.

    Phải nắm chắc rằng Nguyễn Thái Học là nhà cách mạng, Đảng Trưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng, bị thực dân Pháp xử bắn tại Yên Báy.

    Còn Nguyễn Bá Học là Thầy Giáo viết báo viết văn, để lại cho đời câu danh ngôn bất hủ: Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông. 

    Và Nguyễn Văn Học hay Trần Văn Học là Võ Tướng đầu triều Nguyễn, giỏi quốc ngữ và tiếng Latinh cùng biệt tài vẽ bản đồ.

    Mỗi người một lãnh vực, không thể nào lầm lẫn được.

    Phạm Văn Duyệt

    Nguồn: https://hon-viet.co.uk/PhamVanDuyet_BaOngHoc.htm

    (Phan Nữ Lan giới thiệu)

  • Bạn có thể đánh giá một nhà lãnh đạo qua lời nói, hoặc bạn có thể đánh giá qua hành động?

    Truyền thông có thể bóp méo lời nói của bạn.

    Kẻ thù có thể bôi nhọ tên tuổi bạn.

    Nhưng cách bạn đối xử với mọi người khi không ai nhìn thấy thì sao? Điều đó không thể bịa đặt.

    By : Ken Blackwell – Aug 10 , 2025

    Ngày 14 tháng 6 năm 1946 — một cậu bé chào đời tại khu phố Jamaica ở Queens, New York.

    Cậu bé lớn lên sẽ trở thành một trong những người đàn ông được biết đến nhiều nhất trên thế giới.

    Nhưng những câu chuyện cho thấy con người thật của cậu lại là những câu chuyện mà máy quay không bao giờ bận tâm đến.

    1995: Cậu bé đang lái xe qua New York thì xe bị xịt lốp. Một người đàn ông da đen đi ngang qua nhận thấy người lái xe mặc vest nên dừng lại giúp đỡ.

    “Tôi có thể đền ơn ông bằng cách nào?” người đàn ông đến từ Queens hỏi.

    “Vợ tôi luôn muốn có hoa”, người lạ mặt nói.

    Vài ngày sau, vợ của người đàn ông đó nhận được một bó hoa tuyệt đẹp… kèm theo một lời nhắn:

    “Cảm ơn ông đã giúp tôi. Nhân tiện, khoản thế chấp của ông đã được trả hết rồi.”

    Không báo chí. Không chụp ảnh. Chỉ là một hành động hào phóng riêng tư.

    Một trung sĩ Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ bị mắc kẹt trong cơn ác mộng — bảy tháng tù giam ở Mexico vì một tội danh nhẹ. Anh bị đánh đập và lạm dụng. Khi cuối cùng anh về nhà, một người đàn ông đến từ Queens gửi cho anh 25.000 đô la “để giúp anh bắt đầu lại”.

    Một tài xế xe buýt da đen phát hiện một phụ nữ trẻ sắp nhảy cầu.

    Anh tấp vào lề, thuyết phục cô ấy dừng lại và cứu mạng cô.

    Một tuần sau, anh mở hộp thư và thấy một tấm séc trị giá 10.000 đô la từ người đàn ông đến từ Queens — chỉ để nói “cảm ơn vì đã là một anh hùng”.

    Con trai của một giáo sĩ Do Thái đang trong tình trạng nguy kịch ở New York và cần được chăm sóc khẩn cấp ở California. Không hãng hàng không nào muốn đưa cậu bé đi vì tình trạng của cậu.

    Người đàn ông đến từ Queens lặng lẽ trả tiền cho một chiếc máy bay riêng để đưa cậu bé đi khắp đất nước điều trị.

    Và đây chỉ là những câu chuyện chúng ta biết. Còn vô số câu chuyện khác nữa — những “hành động tử tế lặng lẽ ngẫu nhiên” được thực hiện mà không có phóng viên nào có mặt, không có lợi ích chiến dịch, không lợi ích cá nhân.

    Đó là điều mọi người bỏ lỡ khi họ để chính trị làm lu mờ phán đoán của mình. Vấn đề không phải ở những bài diễn văn, khẩu hiệu hay những câu nói sáo rỗng. Vấn đề ở đây là tính cách.

    Một người đàn ông khôn ngoan đã từng nói:

    “Nếu một người có tấm lòng tốt, thì chẳng còn gì quan trọng nữa.

    Nếu một người có tấm lòng xấu, thì chẳng còn gì quan trọng nữa.”

    Người đàn ông trong những câu chuyện này là Donald J. Trump.

    Không phải là hình ảnh biếm họa của truyền thông. Không phải là bao cát chính trị.

    Người đàn ông đích thực — người đã giúp đỡ người lạ hàng thập kỷ khi chẳng ai để ý.

    Bạn có thể đánh giá một nhà lãnh đạo qua lời nói, hoặc bạn có thể đánh giá qua hành động.

    Và khi nói đến Donald Trump… hành động của ông ấy tự nói lên tất cả.

    P/S theo sưu tầm trên internet